Hành Hương-phần 7: Vanarasi

Varanasi

Varanasi còn được gọi là Banares, Banaras (thành Ba La nại) hay Kasi, nằm bên bờ tây sông Hằng, thuộc bang Utta Pradesh Ấn độ. Người ta tin rằng Vanarasi tồn tại khoảng 3000 năm trước công nguyên, nghĩa là xưa cũ hơn bất cứ thành phố nào có mặt trên địa cầu này. Huyền thoại Ấn độ nói rằng Vanarasi do thần Shiva dựng lên. Tính thiêng liêng, bí ẩn, sự phát triển và nhất là về mặt học thuật trong quá khứ  của Vanarasi đã làm nó nổi tiếng kể từ  năm ngàn năm năm trước.  Rất nhiều đạo sĩ, triết gia, nhà thơ, nhạc sĩ đã sống và đã tạo dấu ấn tại thành phố này. Cũng ghi nhận khoảng một ngàn năm trước công nguyên, người chủng Aryen đã đến bắc Ấn và truyền cho Vanarasi một nền văn minh và học thuật rất cao.

Tranh vẽ Benares năm1890

Vanarasi (Benares) năm 1920

Đến Varanasi vào khoảng thế kỉ thứ bảy, Huyền Trang đã ghi nhận về sự hiện diện của rất nhiều giáo phái Ấn Độ tập trung nơi đây. Tại Varanasi có rất nhiều các đạo sĩ hình thù cổ quái, bôi phấn, vẽ mặt, búi tóc, xỏa tóc, lỏa thể…thực hiện đủ mọi nghi lễ thần bí lạ lùng. Ngay từ  thời của Đức Phật tức là năm trăm năm trước công nguyên, vùng sông Hằng Bắc Ấn đã xuất hiện đủ mọi loại trường phái triết học, tu tập theo đủ mọi pháp môn. Dường như cộng đồng cư  dân  sinh ra bên bờ sông Hằng chỉ mang duy nhất một sứ mạng tâm linh về sự thực hiện giải thoát. Ngay sau khi đạt đại giác ngộ và rời khỏi Bodhgaya, Đưc Phật đã đi về Vanarasi, trung tâm của mọi học thuyết và giáo phái của Ấn Độ. Tại Sarnath (Lộc Uyển) thuộc Varanasi, Đức Phật Gautama đã thuyết giảng bài kinh đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như. Sự kiện này đã đánh dấu sự  xuất hiện của một con đường giải thoát mới mẻ và triệt để trên vùng đất thiêng Bắc Ấn. Bài kinh Chuyển Pháp Luân giống như một tuyên ngôn của Đức Phật giữa cộng đồng tâm linh Varanasi.

Khách sạn dọc đường đi tới Varanasi
Nhà nghỉ dọc đường
Giường nghỉ rất đơn sơ
Giường nghỉ rất đơn sơ

Một quán trà sữa ven đường

Uống trà sữa

Từ Bihar chúng tôi đi quay lại Utta Pradesh về hướng Vanarasi. Nhờ đi bằng xe auto nên rất dễ quan sát phong cảnh hai bên. Đất nước Ấn Độ rất lạ lùng, nó mang những hình ảnh cực đoan mà ta không ngờ đến. Ấn Độ vừa là nước công nghệ cao, có bom nguyên tử, tên lửa đạn đạo, những nhà bác học, trí thưc lừng danh v.v… vừa là nước có rất đông dân chúng thuộc tầng lớp nghèo khổ, mù chữ. Chúng tôi thấy rất nhiều những dãy nhà, đa số lợp tranh xơ xác hai bên bên quốc lộ. Có những nhà xây được bằng gạch thì không tô bên ngoài, chiều cao mái chỉ vừa đủ để cúi khom người chui vào, mái lợp được dằn bằng lốp xe đủ loại để tránh gió. Dọc đường cũng thấy những nhà trọ rẻ tiền mà khách có thể ngủ trên những dãy giường trong cùng một phòng chung không vách. Trà sữa là món giải khát bình dân thường thấy như trà đá ở Việt Nam. Quán trà có khi chỉ là một ụ đất đắp ven đường để làm bếp đun.

Một con đường nhỏ ở Varanasi

Khách sạn chúng tôi trọ ở Varanasi
Khách sạn chúng tôi trọ ở Varanasi

Lao động chân tay
Lao động chân tay
Một mái vòm Hồi giáo

Nhà thờ Catholic tại Vanarasi

Một quán trà sữa buổi sáng
Đường phố Varanasi buổi sáng sớm
Rất nhiều Bò nằm ngủ trên vỉa hè!
Rất nhiều bò nằm ngủ trên vỉa hè!
Một căn nhà rất là cũ kĩ tại Varanasi

Chúng tôi đến Vanarasi vào buổi chiều. Varanasi vẫn cũ kĩ như  những ngàn năm huyền thoại về nó. Tất cả nhà cửa dường như  chưa từng tu sửa gì cả  kể từ khi được xây cất lên. Mọi con đường đều nhếch nhác đầy rác bẩn và phân bò. Những đền thờ Ấn giáo, Hồi giáo và cả nhà thờ Thiên chúa giáo nằm lẫn lộn. Thực khó hình dung đây là Vanarasi, trung tâm văn minh và văn hóa Ấn Độ, cội nguồn tâm linh của tôn giáo lớn thứ ba trên thế giới!

Triết lý Vệ Đà

Ấn Độ giáo đặt nền tảng trên bốn bộ Vệ Đà viết bằng tiếng Sanskrit, do các bậc thấu thị vô danh ghi chép lại. Nguồn gốc các bộ kinh Vệ Đà có lẽ có từ 500 năm trước công nguyên trở về trước. Rig Veda (Lê câu Vệ Đà) là bộ Vệ Đà cổ nhất. Nhà nước Ấn Độ coi các tôn giáo xuất phát tử Vệ Đà là chính thống. 80 % dân Ấn theo Ấn giáo với ý nghĩa là tất cả các giáo phái có nguồn gốc triết lý xuất phát từ Vệ Đà. Người dân Ấn thâm nhập các triết lý cao siêu qua các hình thái thi ca, truyện và huyền thoại dân gian. Các trường thi như  Mahabharata, Bahagavad gita đã phổ triết lý của Vệ Đà vào tất cả mọi người dân Ấn.

“…Trong huyền thoại Ấn Độ có một chủ đề luôn luôn được hiện diện, đó là sự  sáng tạo thế giới thông qua sự “tự hy sinh” của thánh thần. Qua đó mà thánh thần biến thành thế giới, rồi thế giới lại biến thành thánh thần. Hành động sáng tạo thiêng liêng này được gọi là “Lila”, trò chơi của đấng sáng tạo và thế giới là một sân khấu nơi diễn ra trò chơi thánh thần đó. Cũng như mọi huyền thoại Ấn Độ giáo thì huyền thoại sáng tạo “Lila” đầy tính huyễn hoặc. Brahman là nhà đại huyễn thuật, người tự biến mình thành thế giới, ngài là người thực hiện hành động đó với “sức mạnh huyền thoại, sáng tạo”, đó là nghĩa đầu tiên của từ “Maya” trong Lê-câu Vệ-đà. Từ Maya, một trong những khái niệm quan trọng nhất của triết học Ấn Độ, đã biến đổi ý nghĩa của nó qua nhiều thế kỷ. Mới đầu nó có nghĩa “sức mạnh” của quyền năng siêu nhiên hay của nhà huyễn thuật, ngày nay nó mang nghĩa “huyễn cảnh”, nói lên tâm thức con người khi chịu sự tác động của ma thuật. Bao lâu ta còn bị muôn ngàn hình dạng của trò chơi thánh thần làm lẫn lộn, không thấy sự nhất thể của Brahman, là thứ sinh ra mọi dạng hình đó, thì bấy lâu ta còn bị Maya tác động.

Maya không có nghĩa rằng thế giới là một ảo giác, như có nhiều người nói sai. Cái ảo giác chỉ nằm trong cách nhìn, khi chúng ta tưởng rằng, hình dạng và cơ cấu của sự vật và biến cố quanh ta là thực tại thực sự, thay vì nhận thức rằng chúng chỉ là khái niệm của đầu óc đo lường và phân biệt của chúng ta. Maya là ảo giác nếu tưởng khái niệm là thực tại, nếu ta nhầm bản đồ một vùng đất là bản thân vùng đất thật.

Theo quan niệm của Ấn Độ giáo thì trong thiên nhiên tất cả mọi hình dạng đều tương đối, đang trôi chảy, đang thay đổi, do nhà đại huyễn thuật của trò chơi thiêng liêng nói trên bày ra. Thế giới Maya của ta thay đổi vì “trò chơi” đó là một trò năng động, có nhịp điệu. Sức mạnh năng động của trò chơi là “Karma” (nghiệp lực), một khái niệm quan trọng khác của tư tưởng Ấn Độ. Nghiệp có nghĩa là hành động. Nó là nguyên lý động của trò thay đổi, là vũ trụ đang vận hành, nơi mọi thứ đều liên hệ với nhau trong cự vận động. Gita nói “Nghiệp là sức mạnh của sự sáng tạo, từ đó mà tất cả mọi vật đều sống”.

Ý nghĩa của nghiệp (Karma) cũng như ảo giác (Maya) được đưa từ bình diện nguyên thủy của vũ trụ xuống đến bình diện con người, nơi đó mang một ý nghĩa tâm lý. Bao lâu thế giới quan của ta còn bị chia chẻ, bấy lâu chúng ta còn bị ảnh hưởng của ảo giác mà nghĩ rằng ta hiện hữu tách rời thế giới và hành động độc lập, là bấy lâu ta còn bị Nghiệp trói buộc. Thoát khỏi nghiệp chính là nhận thức được sự nhất thể và đồng điệu của toàn bộ thiên nhiên, kể cả con người và theo đó mà hành động. Gita nói rõ như sau:

Tất cả mọi hành động xảy ra trong thời gian, dựa trên sự liên hệ của các sức mạnh thiên nhiên, nhưng con người trong sự vô minh ngã chấp cứ tưởng nó là người thực hiện.

Nhưng những người đã biết rõ mối liên hệ giữa thế lực thiên nhiên và hành động lên những lực khác và sẽ không trở thành nô lệ của chúng nữa.

Muốn thoát khỏi ảo giác, khỏi sự ràng buộc của nghiệp là phải nhận thức rằng những gì do giác quan mang lại, chúng chỉ là những mặt của một thực tại duy nhất. Cụ thể là cần một sự thể nghiệm cá nhân để biết rằng tất cả, kể cả chúng ta đều là Brahman. Trong triết học Ấn Độ giáo, sự thể nghiêm này được gọi là “Moksha”, hay sự giải thoát, đó là điều cốt tuỷ của Ấn Độ giáo.

Theo Ấn Độ giáo, có nhiều cách giải thoát, họ không cho rằng mọi tín đồ đều tới với cái thiêng liêng bằng một cách như nhau và do đó mà cho tín đồ nhiều cách thức, hành lễ hay phép tu cho nhiều mức độ ý thức khác nhau. Thực tế là nhiều phương pháp hay phép tu này trái ngược hẳn nhau, nhưng tín đồ Ấn Độ giáo không bao giờ quan tâm vì họ biết rằng dù gì thì Brahman cũng nằm ngoài phương cách hay hình ảnh. Nhờ thái độ này mà Ấn Độ giáo có một tinh thần cởi mở và tính đa nguyên rộng rãi.

Tông phái tri thức nhất trong Ấn Độ giáo là Vedanta, nó dựa trên Upanishad và xem Brahman là một khái niệm siêu hình, không mang dạng người, không liên quan gì đến bất cứ một huyền thoại nào cả. Mặc dù có trình độ tri thức và triết học cao, con đường của phái Vedanta cũng rất khác các trừơng phái triết học Phương Tây, vì nó bao gồm phép thiền định và các phép tu học khác phải thực hiện hàng ngày, nhằm tạo ra sự nhất thể với Brahman.

…Tín đồ Ấn Độ giáo thông thường thích tôn thờ cái thiêng liêng dưới dạng một vị thượng đế có nhân trạng, nam thần hay nữ thần. Sức tưởng tượng phong phú Ấn Độ đã sản sinh ra hàng ngàn vị thần, hiện ra trong vô số hình dạng khác nhau.

Ba vị được thờ cúng nhiều nhất hiện nay là Shiva, Vishnu và Shakti. Shiva là một trong những vị thần cổ nhất Ấn Độ, mang nhiều dạng khác nhau. Một dạng có tên là Mahesvara (đại thiên), xuất hiện với tính cách hiện thân của Brahman. Vị này cũng đại diện cho nhiều tính cách thiêng liêng khác. Hiện thân nổi tiếng nhất của Shiva là Nataraja, chúa tể của vũ công. Là người múa vũ điệu của vũ trụ, Shiva là thần sáng tạo cũng là thần hủy diệt, vị thần giữ nhịp điệu của vũ trụ được tồn tại đến vô cùng bằng điệu vũ của mình.

Vishnu cũng có nhiều khuôn mặt; một trong số đó là thần Krishna trong Chí tôn ca Bhagavad Gita. Nhìn chung, Vishnu là hiện thân của kẻ giữ vũ trụ được bảo toàn. Vị thần thứ ba là Shakti, vị nữ thần, đại diện cho nguyên lý âm trong vũ trụ.

Shakti cũng xuất hiện với tính cách là vợ của thần Shiva. Trong các tranh tượng có khi hai vị được trình bày ôm nhau rất say sưa, tỏa ra một tính cách nhục thể kỳ lạ mà trong nghệ thuật tôn giáo phương Tây không hề có. Ngược với phần lớn tôn giáo phương Tây thì niềm vui nhục cảm không hề bị đè nén trong Ấn Độ giáo vì tôn giáo này xem thân thể luôn luôn là thành phần bất khả phân của con người và không hề rời xa tâm thức. Tín đồ Ấn Độ giáo do đó không tìm cách dùng lý trí để kiểm soát các động lực dục tính, mà nhằm tự chứng thực toàn bộ con người mình, thân và tâm. Ấn Độ giáo còn phát triển cả một hướng tu, gọi là Tantra của thời trung cổ, trong đó sự giác ngộ được tìm thấy thông qua sự chứng thực sâu xa của tình yêu nhục cảm, trong đó mỗi người đều là cả hai, phù hợp với những dòng sau đây của Upanishad:

Như một người đàn ông được một người đàn bà yêu mình ôm chặt, người đó không còn có ý thức về bên ngoài lẫn bên trong, thì người đó được Atman nhận thức ôm chặt, cũng không có ý thức về bên ngoài hay bên trong.

Shiva có mối tương quan chặt chẽ với những dạng nhục cảm huyền bí, cũng như Shakti và nhiều nữ thần khác, có nhiều trong huyền thoại Ấn Độ giáo. Số lượng khá đông của các nữ thần còn cho thấy, phần thân xác và nhục dục của tính chất con người luôn luôn được xem là nguyên lý nữ, trong Ấn Độ giáo nó là thành phần bất khả phân của tính chất thiêng liêng. Các vị nữ thần Ấn Độ giáo không xuất hiện như một vị đồng trinh thiêng liêng mà với một vẻ đẹp hấp dẫn.

Trí thức phương Tây có thể lạc lối vì có quá nhiều thần thánh hiện thân và tái sinh trong các huyền thoại Ấn Độ. Người theo Ấn Độ giáo chịu được tính đa thần này vì các vị này đối với họ thật ra là một cả. Tất cả đều chỉ là sự xuất hiện của một thể thiêng liêng duy nhất và chúng chỉ phản ánh nhiều bộ mặt khác nhau của Brahman vô tận, đang từng giây phút hiện hữu và không nắm bắt được.…” [1]

Yoga

Ngoài triết lý Vệ Đà, Ấn Độ là quê hương của các pháp Yoga (Du già). Yoga được xem là một trong sáu phái triết học của Ấn Độ và có mối liên hệ chặt chẽ trong lý luận với triết học Samkhya [2]. Về mặt từ  nguyên, Yoga có nghĩa là kết nối, hòa hợp và hợp nhất, mà cao cả nhất chính là hòa hợp và hợp nhất của Atman với Brahman. Thuật ngữ Yoga có từ lâu trong những bộ Upanisad. Người ta tìm thấy trong Upanisad các kĩ thuật thiền định, điều tiết hơi thở, vận khí v.v…

Yoga sutra của Patanjali  đã tập hợp và mô tả những nhánh chính của Yoga như Raja Yoga, Karma Yoga, Jnana Yoga, Bhakti Yoga, và Hatha Yoga. Trong hệ thống này, Yoga kết hợp chặt chẽ với Triết học số luận (sāṃkhya) đến mức người ta xem Yoga và Số luận gần như là một hệ thống với Yoga đại diện khía cạnh thực hành và Số luận đại diện phần lí thuyết. Yoga hấp thụ phần triết học siêu hình của Số luận. Tuy nhiên, người ta tìm thấy hai điểm khác biệt nổi bật giữa hai hệ thống này: phái Số luận thuộc hệ thống vô thần trong khi hệ thống Yoga thừa nhận một đấng Tự Tại (īśvara). Theo Số luận thì chỉ nhận thức siêu việt mới chính là con đường dẫn đến giải thoát. Đối với hai hệ thống này thì tâm thức siêu việt trường tồn (Purusa) và bản tính ( prakṛti, Du-già kinh 1,24-27) là hai nguyên lí tối cao. Purusa, khi phản chiếu trong tâm thức (citta) con người chính là tiểu ngã hoặc linh hồn (jīva) hiển hiện trong thế giới hiện tượng, lăn trôi trong vòng sinh tử. Khi tâm thức con người được an tĩnh, không còn sự phản chiếu nữa thì khi ấy, nó nhận thức được bản tính uyên nguyên của nó và đạt giải thoát. Con đường dẫn đến mục đích này chính là Yoga [3].

Một khía cạnh quan trọng và đặc thù của Yoga là sự chú trọng đến phần cơ thể năng lượng dựa trên hiểu biết sâu xa về hệ thống khí lực và các luân xa của cơ thể. Yoga tin ở sự thống nhất giữa vật chất và tinh thần, cho rằng sự  giải thoát tinh thần bắt đầu bằng sự giải phóng các tầng năng lượng của cơ thể. Các kĩ thuật thức hành Yoga dựa trên sự  đánh thức nguồn năng lượng gốc (Kundalini), mở các luân xa (chakras), kiểm soát và thăng hoa các luồng khí lực. Sự giác ngộ theo quan điểm của Yoga là sự thức dậy của Kundalini, sự  khai mở hoàn toàn hệ thống luân xa. Chưa từng có bộ luận nào hay tài liệu nào chứng minh sự  giác ngộ “cơ thể năng lượng” trong Yoga là giống như, hay tương đương với sự giác ngộ  “vượt ra khỏi đại ngã”, “vượt ra ngoài tam giới” của Đức Phật Gautama. Trong toàn bộ chánh tạng Nikaya, ta không thể tìm thấy một từ nào hay khái niệm nào tương đương với Kundalini, các luân xa hay con mắt thứ ba… của Yoga.

Ở đây ta không thể mô tả hết cái uyên áo thâm sâu trong triết học Yoga, nhưng một điều chắc chắn là Yoga xuất phát từ Upanisad, một phần tinh hoa nhất của Vệ Đà. Đến thế kỉ thứ bốn sau công nguyên, nghĩa là gần một ngàn năm sau khi Phật nhập diệt, hai anh em luận sư Vô Trước và Thế Thân đã lập nên một trường phái gọi là Duy thức tông hay Du Già hành tông (Yogacarin). Duy thức hay Du già hành tông đã giải thích lại giáo lý của Đức Phật Gautama bằng những khái niệm mới và lý luận hoàn toàn mới (ví dụ:  Tánh không, Phật tánh, Phật tam thân, thay thế Abhidhamma bằng Duy thức học v.v…). Ngay tại đây ta thấy, nhờ sự  giải thích lại của các luận sư  bằng triết học Ấn Độ giáo mà Đạo Phật đại thừa đã tồn tại được giữa các khuynh hướng triết học Vệ Đà. Hơn thế nữa, cách giải thích này giúp Phật giáo Đại thừa đạt đến đỉnh cao của nó hai thế kỉ sau đó (thế kỉ thứ 6 sau công nguyên). Duy thức học tức Du Già hành tông đã được giảng tại Nalanda và đã phát triển một khuynh hướng mới của Phật giáo đại thừa đến một đỉnh điểm cao tột, thu hút rất nhiều triết gia học giả. Một bộ kinh kì vĩ trác tuyệt tiêu biểu cho giai đoạn này là Kinh Hoa Nghiêm đã xuất hiện [4].

Hai luận sư Vô Trước và Thế Thân đã “ủng hộ” Đạo Phật Gautama bằng cách giải thích lại triết lí mà Đức Phật Gautama đã thuyết giảng, nhờ đó nhiều người đương thời cũng như  người đời sau này rất thỏa mãn về mặt lí luận. Việc thay đổi lí luận và triết lí nhất thiết dẫn đến sự thay đổi cách thực hành, tạo nên rất nhiều các “pháp môn” trong đạo Phật. Từ lâu, tôi vốn là người mê say duy thức học vì khái niệm “Alaya-thức” có gì đó tương đồng với Vô thức tập hợp của Carl Jung trong phân tâm học. Không phải riêng tôi mà bất cứ một người nào có bản tánh say mê lí luận, những người đồng nhất những hệ thống triết học với chân lí, đều cảm thấy bị lôi cuốn trong những khái niệm logic và tính hệ thống của Đạo Phật đại thừa. Tuy nhiên khi đọc lại lịch sử của Phật giáo đại thừa, truy tầm nguồn gốc của các “triết lý mới” đôi khi tôi cũng có những phân vân. Có phải giác ngộ trong Đạo Phật là hiểu rõ ý nghĩa của các khái niệm triết học trong một hệ thống hoàn chỉnh? Câu trả lời chắc chắn là không. Tri kiến (dù là đúng đắn) cũng chỉ là có tính hướng dẫn. Chỉ có sự thực hành thành công, chuyển hóa được nội tâm, mới có thể dẫn đến giác ngộ thực sự. So sánh pháp thực hành của Đức Phật Gautama và các pháp thực hành mới (hàng ngàn năm sau đó) tôi thực sự bị thuyết phục rằng pháp thực hành của Đức Phật Gautama xứng đáng được bảo lưu. Thực ra đến thời điểm này, chẳng có luận sư nào chứng minh được pháp thực hành của sa môn Gautama dươí cội Bồ Đề tại Bodhgaya là không phù hợp hay không hiệu quả! Các bộ luận đời sau này của các luận sư thường chỉ là cái gạch nối hòa giải giữa Đạo Phật và các triết lý hùng mạnh của Ấn Độ giáo (Ấn Độ) hoặc Lão giáo (Trung Quốc). Tôi tin rằng các luận sư , các bộ luận đều có ý hướng tốt. Tuy nhiên sự giải thích lại triết lý Đạo Phật phải xuất phát từ  các vị đã hoàn toàn Đại giác ngộ, nếu không, các lí luận này chỉ là đám mây mù cản trở cho sự tu tập của người đời sau. Mà… từ khi xuất gia sống đời tu sĩ, sa môn  Gautama có cần đến một cuốn kinh hay bộ luận nào đâu! Những khái niệm triết học hay những triết lý đều ra đời sau khi sa môn Gautama đại giác ngộ. Vậy rõ ràng một “pháp thực hành được chỉ dẫn chi tiết” cần thiết hơn một “hệ thống triết lý hoàn chỉnh” phù hợp vơi tính cách và não trạng nhiều người.

Sông Hằng (The Ganga)

Sông Hằng dài 2510 km, theo huyền thoại chảy ra từ búi tóc của thần Shiva hay từ bàn chân của thần Vishnu.  “Ganga” là tên một nữ thần con của thần núi Himalaya. Phát xuất từ  nhiều nguồn chính trên dãy Himalaya, sông Hằng chảy xuống Bắc Ấn xuyên qua bang Bihar, qua các thành phố lớn như Vanarasi, Patna, Allahabad, Murshidabad… rồi đổ ra vịnh Bengale. Mọi câu chuyện về sông Hằng trong lịch sử, từ xưa cho đến nay, đều nói về nền văn minh hay văn hóa của nước Ấn,  đều gắn liền với sự thăng trầm của các quốc gia hay sự thịnh suy của các thành phố đã có mặt bên hai bờ sông. Sông Hằng là dòng sông biểu tượng cho Ấn Độ, hàng năm đã lôi kéo hàng triệu người dân Ấn và du khách từ mọi quốc gia đến viếng thăm. Sông Hằng là dòng sông tâm linh của Ấn giáo. Người Ấn giáo luôn mong muốn rằng trong đời mình phải có ít nhất một lần được đến và tắm gội trong dòng sông linh thiêng này. Người ta tin rằng nước sông Hằng có thể rửa sạch mọi tội lỗi và có thể chữa được cả bệnh tật! Nhiều gia đình Ấn để sẵn trong nhà một vại nước đem về từ  sông Hằng. Nếu người hấp hối được cho uống một ít nước sông Hằng thì đó là một điều phước báu. Sau khi chết, nếu tro thiêu được rải xuống sông Hằng, thì linh hồn sẽ được thăng hoa trong cõi thánh thần.

Đốt lửa sưởi ấm ở lề đường trong buổi sáng sớm

Tụ tập qua đêm tại một Ghat bên sông Hằng

Bán hoa để cúng trên sông

Xuồng bán hoa trên sông
Du khách Tây phương  trên sông buổi sáng sớm

Mọi người đều nói sông Hằng đẹp nhất vào lúc bình minh hay hoàng hôn. Chúng tôi tham quan sông Hằng vào lúc rạng sáng. Trời sương mù và rất lạnh. Người dân lao động Varanasi dậy rất sớm. Các hàng quán nhỏ, các người bán hoa đèn rong, các người lái đò và cả những người ăn xin đã như  sẵn sàng đón chờ du khách! Người hướng dẫn thuê một cái xuồng lớn chở cả đoàn ra sông. Vào giờ này cũng đã có rất nhiều du khách ra ngắm sông. Các xuồng lần lượt rời Ghat chạy dọc theo bờ. Chỉ riêng đoạn sông này có đến mấy cái Ghat. Hôm nay chỉ nhìn thấy một chỗ có thiêu xác, lửa bập bùng và khói tỏa ra trắng xóa một góc sông. Gần bờ, sông không sạch vì thói quen sinh hoạt đổ rác xuống sông của cư  dân tại đây. Ra xa khỏi bờ thì nước có vẻ trong sạch hơn. Có một số các đĩa hoa có gắn nến được thả trôi theo dòng nước để cúng dường con sông thiêng và các vị thần thánh.

Một Ghat bên sông Hằng. Ghat là một cổng có bậc thang dẫn xuống sông

Một Ghat bên sông Hằng (Có rất nhiều ghat như vậy)
Một Ghat bên sông Hằng lúc tờ mờ sáng (Có rất nhiều ghat như vậy)

Dọc theo bờ sông Hằng là các đền thờ và các bậc xây bằng đá để tín đồ có thể bước xuống mặt sông. Người ta gọi những kiến trúc này là Ghat (có lẽ giống như chữ  gate của tiếng Anh). Có những Ghat rất cũ xây từ hàng ngàn năm trước. Người Ấn giáo thực hiện các nghi lễ hai bên bờ sông tại các Ghat này. Lễ thiêu (Cremation) cũng được thực hiện ở đây, sau đó tro được rắc xuống sông. Rất nhiều ảnh chụp các Ghat với đủ mọi góc độ và vào mọi thời điểm để ghi lại cảm xúc lạ thường khi du khách đến sông Hằng. Thực vậy, khi trời còn tờ mờ sáng, nhìn những ánh lửa bập bùng và khỏi tỏa ra từ  các lễ thiêu xác bên cạnh dòng sông vắng lạnh, khó ai tránh khỏi liên tưởng đến cái tử  sinh phù huyễn của kiếp người! Trời còn tối, ánh sáng không đủ để tôi bắt các tấm hình về “cremation”, hơn nữa bạn sẽ không được cho phép bước đến gần chỗ thiêu xác để chụp cận cảnh.

Sông Hằng khoảng 6 giờ sáng
Sông Hằng khoảng 6 giờ sáng

Đến Bắc Ấn, sông Hằng và Vanarasi, tổng hành dinh của Ấn Độ giáo, ta phải thực sự khâm phục và ngưỡng mộ nền minh triết cổ xưa và vĩ đại của Ấn Độ. Hồi xưa, nghe các thày tu tại Việt Nam buông thỏng một câu “Bà La Môn ngoại đạo” tôi có cảm giác như Bà La Môn là tôn giáo hay triết lý gì đó thấp kém và xấu xa! Nay thì khác, chữ “Bà La Môn ngoại đạo” làm tôi nghiêng đầu kính ngưỡng. Trong lịch sử Phật giáo tôi kính ngưỡng nhất là các vị “Bà La Môn ngoại đạo” ví dụ như  Sariputta, Mahakasyapa, Moggallana… Những vị Bà La Môn ngoại đạo này là những con người phi thường, những đệ tử thân yêu nhất của Đức Phật Gautama. Nhờ có đầy đủ phạm hạnh, nhờ tinh thông các triết học Ấn giáo, nhờ định lực của các loại định Bà La Môn, nên những vị này chỉ cần nghe Đức Phật giảng một vài lần là đã đại giác ngộ thành A La Hán! Đó là sự thực mà vẫn có người không hoặc chưa để ý tới.

Đạo Phật tuy là đỉnh cao độc đáo và khác biệt nhưng vẫn có cội nguồn gốc rễ từ nền minh triết Ấn Độ. Các luận sư Ấn Độ vẫn có thể nhìn và giải thích Đạo Phật bằng những quan điểm khác nhau của Ấn Độ giáo và thực sự trong quá khứ  nổ lực của họ đã thành công rồi. Nhà nước Ấn Độ cho tới nay vẫn giữ quan niệm cho rằng Phật giáo, Kì Na giáo v.v… là một bộ phận của nền minh triết Ấn! Sự lẫn lộn giữa triết lý của Đạo Phật và các triết lý Vệ Đà là không thể tránh khỏi. Thậm chỉ tại Nalanda người ta còn dạy chung hai thứ triết học này với nhau như một phương cách duy trì và phát triển nền văn minh Ấn Độ. Thiển nghĩ, cách nhìn chân lý bằng triết lý của Đạo Phật Gautama hay bằng nhãn quan của Vệ Đà, Yoga…đều không quan trọng. Phương pháp thực hành nào hiệu quả nhất để đi đến giác ngộ mới thực sự là quan trọng. Nếu cho rằng có nhiều tính cách khác nhau phù hợp với nhiều cách thực hành khác nhau, thì lúc đó chính “nội dung” của trạng thái gọi là “giác ngộ”  sẽ là tiêu chuẩn để phân biệt. Chắc chắn sẽ có nhiều trạng thái cùng được gọi là “giác ngộ” nhưng lại có nội dung khác hẳn nhau. Đạo Phật Gautama mô tả, Đại giác ngộ là khi thực hiện được Vô ngã,  chấm dứt luân hồi, đạt Níp bàn tịch tĩnh. Tất cả các pháp môn nào đạt được đúng trạng thái đại giác ngộ này cũng chính là Đạo Phật của Đức Phật Gautama.

Chú thích:

[1] Đạo của Vật lý – phần hai: con đường đạo học Phương Đông

Nguyên Tác: The Tao Of Physics của Fritjof Capra – Biên Dịch: Nguyễn Tường Bách. Nhà Xuất Bản Trẻ TP. HCM Xuất Bản 2001

[2] en.wikipedia.org/wiki/Samkhya

Các bài viết liên quan:

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s