>>> LỊCH SỬ Đạo Phật

ĐÔI NÉT PHÁT TRIỂN
PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ VIỆTNAM

Tỳ kheo Thiện Minh

1. Từ lúc thành lập cho đến năm 1975

Trong khoảng thời gian này Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam đang thiết lập một nền truyền thống đạo Phật mới có phong cách đặc thù so với truyền thống đạo Phật Việt Nam đương thời. Vì mới thiết lập nên các vị Hòa thượng trong phái đoàn truyền đạo của Hòa thượng Hộ tông rất bận rộn đối phó nhiều vấn đề liên quan với sự giao tiếp với các tôn giáo và các hệ phái đương thời và quần chúng Phật tử. Một mặt, các nhóm tôn giáo bạn cố tình chèn ép bằng nhiều cách không muốn cho Phật giáo Nguyên thủy truyền đạo tại Việt Nam và một mặt khác, quần chúng Phật tử Việt Nam đa phần chịu ảnh hưởng sâu đậm của đạo Phật Bắc tông, vì thế khi tiếp xúc với đạo Phật Nguyên thủy, họ cảm thấy bởi ngỡ từ các nghi thức cho đến cách ăn mặc, thọ thực hoàn toàn không giống như truyền thống đạo Phật mà họ đã quen thuộc.

Qua cả một quá trình phấn đấu liên tục, các vị Hòa thượng tiền bối mới tổ chức được các buổi thuyết giảng Phật pháp đều đặn, trước tác và dịch thuật kinh điển để phổ biến cho quần chúng Phật tử hiểu được đạo Phật Nguyên thủy. Bên cạnh đó, các vị cũng tập họp truyền giảng cho kiều bào Campuchia và có những liên hệ ngoại giao gặp gỡ các giới lãnh đạo Phật giáo Nguyên thủy trên thế giới để được hỗ trợ cho trong công cuộc hoằng pháp tại Việt Nam.

Khi tình hình tạm ổn thì chiến sự xảy ra, rồi bị chế độ Nhu Diệm đàn áp Phật giáo nói chung và Phật giáo Nguyên thủy nói riêng. Mặc dù Phật giáo Nguyên thủy trong giai đoạn đầu gặp vô vàn trở ngại nhưng nói chung, phát triển rất hưng thịnh. Trong thời gian nầy, cả Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam lẫn Tổng hội Cư sĩ hoạt động rất có hiệu quả.

a. Xuất bản kinh sách

Xuất bản kinh sách là một công tác rất quan trọng trong việc hoằng pháp, để truyền bá tư tưởng Phật giáo, giúp quần chúng thông hiểu Giáo pháp. Thấy được tầm quan trọng đó, phái đoàn truyền đạo của Hòa thượng Hộ tông đã thành lập Ban Phiên dịch Kinh điển và tạp chí ÁNH SÁNG PHẬT PHÁP được xuất bản lần đầu tiên tại tổ đình Sùng Phước ở Nam Vang. Khi đạo Phật Nguyên thủy được vững mạnh ở Việt Nam, các vị vẫn liên tục trước tác, dịch thuật nhiều kinh điển từ nguồn Pàli và các sách từ các nguồn ở nước ngoài sang Việt ngữ.

Chính nhờ tạp chí Anh Sáng Phật Pháp và các kinh điển dịch thuật, các sách trước tác trên đã gây ảnh hưởng rất lớn trong giới trí thức, sinh viên và Phật tử. Nhờ vậy, người Việt Nam dần dần thâm nhập giáo pháp của đạo Phật Nguyên thủy. Tù đó, có nhiều vị cư sĩ nhờ đọc kinh điển và tạp chí, quyết định xuất gia tu học để truyền bá chánh pháp. Điểm hạn chế trong giai đoạn này là các vị tiền bối chưa khai thác đúng mức phần dịch thuật Tam Tạng lẫn Chú giải kinh điển hệ Pàli, có lẽ vì không đủ thời gian, và các vị chỉ muốn chọn những kinh điển cần thiết để đáp ứng nhu cầu Phật tử trong giai đoạn đầu.

Trong giai đoạn nầy, có hơn 120 tác phẩm dịch thuật lẫn trước tác với nhiều chủ đề khác nhau, nhưng thường xoay quanh vào ba thể loại chính: kinh để tụng niệm, giáo lý căn bản và từ điển Pàli. Các vị tác giả, dịch giả tiêu biểu: quí vị Hòa thượng Hộ Tông, Bửu Chơn, Giới Nghiêm, Tịnh Sự, Hộ Giác, và quý vị cư sĩ Huỳnh Văn Niệm, Trùng Quang, Hồ Đắc Thăng, Phạm Kim Khánh, v.v.

b. Gửi Tăng ni đi du học

Từ khi Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam được chính thức công nhận, các vị Hòa thượng có thêm điều kiện dễ dàng để hoạt động Phật pháp trong nước và ngoài nước. Trong nước, quý ngài tổ chức cho giới tử xuất gia Tỳ kheo, Sa di vàTu nữ để đào tạo tăng tài cho thế hệ sau. Ngoài nước, quý ngài liên hệ với các Giáo hội Phật giáo Nam tông trên thế giới để xin học bổng, gửi chư Tăng Việt Nam đi du học. Đây là việc làm rất hữu ích và có giá trị lâu dài trong tương lai. Muốn Giáo hội mạnh thì cố nhiên phải có nồng cốt chư Tăng học thức cao mới có khả năng phát huy mọi mặt cho Giáo hội về lãnh vực giáo dục, hoằng pháp, nghi lễ, v.v… đồng thời, việc làm trên lại tạo được mối quan hệ tốt với chư Tăng Nam tông trên thế giới. Sau đây là các vị được Giáo hội gửi đi du học:

- Đại đức Kim Triệu, Dũng Chí, Pháp Nhẫn, Tâm Lực, Nguyệt Quang du học Ấn Độ.

- Đại đức Kim Quang, Giác Minh, Tịnh Giác, Hộ Pháp, Tịnh Đức, Chơn Trí, Thiện Dũng, Trí Minh du học Thái Lan.

- Đại đức Hộ Nhẫn, Sư cô Diệu Đáng du học Miến Điện.

- Đại đức Đức Minh, Giác Tuệ du học ở Pháp.

Như vậy có hơn 15 vị Đại đức được gửi du học ở Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện, Pháp và Tích Lan. Những vị này có trình độ Phật học tương đối cao ở Việt Nam nên tiếp thu dễ dàng các kiến thức mới khi sang du học ở nước ngoài. Tất cả đều thành công và hoàn thành học vị theo nguyện vọng của Giáo hội. Điều đáng tiếc do hoàn cảnh xã hội Việt Nam thời đó nên có vị học xong không muốn về nước, trái lại tiếp tục đi tu học tại những nước khác. Mặc dù vậy. các vị đó rất thành danh trong việc hoằng pháp ở xứ lạ như ở Pháp, Mỹ, Thái Lan. Còn những vị trở về nước thì kết hợp với các vị Hòa thượng tiền bối để hoằng pháp, giáo dục đào tạo thế hệ tăng trẻ Việt Nam. Tuy nhiên các Phật sự này chỉ thành công tuyệt đối ở giai đoạn đầu, còn giai đoạn giữa và cuối thì thưa và mất dần. Lý do là vì chiến tranh liên tục diễn ra, một số các vị tu sĩ hoàn tục và thêm vào đó, những vị Hòa thượng lãnh đạo Phật giáo Nam tông đột ngột viên tịch quá sớm.

c. Mở Phật học viện

Do nhu cầu Tăng chúng mỗi ngày một đông, và với nhiều vị đã tốt nghiệp Tiến sĩ từ Ấn Độ về nước, Giáo hội nhận thấy đã đến lúc cần phải mở những Phật học viện để đào tạo thế hệ tăng tài để kế thừa. Cho nên các Phật học viện Pháp Quang, Phật Bảo, Nam tông và Nguyên Thủy được thành lập. Giám đốc những Phật học viện trên đa phần là những vị đã tốt nghiệp Tiến sĩ như Đại đức Dũng Chí, Đại đức Thiện Giới.

Về việc thành lập Phật học viện Sơ đẳng, Trung đẳng phải do Trưởng ban Văn hóa Giáo dục ký quyết định, đồng thời chiếu đề nghị của ban giám đốc địa phương. Muốn thành lập Phật học viện Cao đẳng phải được Hội đồng Văn hóa Giáo dục chấp thuận và được đứ c Tăng thống GHTGNTVN ký quyết định. Phải có quần chúng Phật tử địa phương ủng hộ, có cơ sở hội đủ tiện nghi cần thiết, số tăng ni sinh tối thiểu 20 vị, địa điểm phải thuận lợi cho việc tu học, đương đối yên tỉnh gần cơ sở hoằng pháp và giáo dục. Phải có văn bằng Tiến sĩ Phật học mới mở được Cao đẳng Phật học, có tốt nghiệp Cao đẳng Phật học mới mở được Trung đẳng Phật học, có tốt nghiệp Trung đẳng Phật học mới mở được Sơ đẳng.

Chương trình đào tạo các lớp sơ đẳng có thời gian 3 năm. Trung đẳng cấp một có thời gian 4 năm, trung đẳng cấp hai chuyên khoa có thời gian 3 năm, trung đẳng cấp hai phổ thông có thời gian 3 năm. Cao đẳng Phật học cấp cử nhân đào tạo trong 4 năm, cao đẳng cấp Cao học đào tạo vừa học và vừa soạn luận án mất 2 năm, cao đẳng cấp Tiến sĩ đào tạo vưà học và soạn luận án Tiến sĩ mất thời gian 2 năm.

Trong ba cấp học trên, học viên phải học căn bản nội điển và ngoại. Về nội điển, phải học Kinh học, Luật học, Sử học, Pàli học. Về ngoại điển, phải học sinh ngữ, cổ ngữ, Việt văn và triết học. Về cơ bản giáo dục dựa trên hai phương diện nội điển và ngoại điển, và những môn học thì giống nhau nhưng khác nhau theo từng đẳng cấp Sơ, Trung và Cao.

Tóm lại, về mặt tổ chức và chương trình giảng dạy rất quy mô theo hệ thống giáo dục các Phật giáo Nam tông trên thế giới. Giáo sư giảng dạy là những vị tốt nghiệp tiến sĩ, tốt nghiệp ở Việt Nam và thỉnh thoảng thỉnh những vị giáo sư nước ngoài như ở Tích Lan Miến Điện v.v… Nói chung, các Phật học viện hoạt động rất tích cực và khả quan, đào tạo nhiều vị tăng tài cho Giáo hội. Mặc dù chỉ tốt nghiệp trung đẳng Phật học, nhưng trên nền tảng đó, Giáo hội gửi sang Đại Học Vạn Hạnh và du học nước ngoài để các vị tiếp tục con đường tu học.( xin xem thêm các điều lệ của chương trình giáo dục ở phần Phụ bản)

d. Xây dựng chùa tháp

Trong việc truyền bá Giáo pháp, xây dựng cơ sở hạtầng chùa tháp là điều quan trọng, vì đó là cơ sở hoằng pháp và là điểm trú xứ của chư Tăng. Tuy nhiên trong thời gian đó, không có nhiều chùa tháp được xây dựng như ngày nay. Lý do là các vị Hòa thượng tiền bối bận nhiều Phật sự cho Giáo hội.

Trong số các chùa tháp được xây dựng, mặc dù lối kiến trúc chưa đạt đến trình độ như những nước có Nam tông là quốc giáo, nhưng qua các chùa như Kỳ Viên, Pháp Quang, Tam Bảo, Thiền Lâm và Thích Ca Phật Đài, chúng ta thấy được sự nỗ lực đáng trân trọng trong việc phát huy xây dựng chùa tháp ở Việt Nam của phái đoàn Hòa thượng Hộ Tông.

Công trình kiến tạo chùa tháp vĩ đại có tầm cỡ quốc gia là Thích Ca Phật Đài. Người ta sẽ cảm nhận từ Tháp, Chùa, Phật cảnh và cổng Tam quan có một lối kiến trúc rất độc đáo của Phật giáo Nguyên thủy nhưng tinh thần dân tộc tính không bị lãng quên. Hoàn thành năm 1963, có tiếng vang rất lớn trong các tôn giáo bạn. Từ cơ sở trên, ít nhiều cũng khẳng định được vị trí lớn mạnh của Phật giáo Nguyên thủy tại Việt Nam.

e. Hoạt động trong Phật giáo quốc tế

Tuy Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam mới thành lập nhưng đã có một vị trí quan trọng trong Hội Phật giáo Thế giới. Hòa thượng Bửu Chơn đã từng là cố vấn Hội Phật giáo Thế giới trên. Ngài và các vị cao tăng thỉnh thoảng được mời tham dự hội nghị thế giới tại Miến Điện, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Triều tiên, v.v…

Giáo hội thường xuyên liên lạc thư từ với các tôn giáo bạn tại các quốc gia trên khắp thế giới như Ấn Độ, Tích Lan, Thái Lan, Tân gia Ba, v.v… , đã được phúc đáp thư từ hoặc gửi biếu kinh sách như hội ở Tích Lan (Buddhist Publication Society), hội ở Đài Loan (Bodhi Drum Publication), v.v… Nhờ vậy nên chư Tăng Việt Nam có rất nhiều cơ hội được tặng học bỗng để du học tại các nước Phật giáo Nam tông trên thế giới.

Điều dáng ghi nhận ở đây là Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam là một thành viên chánh trong buổi lễ bế mạc kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ Sáu tại Miến Điện.

f. Hoạt động từ thiện Xã hội

Về phương diện hoạt động từ thiện, Phật giáo Nguyên thủy có phần giới hạn so với các tôn giáo bạn. Chư Tăng chú trọng đến phần tu tập nhiều hơn công tác xã hội. Lúc đó đời sống của tăng sĩ rất bề bộn trong nhu cầu hoằng pháp, xây dựng, giáo dục tăng ni. Buổi sáng thường xuyên đi bát hóa duyên Phật tử, là một hình thức duy trì tam y quả nhất bát từ thời đức Phật. Lại nữa, ngoài những Phật sự, chư Tăng còn dành nhiều thời gian cho việc hành thiền và hướng dẫn Phật tử tu tập pháp môn thiền quán Tứ niệm xứ vì pháp môn tu niệm này là cốt tủy của Phật giáo.

Tuy Giáo hội Tăng già không trực tiếp hoạt động từ thiện xã hội, nhưng lúc nào cũng động viên và cố vấn Tổng hội cư sĩ Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam thực hiện mạnh mẽ phong trào phụng sự xã hội. Theo bản tường trình công tác do Giáo hội đã thực hiện từ ngày 01-01-68 đến ngày 31-12-69 thì về phần hoạt động xã hội, trong những ngày biến cố Tết Mậu Thân, Giáo hội tổ chức các cuộc lạc quyên nội bộ để cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến tranh tại khắp các nơi như sau:

Đợt I tại Sài gòn: Cứu trợ nạn nhân chiến tranh tại khu chợ Bàn cờ, Sài gòn và Trung tâm tị nạn An Dưỡng Địa, số tiền là 42.828 đồng, tặng phẩm 43 họp thuốc chích ngừa dịch tả, 178 lọ Péniciline, 1000 viên Nivaquine, 1 ky thuốc Aspérine, 8 lít Alcool, 5 hộp Pommade, 20 chai Teinture d’ Iode, và một tấn gạo.

Đợt II, tại Sài gòn: Ủy lạo bệnh nhân ở Bệnh viện Chợ Rẫy, Tổng y viện Cộng hòa, khu phố bị pháo kích tại đường Bùi Viện, Sài gòn, Ap Phú Trung II thuộc Phú Thọ Hòa, 13 chùa tại Sài gòn và Gia Định. Tổng cộng số tiền là 230.330 đồng. Tặng phẩm gồm có đường, sữa, dầu, bánh mì, thuốc, gạo.

Đợt I tại Huế: Cứu trợ đồng bào nghèo ở Huế. Số tiền 115.778 đồng. Tặng phẩm gồm gạo, sữa, dầu hôi, muối v.v…

Đợt II tại Huế: Cứu trợ đồng bào nghèo ở Huế. Số tiền là 206.900 đồng. Tặng phẩm gồm gạo, chiếu, sửa, quần áo v.v…

Đợt III tại Huế: Cứu trợ đồng bào nghèo ở Huế. Số tiền12.270 đồng và nhiều tặng phẩm.

Qua bản báo cáo trên, chúng ta thấy vấn đề hoạt động từ thiện của Phật giáo Nguyên thủy và Tổng hội Cư sĩ vẫn thể hiện tấm lòng “lá lành đùm lá rách” khi đất nước và người Việt gặp những khó khăn do chiến tranh hoặc bị thiên tai.

g. Hoằng Dương Chánh Pháp

Đức Phật dạy bậc xuất gia có hai bổn phận phải làm: học pháp và hành pháp. Từ hai nền tảng căn bản, chư Tăng đem giáo lý của đức Phật giảng dạy cho hàng Cư sĩ tại gia áp dụng tu tập và hành trì. Vì thế công việc hoằng pháp là một nhu cầu rất hệ trọng đối với Chư Tăng Phật giáo Nam tông. Phật tử hiểu đuợc Phật Pháp thì thực hành mới có kết quả và mới bão tồn đuợc Chánh pháp. Do đó trong thời kỳ sơ khai của Phật giáo Nguyên thuỷ Việt Nam, các vị Hoà thuợng trong phái đoàn truyền giáo của Ngài Hộ Tông phát huy cực mạnh công tác hoằng pháp độ sanh.

Trong giai đoạn đầu chỉ có khoảng  bốn hoặc năm trung tâm hoằng pháp, đa số đều ở ngoại ô Sài Gòn – Gia Định, chỉ có trụ sở Kỳ Viên Tự là trung tâm Sài gòn. Điều đó ít nhiều cũng hạn chế việc phổ biến giáo lý Nguyên thuỷ . Tuy nhiên chủ truơng của quý Hoà thuợng là trong bất cứ cuộc lễ lớn hoặc nhỏ, như lễ giỗ, Cầu An, Cầu Siêu, Trai tăng, hai ngày Sám hối 14  và 30 trong tháng, đều có tổ chức  chuơng trình thuyết pháp. Các Pháp sư trong giai đoạn này gồm có: Hoà thuợng Thiện Luật, Hoà thuợng Bửu Chơn, Hoà thuợng Huệ Nghiêm, Hoà thuợng Hộ Tông, Thuợng toạ Giới Nghiêm, Thuợng toạ Hộ Giác, Thuợng toạ Thông Kham v.v…

Tại Bửu Quang Tự, Hoà thuợng Thiện Luật, Bửu Chơn và Hộ Tông là những vị pháp sư đầu tiên thuyết pháp giảng đạo để gây lòng tin trong một số Phật tử nòng cốt để phát triển Phật giáo Nguyên thuỷ tại Việt nam. Những nguời Phật tử đó là: ông Nguyễn Văn Hiểu, Văn Công Hương, Hội Đồng Hườn, xã trưởng Bùi Văn Hứa, ông Quyên, ông Cầm, ông Mum, ông Phước, ông Minh, ông Ngưu, ông Nhân, ông Núi, ông Tâm, ông Tịnh, Tám Vĩnh, Bảy Quyền, phó Huơng quản Sách, Hai Ta.Về tín nữ có bà Cả, bàTích, chị Ba, cô Tư Thợ May, bà Bảy Thao, bà Năm Nhiều, bà Tư  Ốm, bà Ba v.v…

Tại Kỳ Viên Tự, các vị Hoà thuợng trong phái đoàn truyền giáo của Hoà thuợng Hộ Tông thường xuyên thuyết giảng Phật pháp vào những ngày sám hối (14 và 30 âl). Cụ thể và thường xuyên nhất là pháp sư  Thông Kham. Những bài giảng của pháp sư vừa thực tế vừa chuyển tải nội dung giáo lý rất mới mẻ, đuợc trích trong Tam tạng Pàli, nên lôi cuốn rất nhiều Phật tử đến quy y Tam bảo theo tinh thần Phật giáo Nguyên thuỷ.

Thêm vào đó, trong những đạo tràng của Phật giáo Bắc truyền, Thượng toạ Pháp sư Hộ Giác cũng thường được thỉnh giảng kinh điển Nguyên thuỷ cho Phật tử. Mỗi buổi giảng của Thượng toạ giúp cho hàng  Phật tử tại gia hiểu thêm về  kinh điển truyền thống Nguyên thuỷ của đức Phật vốn đã bị mờ nhạt tại quê hương Việt nam dưới nền giáo lý Đại thừa Bắc tông đã có mặt hàng ngàn năm lịch sử. Không chỉ hàng Cư sĩ tại gia mà còn cả hàng Xuất gia nữa đã ý thức tầm quan trọng của kinh điển nguyên thuỷ. Mỗi thời pháp của Thượng toạ là tiếng chuông thức tỉnh người Phật tử  trở về với vuờn hoa chánh pháp.

Tại trung tâm hoằng pháp Tam Bảo Tự – Đà Nẵng, Hoà thuợng Thiện Luật, Bửu Chơn và Giới Nghiêm thuyết giảng Phật pháp đến các giới Phật tử rất thành công. Trung tâm này đã thu hút giới Phật tử đến quy y và xuất gia theo Phật giáo Nguyên thuỷ rất đông. Từ nền tảng đó, nhiều  ngôi chùa ở các tỉnh miền Trung như  Huế, Quảng Nam, Bình Định, Nha Trang, Đà Lạt, được thành lập và tồn tại cho đến ngày hôm nay.

2. Từ 1975 đến nay

Sau năm 1975 tình hình đất nước gặp nhiều khó khăn về mặt kinh tế, do đó Phật giáo cũng bị chịu ảnh hưởng chung. Tất nhiên quốc gia nào cũng vậy sau chiến tranh thì phải hàn gắn lại những gì bị đổ nát, muốn khôi phục lại phải có một thời gian tương đối nào đó. Nước Việt Nam mất hơn 15 năm để phục hưng lại những gì mà chiến tranh gây ra, lại thêm chánh phủ Mỹ cấm vận, tìm cách phong tỏa kinh tế. Trước những thử thách to lớn đó, nước Việt Nam và con người Việt Nam vẫn kiên trì, nhẫn nại, phấn đấu, nỗ lực trong khả năng những gì mình đã có để khắc phục lại những khó khăn trên. Cuối cùng, chánh phủ Hoa Kỳ phải đổi chánh sách, bỏ cấm vận, và tái lập bang giao với Việt Nam. Cuối năm 2000, tổng thống Mỹ đích thân sang viếng thăm Việt Nam. Sau chuyến viếng thăm đó, tình hình đất nước khởi sắc hơn về mặt kinh tế.

Phật giáo và Nhà nước Việt Nam tuy hai mà một, Phật giáo là một bộ phận công dân của Việt Nam. Nếu nhà nước mạnh thì Phật giáo mạnh, nếu Nhà nước gặp khó khăn thì Phật giáo cũng nhiêu khê về mọi lãnh vực hoạt động. Sau chiến tranh khoảng 10 năm đầu có thể nói Phật giáo hoạt động trong các lãnh vực rất khiêm tốn trong khuôn khổ của nhà nước cho phép. Tuy nhiên đầu thiên niên kỹ mới nhà nước cũng đổi mới khá nhiều về nhiều lãnh vực nên Phật giáo cũng khởi sắc theo chiều hướng đó.

a. Xuất bản kinh sách

Trong 10 năm đầu, kinh sách Phật giáo rất hiếm, chỉ có đôi ba tác phẩm được xuất bản với giấy in có chất lượng rất xấu trong hoàn cảnh khó khăn kinh tế. Các sách của những tôn giáo bạn, các sách giáo dục phổ thông, v.v… đều chịu ảnh hưởng chung số phận đó. Thêm vào đó, kinh sách Phật giáo Nam tông lại rất hiếm, dù rằng giáo lý rất thực dụng trong quần chúng. Hiếm là vì nhiều kinh điển chưa được dịch sang tiếng Việt và chưa có nhân sự chính thức để dịch Tam Tạng lẫn Chú Giải từ nguồn Pali tạng.

Điều đáng mừng là tạng Kinh Việt ngữ (Sutta Pitaka) đã được Hòa thượng Minh Châu tiếp tục chuyển ngữ và được ấn hành. Dư luận trong giới Phật giáo và quần chúng Phật tử rất hoan hỷ đón nhận. Trước đây, chư Tăng Ni và Phật tử Bắc tông muốn tìm hiểu kinh tạng Nam tông thì lại không có tư liệu đầy đủ. Cho nên Tạng kinh Nam tông ra đời giúp cho bộ phái Bắc tông và Nam tông có sự hiểu biết và thông cảm cho nhau.

Đồng thời theo chiều hướng phát triển tốt của tạng Kinh, Hòa thượng Siêu Việt kết hợp với các đệ tử của ngài Hòa thượng Tịnh Sự thành lập ban Tu thư tạng Luận tại chùa Nam tông, huyện Bình Chánh, để biên tập các dịch phẩm của Hòa thượng Tịnh Sự. Mặc dù công tác đó chưa hòan tất trọn vẹn, trên căn bản đó đến nay Thượng tọa Giác Chánh, Đại đức Giác Giới và cư sĩ Định Tri đã sửa chữa, in ấn gần hoàn tất 7 bộ A Tỳ Đàm Pàli (Vi Diệu Pháp, Abhidhamma Pitaka), với hơn 15 cuốn.

Thêm vào đó, Thượng tọaTăng Định và Đại đức Thiện Minh ở chùa Kỳ viên; Thượng tọa Giác Chánh, Đại đức Giác Giới, Đại đức Giác Nguyên ở chùa Siêu Lý; Thượng tọa Viên Minh và Thượng tọa Hộ Pháp ở chùa Bửu Long; Thượng tọa Giới Đức và Thượng tọa Pháp Tông ở chùa Huyền Không; Đại đức Minh Huệ ở chùa Phước Hộ; Thượng tọa Hộ Chơn ở chùa Bửu Thắng, đã trước tác và dịch thuật hơn 50 tác phẩm, gồm nhiều thể loại khác nhau: thơ, truyện ngắn, hành thiền, giáo lý căn bản, chú giải kinh Pháp cú, giảng giải Vi Diệu Pháp v.v… cung cấp cho giới Phật giáo và đồng bào Phật tử thêm nhiều tư liệu kinh sách tiếng Việt để tham khảo và học tập.

b. Gửi Tăng ni đi du học

Phong trào du học của chư Tăng Nam tông rất khả quan trước 1975. Tuy nhiên sau khi đất nước giải phóng, do tình hình chung, nhiều tu sĩ không được đi du học. Bù vào đó, chư tăng tham gia những khóa học trong nước như trường Cơ bản, trường Cao cấp Phật học hoặc tham dự các khóa giảng sư do ban Hoằng pháp tổ chức. Tuy không được xuất dương du học nhưng nhờ học như vậy nên tăng sĩ ở Việt Nam có một trình độ Phật học căn bản rất tốt.

Năm 1994, nhân dịp Hòa thượng Minh Châu tham dự Đại hội châu Á Hòa bình (APBC), Giáo hội Tăng già Tích lan tặng Hòa thượng hai suất học bỗng cho tăng sinh Nam tông được du học tại Tích Lan. Trường cao cấp Phật học Việt Nam và Phật giáo Nam tông chọn Đại đức Bửu Hiền và Đại đức Hộ Phạm lên đường sang Tích Lan du học. Sự du học của hai Đại đức là đánh dấu đầu tiên của những tăng sĩ Nam tông được du học sau năm 1975.

Tiếp theo chiều hướng tốt đẹp đó và tình hình đất nước mở cửa kinh tế, nhiều Tăng Ni Phật giáo Nam tông lần lượt được chánh phủ Việt Nam cấp phép lên đường du học ở Ấn Độ, Thái Lan và Miến Điện, trong đó có các vị:

- Đại đức Bửu Chánh, Chánh Định, Trí Quảng, Tường Quang, Huệ Đức, Chánh Kiến, và các Sư cô Liễu Pháp, Tố Loan du học Ấn Độ.

- Đại đức Tâm Đăng, Thiện Đức, Tâm An, Giác Hạnh, Minh Tấn, Tuệ Siêu và các Sư cô Liễu Nguyên, Huyền Châu, Nguyên Hương, Liễu Nguyên, Như Liên du học Miến Điện

- Đại đức Tường Phát, Tường Nhân du học Thái Lan.

Nói chung phong trào du học sau năm 1975 không thua kém gì trước đó, trái lại số lượng tốt nghiệp Cao học gia tăng nhiều hơn. Điều đáng chú ý là trong số lượng du học sau này, có thêm đội ngũ Ni giới giúp cho các hoạt động hoằng pháp của Nam tông tăng thêm phần khởi sắc.

c. Mở Phật học viện

Đa số chư Tăng Nam tông có khả năng đều tham dự những khóa học của trường Cao cấp Phật học hoặc truờng Cơ Bản của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, vì đây là hệ thống giáo dục chung của Giáo hội. Hệ thống giáo dục này đào tạo cả hai hệ tư tưởng Nam truyền và Bắc truyền. Chương trình giáo dục này không hoàn toàn thích hợp cho giới tăng sĩ Nam tông vốn có một truyền thống nguyên thủy, rất đặc thù. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, Phật giáo Nam tông chưa thực thụ thể hiện khả năng của mình để mở một phân khoa học viện riêng cho Phật giáo Nam tông, vì số tăng sĩ còn quá ít và cũng chưa có vị cao tăng nào đủ pháp lý, học vị để chịu trách nhiệm tổ chức phần giáo dục này.

Thế nên về phần Học viện Nam tông sau ngày giải phóng đất nước có phần yếu kém so với trước năm 1975. Nhận thấy sự yếu kém đó, các chùa như Siêu Lý, Bửu Long, Thiền Quang I, thiền viện Phước Sơn mở thêm những lớp chuyên tu, đào tạo các Sa di và Tỳ kheo để trang bị cho các vị có vốn liếng kiến thức Phật pháp căn bản theo truyền thống đạo Phật nguyên thủy.

Nói tóm lại, hiện nay Phật giáo Nam tông chưa có một trường Phật học thực thụ nào có tầm cỡ để Nhà nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận, để đào tạo chư Tăng ni chuyên khoa. Đây là một khuyết điểm lớn cho hệ phái Nam tông. Không có trường thì cố nhiên không thể đào tạo tăng tài cho Giáo hội để kế thừa sau này. Như vậy thì tương lai Phật giáo Nam tông sẽ đi về đâu? Điều hy vọng là ở những vị du học tăng đang tu học ở Ấn Độ, Tích Lan, Miến điện khi tốt nghiệp trở về nước có khả năng mở những phân hiệu sơ cấp, trung cấp và đại học cho Phật giáo Nam tông.

d. Xây dựng chùa tháp

Chùa tháp kiến tạo thêm thì ít, trái lại còn một số chùa ở tỉnh thành bị nhà nước mượn làm sơ sở cho quốc gia. Lý do là Giáo hội không đủ nhân sự trực tiếp quản lý các chùa đó. Thí dụ như các chùa Huệ Quang (Bình Định), chùa Như Ý (Nha Trang ), chùa Bửu Sơn (Đà Lạt), chùa Pháp Quân (Tùng Nghĩa), Chùa Bồ Đề (Vũng Tàu), Thích Ca Phật Đài (Vũng Tàu), Phước Hải (Tiền Giang), Tam Bảo (Phan Thiết) v.v… Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhờ số tăng sĩ gia tăng và chính sách nhà nước đổi mới nên có một số chùa trên được trả lại cho Giáo hội để hoạt động Phật sự, như Thích Ca Phật Đài, Phước Hải, Tam Bảo.

Hưởng ứng theo chủ trương của nhà nước, Thượng tọa Tâm Hỷ, Thượng tọa Giác Chánh, Thượng tọa Thiện Pháp và các vị Đại đức Bửu Chánh, Chánh Định, Chánh Tâm, Minh Huệ, Chơn Thiện, Trí Đức, Tuệ Quyền tham gia thực hiện chương trình khai phá vùng kinh tế mới ở Long Thành, đồng thời các vị cũng mở mang thêm chùa tháp ở các vùng trong tỉnh Đồng Nai, như các chùa Thiền Quang I, Thiền Quang II, Quảng Nghiêm, Tam Phước, Ngọc Đạt, Y Sơn, Phước Hộ, Cồ Đàm, Bửu Đức, Linh Phú, Từ Thiện, Thái Hòa, Quang Minh, Phước Huệ. Tuy những ngôi chùa này không hoạt động mạnh mẽ như những chùa Nam tông ở thành phố nhưng đó là một dấu ấn thành công lớn của các vị Tỳ kheo đã tích cực hoạt động phụng sự giáo pháp. Đồng thời Thượng tọa Viên Minh cũng mở thêm thiền viện Viên Không ở Bà Rịa Vũng Tàu với ý định thành lập một làng thiền của Phật giáo Nam tông.

Trong điều kiện kinh tế thuận lợi, gần đây, một số chùa được trùng tu như Chùa Bửu Long, Chùa Bửu Thắng, Chùa Pháp Quang, Chùa Siêu Lý rất khang trang, rộng rãi, tiện lợi trong những ngày lễ lớn.

e. Hoạt động trong Phật giáo quốc tế

Kể từ năm 1981, khi thống nhất Giáo hội thì Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam trở thành một thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Lại nữa sau năm 1975 tình hình chung của đất nước là đóng cửa nên việc ngoại giao với Phật giáo Nam tông của các quốc gia bạn bị giới hạn. Đồng thời Phật giáo Nam tông không còn có đủ tư cách pháp lý giống như lúc còn là một Giáo hội riêng để thỉnh cử các vị cao tăng hội họp, bàn luận xuyển dương Phật pháp, gửi tăng sinh du học. Để hài hòa với đất nước và Giáo hội mới, các vị lãnh đạo Phật giáo Nam tông tham gia vào ban Phật giáo quốc tế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Hòa thượng Siêu Việt, Thượng tọa Thiện Tâm, Thượng tọa Hộ Pháp và Thượng tọa Tăng Định, Thượng tọa Bửu Chánh, Thuợng Tọa Minh Giác, Đại đức Thiện Minh, Đại đức Thiện Hạnh, Đại đức Pháp Chất đều có tham gia hoạt động trong ban Phật giáo quốc tế, nhưng việc hoạt động này mang tính chất chung chứ không giống như tổ chức hoạt động quốc tế lúc Giáo hội Tăng già Nguyên thủy còn hiện hành. Khi hay tin Phật giáo Đài Loan, Nhật Bổn, Campuchia, Lào, Thái Lan, v.v… ghé thăm viếng, các vị trong ban Phật giáo quốc tế tổ chức tiếp đón, hội họp, bàn bạc, thảo luận, tổ chức tham quan. Nếu là phái đoàn đó thuộc Phật giáo Nam tông thường những vị tôn túc này được thỉnh về chùa phái Nam tông trú ngụ cho phù hợp với truyền thống của bộ phái.

Năm 1997 Hòa thượng Siêu Việt và Thượng tọa Thiện Tâm tổ chức tiếp đón phái đoàn Campuchia do Hòa thượng Umsum làm trưởng đoàn. Sự viếng thăm Việt Nam của phái đoàn Campuchia với chủ ý là để cám ơn Nhà nước Việt Nam và Phật giáo Nam tông Việt Nam đã có công giúp đỡ vận mệnh dân tộc họ và phục hồi Phật giáo Campuchia sau nạn diệt chủng của Khơme Đỏ năm 1979.

Khoảng năm 1990 do tình hình đất nước mở cửa, Thượng tọa Hộ Pháp liên lạc với các trường Phật giáo Nam tông trên thế giới để gửi tăng sinh Nam tông du học. Kết quả là có 8 vị được sang Miến Điện và 2 vị sang Thái Lan tu học. Cũng trong thập niên này Thượng tọa Thiện Tâm và phái đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam sang Đài Loan và Thái Lan dự các hội nghị Phật giáo quốc tế.

Song song với chiều hướng đổi mới đó, Thượng tọa Tăng Định được gửi đi Miến Điện nghiên cứu các pháp hành thiền và gặp gỡ nhiều vị Đại thiền sư Miến Điện để học pháp, nhằm mục đích khi về nước xuyển dương pháp hành Tứ niệm xứ cho các hành giả Việt Nam. Sự có mặt của Thượng tọa Tăng Định ở Miến Điện làm cho các vị Thiền sư rất hoan hỷ khi biết Phật giáo Nam tông việt nam cũng đang phát huy pháp hành thiền tuệ. Các ngài hứa nếu đủ duyên sẽ sang Việt Nam hướng dẫn thêm những khóa tu đặc biệt cho các hành giả Phật tử.

Đại đức Thiện Minh, năm 2000 sang Trung tâm Phật giáo Amaravati, Anh quốc, nhập hạ và tu học. Đây là một trung tâm có uy tín và nổi tiếng ở Anh quốc. Trung tâm Phật giáo Amaravati hiện nay là trụ sở của Giáo hội Tăng già Anh quốc. Đại đức Thiện Minh là vị tăng sĩ Nam tông Việt Nam đầu tiên tu học với Giáo hội Tăng già Anh quốc từ truớc và sau 1975.

f. Hoạt động từ thiện xã hội

So với các tông phái khác, hoạt động từ thiện xã hội của hệ phái Nam tông tương đối khiêm nhuờng. Tuy vậy, hệ phái Nam tông cũng đã tích cực đóng góp cứu trợ sau những trận thiên tai ở miền Trung hoặc miền Tây Nam bộ.

Thượng tọa Viên Minh, Thượng tọa Thiện Pháp, Thượng tọa Giới Đức, Thượng tọa Pháp Tông, Thượng tọa Tuệ Tâm, Thượng tọa Pháp Cao, Thượng tọa Tăng Định, Thượng tọa Chánh Niệm, Thượng tọa Pháp Chất, Đại đức Chánh Định, Đại đức Tuệ Quyền, Đại đức Thiện Đạt và Đại đức Thiện Minh cùng chư Tăng và Phật tử hệ phái sẵn sàng vận động đồng bào Phật tử trong hoặc ngoài nước để kịp thời cứu trợ khi đồng bào bị thiên tại xảy ra. Thống kê của Phật giáo Nam tông cho biết, trong năm 1999 và năm 2000, hệ phái đã cứu trợ đồng bào ở miền Trung và sáu tỉnh miền Tây bị thiên tai gần một tỷ đồng, gồm có tiền mặt và quà biếu như đường, nước tương, gạo, quần áo. Năm 2002, chùa Kỳ Viên đi cứu trợ các tỉnh miền Tây khoảng 8 chuyến, mỗi chuyến trị giá khoảng 30.000.000 đồng. Đồng thời trong năm này, Tăng Ni Phật tử chùa Kỳ viên và hải ngoại tài trợ chuơng trình đem lại ánh sáng cho nguời nghèo, cụ thể là mỗ cuờm 100 ca mổ, mỗi ca trị giá 500.000 đồng, v.v..

Đồng thời, Đại đức Thiện Minh là ủy viên ban Từ thiện xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hằng năm cùng với phái đoàn đều có đi cứu trợ đồng bào nghèo, viện tâm thần, trại dưỡng lão, trại mù v.v… thậm chí đi đến những vùng sâu vùng xa thăm viếng đồng bào dân tộc thiểu số. Thượng tọa Viên Minh mỗi năm đều có kết hợp với đoàn từ thiện của Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, đi cứu trợ, tặng quà cho đồng bào nghèo hoặc bị thiên tai.

g/ Hoằng Dương Chánh Pháp

Trong những năm đầu sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng (1975), nhà nuớc và nhân dân cùng nhau hàn gắn lại vết thương của chiến tranh. Do đó việc hoằng pháp của Phật giáo Nguyên thuỷ bị giới hạn. Mặc dù vậy, trong những cuộc lễ lớn hoặc nhỏ chư Tăng vẫn  đều tổ chức thuyết giảng Phật pháp cho hàng tại gia để am tường chánh pháp. Đặc biệt nhất là những ngày lễ Dâng y, mỗi chùa tổ chức một ngày trong mùa tăng y (16 tháng 6 al  đến 15 tháng 7 al) đều có chương trình thuyết pháp.

Đồng thời bên cạnh đó, những chùa nào nếu có đủ điều kiện tổ đều có chức thuyết pháp sám hối lệ hằng tháng (một tháng có hai kỳ) để tạo điều kiện cho Phật tử học tập giáo lý và gìn giữ truyền thống. Điển hình là chùa Pháp Quang, Phổ Minh, Từ Quang, Giác Quang, Nam Tông, Siêu Lý, Trúc Lâm, Bửu Thắng, Phật Bảo, Thiền Quang 1 (Long Thành), Phước Hải (Vũng Tàu) Pháp Bảo (Mỹ Tho), Siêu Lý (Vĩnh Long), Tam Bảo Thiền Đường (Bình Phước), Bửu Long, Huyền Không v.v…

Pháp sư trong giai đoạn này là quý vị: Hoà thượng Bửu Chơn, Giới Nghiêm, Hộ Giác, Siêu Việt, Viên Minh, Pháp Trí, Tâm Hỷ, Thiện Tâm, Thiện Nhân, Minh Giác, Bửu Chánh, Giác Chánh, Giác Giới, Tịnh Thân, Pháp Chất, Chánh Định, Thiện Minh, Tuệ Quyền,

Đặc biệt chùa Kỳ Viên, ngoài những ngày sám hối, mỗi ngày Chủ nhật đều có thuyết giảng Phật pháp  công cộng cho Phật tử thính pháp vào lúc 3 giờ chiều.

Tóm lại, trước và sau 1975 công tác hoằng pháp của Phật giáo Nam tông đã khá thành công và đã để lại nhiều thành quả đáng kể.

Tài liệu tham khảo

- Nguyễn Tối Thiện, Lịch sử truyền bá Phật giáo Nguyên thuỷ, xuất bản 1990

- Nguyễn Văn Sáu, Lịch sử Phật giáo Nam Tông Việt nam, ấn hành 1987

- Các công văn của Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thuỷ VN

SƠ LƯỢC PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY TẠI VIỆT NAM

THỐNG KÊ:

Theo Tuần báo Giác Ngộ, số 188 (04-09-2003), ở Việt Nam có 38.866 Tăng Ni, gồm:

- 28.365 tu sĩ Bắc tông,

- 2.354 tu sĩ Khất sĩ.

- Với 14.401 tự viện, gồm: 12.036 tự viện Bắc tông, , 361 tịnh xá, 467 tịnh thất, và 998 Niệm Phật đường.

- Phật giáo Nam tông chỉ có 8.147 tu sĩ

trong đó chỉ có 650 tu sĩ Nam tông người Việt gồm 450 Tỳ kheo và 200 Tu nữ (60 chùa người Việt). Còn đa số 7.497 tu sĩ là người người Khmer ( 479 chùa Khmer)

Phật giáo Nguyên thủy Việt nam có một lịch sử còn ngắn ngủi chưa đến 100 năm.

Bắt đầu từ một số trí thức miền Nam Việt nam và những người Việt sống tại Cambodia, Đạo Phật nguyên thủy được hình thành rất khó khăn trong bối cảnh một quốc gia Đạo Phật bị ảnh hưởng Trung Quốc. Tại sao phải chọn lựa Đạo Phật nguyên thủy, điều đó chắc chỉ trong thâm tâm những người đã lựa chọn mới biết được rõ ràng. Riêng đối với cụ bác sĩ thú y Lê văn Giảng, mà sau là trưởng lão Hộ Tông, Maha Thera Vansarakkhita, thì có tài liệu trước 1975, kể rằng ngài đã chứng ngộ và đắc nhiều thần thông từ khi còn là cư sĩ tại gia. Thày Hộ Tông-Mahathera Vansarakkhita, được coi như là người có nhiều công đức nhất cho việc hình thành Đạo Phật Nguyên Thủy ở Việt Nam. Ngoài ra cũng còn nhiều tu sĩ đã lựa chọn con đường tu tập này vào thời điểm thập niên 1930:

Click —–> XEM TIẾP

THIỀN VIỆN NGUYÊN THỦY

LỊCH SỬ

Thiền Viện Nguyên Thủy là tên gọi mới của chùa Nguyên Thuỷ, thành lập năm 1970, do cố Hoà thượng Hộ Tông thực hiện. Chủ trương của Hoà thượng là thành lập Đại Học Phật GiáoTrung tâm thiền định Phật Giáo Nguyên Thủy trong diện tích đất chùa Nguyên Thủy,  nhưng vì nhân duyên chưa đủ nên công trình chỉ hoàn thành hai hạng mục chánh điện và tăng xá. Chánh điện có diện tích ngang 18m, dài 24m và một pho tượng Thích ca bằng chất liệu ximăng, ngang 3,3m, cao 6,3m rất hùng vĩ và trang nghiêm. Công trình kiến trúc khá độc đáo, mang đậm tính truyền thống Phật giáo Nguyên thuỷ và dân tộc Việt, mái cổ lầu, hoa văn đơn giản, nhẹ nhàng tươi mát. Chùa từ ngày thành lập đến nay đã trải qua 5 đời trụ trì: cố Hoà thượng Hộ Tông, Thượng toạ Thiện Giới, Thượng toạ Giác Chánh, Đại đức Giác Thiền và Thượng toạ Pháp Chất. Mỗi đời trụ trì đều có sự đóng góp đáng kể cho sự nghiệp phát huy chùa Nguyên Thuỷ.

Gần đây tổ chức thường xuyên các khoá tu thiền Tứ Niện Xứ vào cuối tháng bắt đầu từ ngày 23 đến ngày 30 âl do thượng toạ Pháp Chất giảng dạy. Hành giã đến tu thiền, bữa ăn được phục vụ miễn phí do phật tử chùa cúng dường. Vì nhu cầu hành giã tu thiền càng ngày càng đông, nên ngày 15 tháng 8 năm 2006 Thượng toạ cho khởi công xây dựng Thiền xá gồm có 9 phòng, hoàn tất ngày 30 tháng 9 năm 2006, khánh thành ngày 01 tháng 10 năm 2006 dưới sự chứng minh của Hoà thượng Thanh Minh, Thượng toạ Hộ Chánh và Thượng toạ Thiện Nhân, Thượng toạ Bửu Chánh ……cùng chư tăng đại diện các chùa Phật giáo Nguyên Thuỷ đến tham dự đông đủ. Tổng kinh phí cho công trình trên 200.000.000 đồng.

Gần đây, mới tháng bảy 2008, nhóm của thày Goenka, thày Suphan, rồi thày Dhammapala đã đến chùa Nguyên thủy. Nhu cầu khiến chùa phải tiếp tục nâng cấp thiền đường cho tăng ni và cư sĩ có nơi tu tập.

Đầu năm 2009 chùa đã được cấp giấy phép chính thức đổi tên và chức năng để trở thành  THIỀN VIỆN NGUYÊN THỦY.

Danh xưng và chức năng Thiền Viện sẽ phù hợp với hoạt động của các khóa Thiền sẽ được triển khai và mở rộng trong tương lai.

ĐỊA CHỈ

Thiền Viện Nguyên Thuỷ

33 – A Đường 10, Khu Phố 1, Phường Cát Lái, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại: (084) (0 7.420.214 – 0919.105.833

Click ——-> Xem Tiếp

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s