Hành Hương-phần 8: Sarnath (Lộc Uyển)

Sarnath

ở bên cạnh và chỉ cách Varanasi 12 km về phía đông bắc. Hai ngàn năm trăm năm trước, nơi đây là một rừng cây xanh tươi, phong cảnh rất đẹp, có rất nhiều nai. Trong kinh Pali, Sarnath được gọi là Migadaya (Vườn Nai, Lộc Uyển) và là nơi có rất nhiều đạo sĩ (pali: isi) nổi tiếng nên Sarnath còn được gọi là Isipatana (nơi chư thiên rơi xuống, chư thiên đọa xứ)

Một chuyện về tiền thân của Đức Phật (Jakata)

Rất hay, gọi là Nigrodhamiga có liên quan đến Vườn nai. Trong câu chuyện này Đức Phật trong tiền kiếp từng là một con Nai vua (Lộc vương) và Đề Bà Đạt Đa cũng vậy. Kinh nguyên thủy gọi Đức Phật Gautama trong tiền kiếp là Đức Bồ Tát. Huyền Trang thuật lại câu chuyện này như  sau:

“… Chính chỗ này không xa, tại một khu vườn rộng, có một ngọn tháp. Ðây là chỗ Ðề-bà-đạt-da cùng với Bồ Tát trong một kiếp đều làm vua loài lộc. Lúc bấy giờ giữa một khu rừng rất lớn, có hai bầy nai, mỗi bầy có 500 con và do hai con Lộc vương quản trị. Ðể bảo đảm hòa bình, bầy nai tình nguyện: “Chúng tôi sẽ hy sinh mỗi ngày một con nai để Ðại vương dùng. Như vậy Ðại vương luôn luôn có thịt tươi và chúng tôi có thể kéo dài sự sống”. Nhà vua chấp thuận lời đề nghị này, và bảo đánh xe trở về cung. Từ đó mỗi ngày một con Lộc từ một bầy đi đến chỗ Vua ở và chịu chết. Lần lượt bầy này rồi đến bầy khác. Lúc bấy giờ trong bầy của Ðề-bà-đạt-đa một con Lộc có mang đến lượt phải chịu chết. Con Lộc này đến trước Lộc vương của mình (Ðề-bà-đạt-đa) mà tâu rằng: “Dầu tôi bằng lòng chịu chết, nhưng chưa phải đến phiên con tôi, vậy ngài hãy cho một con khác tôi, khi nào con tôi lớn, chúng tôi sẽ đem hai thân để chịu chết”. Lộc vương tức giận quát rằng: “Ở đây có ai mà chẳng biết quí mạng sống?”. Con Lộc cái thở dài trả lời: “Nhưng tâu Bệ hạ, Bệ hạ thật không nhân đạo tí nào, thiếu tình thương đồng loại, nếu Bệ hạ giết những gì chưa sanh”. Ðề-bà-đạt-đa vẫn nhất định không nghe. Con nai nay liền đến tỏ cảnh ngộ khốn cùng cùng của mình cho Bồ tát (Lộc vương của bầy kia). Bồ tát nói với giọng dịu hiền: “Cao quí thay trái tim của người mẹ thương những gì chưa được sống. Hôm nay ta sẽ chịu chết thế cho người. Vì ta không có quyền bắt buộc ai khác phải chịu số phận này…”.

Rồi Lộc vương đi đến cung Vua và đặt đầu mình trên bàn đợi người đồ tể cắt cổ! Những người đi đường hay chuyện ấy, truyền tin cho nhau và nói rằng: “Lộc vưong thật là kỳ diệu”. Dân chúng cùng các quan viên vội vã đến xem. Khi nghe tin này, Vua không tin là sự thật. Nhưng đến khi người thị vệ vào tâu lại sự thật là thế, nhà vua mới tin. Ðoạn vua hỏi Lộc vương rằng: “Tại sao ngươi lại đến đây?”. Lộc vương tâu: “Một con Lộc mang đến lượt phải chết, tôi không nỡ lòng nào để một con Lộc chưa phải sinh phải chịu chết oan, nên tôi đến thay thế cho con Lộc có mang ấy”. Vua nghe rồi thở dài và nói rằng: “Ta thật có một thân người, nhưng không giống như con Lộc, trái lại con Lộc này tuy mang thân Lôc nhưng có những điều khác lạ hơn loài người”. Nhà Vua thương xót cam động và tha cho Lộc vương, không bắt buộc mỗi ngày phải nạp một con Lộc nữa. Vua để cả khu rừng cho loài Lộc ở và vì thế khu rừng này được gọi là khu rừng của loài Lộc (Lộc uyển, Migadàya)”.

Năm đệ tử đầu tiên

Five_disciples_at_Sarnath. Picture from Wikipedia

Sau khi đại giác ngộ và rời Bồ Đề đạo tràng (Bodhgaya) Đức Phật đi về Sarnath, Varanasi. Các chú giải trong Đạo Phật nguyên thủy cho rằng khi một vị thành Phật toàn giác thì bài pháp đầu tiên luôn phải được thuyết giảng tại vùng đất thiêng của chư thiên, đó là Sarnath. Đức Phật đã tìm gặp lại những người bạn cùng tu với mình là năm anh em Kiều Trần Như , những người đã bỏ ngài để về Isipatana khi thấy ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh. Bằng trí tuệ, Đức Phật hiểu rằng họ là những người đầu tiên sẽ hiểu giáo pháp của ngài. Thật vậy, sau khi gặp lại năm người bạn Kondana, Bhaddiya , Vappa , Mahanama , Asaji, Đức Phật đã thuyết giảng bài kinh đầu tiên là Dhammacakkappavattana Sutta (kinh chuyển pháp luân) khiến cả năm người đều đạt giác ngộ theo giáo pháp của Đức Phật. Konnanda (Kiều Trần Như) sanh tại làng Donavatthu gần thành Kapilavatthu, thuộc gia đình Bà la môn danh tiếng. Tôn giả đứng đầu trong năm vị đạo sĩ cùng tu khổ hạnh với Đức Phật ở rừng Uruvela. Sau khi nghe pháp và đắc đạo, Tôn giả xin phép Đức Phật về ẩn tu trong rừng sâu tại Saddatavana, gần hồ Mandàkini.

Trong các truyền thuyết kể về sự  đắc pháp của năm tôn giả có nhiều tư liệu khác nhau về thời gian giác ngộ. Có thuyết nói rằng các tôn giả đắc pháp ngay sau khi nghe Đức Phật giảng bài kinh Chuyển Pháp Luân. Có thuyết nói các tôn giả lần lượt đắc pháp sau năm ngày.  Một số người dựa vào sự kiện “đạt giác ngộ sau khi nghe pháp” này để tin rằng: người tu có thể đạt được giác ngộ chỉ bằng “nghe” và “hiểu”! Sự thực thì như thế nào? Giáo pháp của Đức Phật thì đã ghi rõ ba phần thực hành : Giới-Định-Tuệ, vậy nếu “nghe-hiểu” rồi đạt giác ngộ thì qui trình này khó có thể thuộc về giáo pháp mà Đức Phật đã dạy. Dù năm tôn giả có đạt giác ngộ ngay sau khi nghe kinh hoặc sau năm ngày hoặc sau nhiều ngày nữa thì các sự kiện đó không quan trọng. Quan trọng và đáng chú ý  là năm tôn giả vốn là những người tu hành gian khổ rất nhiều năm trước đó. Cả năm tôn giả cùng với Đức Phật đều là học trò của các vị đại sư Arala kalama và Udraka-Ramaputta, nghĩa là chuyên tập thiền định và sức thiền định(samadhi) của các vị ấy có thể là đã ở mức thượng thừa. Vậy sẽ hợp lý hơn khi nghĩ rằng nhờ sức thiền định đã tu tập sẵn mà các tôn giả “biết” và “thấy” rõ các pháp tứ  diệu đế, bát chánh đạo. Hay nói cách khác, “biết” và “thấy” Tứ diệu đế, Bát chánh đạo qua sức thiền định giúp các tôn giả giác ngộ mau chóng.

Bài kinh “Chuyển Pháp luân” được ghi lại trong bộ kinh Tương Ưng (Samyutta Nikaya) chương 56, đoạn thứ 11 (SN:56, 11)

Dhammacakkappavattana Sutta

Kinh Chuyển Pháp Luân  (Trích: Đức Phật và Phật Pháp, Hòa thượng Narada, 1980- Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1998 )

Lúc ấy tôi có nghe như thế này:
” Một thời nọ, lúc Đức Thế Tôn ngự tại vườn Lộc Giả [2], xứ Isipatana [3], gần Benares, Ngài dạy năm vị tỳ khưu như sau:

“Hỡi nầy các Tỳ Khưu, có hai cực đoan (anta) mà hàng xuất gia (pabbajitena) phải tránh:

1.- Sự  dể duôi trong dục lạc – là thấp hèn, thô bỉ, phàm tục, không xứng phẩm hạnh của bậc thánh nhân, và vô ích.

2.- Sự thiết tha gắn bó trong lối tu khổ hạnh – là đau khổ, không xứng phẩm hạnh của bậc thánh nhân, và vô ích.

Từ bỏ cả hai cực đoan ấy, Như Lai [4] đã chứng ngộ “Trung Đạo” (Majjhima Patipada), là con đường đem lại nhãn quan (cakkhu) và tri kiến (nana) và đưa đến an tịnh (vupasamaya) [5], trí tuệ cao siêu (abhinnaya) [6], giác ngộ (sambhodhaya) [7], và Niết Bàn.

“Hởi nầy các Tỳ Khưu, con đường Trung Đạo mà Như Lai đã chứng ngộ, con đường đem lại nhãn quan, tri kiến và đưa đến an tịnh, trí tuệ cao siêu, giác ngộ và Niết Bàn là gì?

Đó chính là Bát Chánh Đạo (con đường có tám chi) – là Chánh Kiến (samma ditthi), Chánh Tư Duy (samma samkappa), Chánh Ngữ (samma vaca), Chánh Nghiệp (samma kammanta), Chánh Mạng (samma ajiva), Chánh Tinh Tấn (samma vayama), Chánh Niệm (samma sati), và Chánh Định (samma samadhi). Hỡi này các Tỳ Khưu, đó là “Trung Đạo” mà Như Lai đã chứng ngộ”.

(Đức Phật giảng tiếp):

“Hỡi này các Tỳ Khưu, bây giờ, đây là Chân Lý Thâm Diệu về sự Khổ (dukkha-ariya-sacca, Khổ thánh đế):

“Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sống chung với người mình không ưa thích là khổ, xa lìa những người thân yêu là khổ, mong muốn mà không được là khổ, tóm lại, chấp thân ngũ uẩn là khổ.” [8]

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, đây là Chân Lý Thâm Diệu về Nguồn Gốc của Đau Khổ (dukkha-samudaya-ariyasacca, Tập khổ thánh đế). Chính Ái Dục là nguyên nhân đưa đến sự tái sanh (ponobhavika).

Ái, hợp với tâm thiết tha khao khát, bám níu cái này hay cái kia (đời sống). Chính là Ái, đeo níu theo nhục dục ngũ trần (kamatanha), ái đeo níu theo sự sinh tồn (bhavatanha, sanh ái, luyến ái với ý tưởng cho rằng vạn vật là trường tồn vĩnh cửu), và ái, đeo níu theo sự không sinh tồn (vibhavatanha, vô sanh ái, luyến ái với ý tưởng cho rằng sau cái chết là hư vô).

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, đây là Chân Lý Thâm Diệu về Sự Diệt Khổ (dukkha-nirodha-ariyasacca, Diệt khổ thánh đế). Đó là xa lánh trọn vẹn và tận diệt chính tâm ái dục ấy. Đó là sự rời bỏ, sự từ khước, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục.

Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, đây là Chân Lý Thâm Diệu về Con Đường dẫn đến sự Diệt Khổ (dukkha-nirodha-gamini-patipada-ariya-sacca, Đạo diệt khổ thánh đế).

Đó là Bát Chánh Đạo: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định

-I-
(1) “Đây là Khổ Thánh Đế”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

(2) “Khổ Thánh Đế này phải được nhận thức (parinneya).”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

(3) “Khổ Thánh Đế này đã được nhận thức (parinnata).”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

-II-
(1) “Đây là Tập Khổ Thánh Đế.”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

(2) “Tập Khổ Thánh Đế này phải được tận diệt (pahatabba).”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

(3) “Tập Khổ Thánh Đế này đã được tận diệt (pahinam).”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

-III-
(1) “Đây là Diệt Khổ Thánh Đế.”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

(2) “Diệt Khổ Thánh Đế này phải được chứng ngộ (sacchikatabba).”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

(3) “Diệt Khổ Thánh Đế này đã được chứng ngộ (sacchikatam).”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

-IV-
(1) “Đây là Đạo Diệt Khổ Thánh Đế”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

(2) “Đạo Diệt Khổ Thánh Đế này phải được phát triển (bhavetabbam).”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

(3) “Đạo Diệt Khổ Thánh Đế này đã được phát triển (bhavitam).”

Như vậy, hỡi các Tỳ Khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước kia, nhãn quan, tri kiến, trí tuệ, minh sát tuệ và ánh sáng, phát sanh đến Như Lai.

(Để kết luận thời Pháp, Đức Phật dạy):

“Hỡi này các Tỳ Khưu, ngày nào mà tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn pháp thánh đế, dưới ba sắc thái và mười hai phương thức [9] chưa được hoàn toàn sáng tỏ thì, cho đến chừng ấy, Như Lai không xác nhận trước thế gian gồm chư Thiên, Ma Vương và Phạm Thiên, giữa các chúng sa môn, bà la môn, Trời và người, rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (anuttaram samma-sambodhim).

Đến khi, hỡi này các Tỳ Khưu, tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn pháp thánh đế, dưới ba sắc thái và mười hai phương thức, đã trở nên hoàn toàn sáng tỏ, chỉ đến chừng ấy, Như Lai mới xác nhận trước thế gian gồm chư Thiên, Ma Vương và Phạm Thiên, giữa các chúng sa môn, bà la môn, Trời và người, rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác

Và lúc ấy tri kiến và tuệ giác phát sanh đến Như Lai (nanadassana). Tâm của Như Lai đã hoàn toàn giải thoát một cách vững chắc, không còn lay chuyển, và đây là kiếp sống cuối cùng, không còn kiếp sinh tồn nào khác nữa.” [10]

Đức Phật giảng như thế ấy và các vị tỳ khưu lấy làm hoan hỷ tán dương lời dạy của Đức Thế Tôn.

Khi Đức Phật giảng xong thời Pháp, pháp nhãn (Dhammacakkhu) [11] của Ngài Kondanna (Kiều Trần Như) không còn vướng bụi, hết bợn nhơ, (và Ngài thấy rằng) “cái gì đã có sanh tức phải hoại diệt.”

Lúc Đức Thế Tôn chuyển Pháp Luân, chư Thiên trên quả địa cầu hoan hô: “Pháp Luân này quả thật tuyệt diệu! Không có sa môn, bà la môn, chư Thiên, Ma Vương hay Phạm Thiên nào trên thế gian có thể giảng được. Đức Thế Tôn đã vận chuyển Pháp Luân này trong vườn Lộc Giã, tại Isipatana, gần Benares (Ba La Nại).”

Nghe như vậy, chư Thiên ở các cung Trời Tứ Đại Thiên Vương, Đạo Lợi, Dạ Ma, Đấu Xuất Đà, Hoá Lạc Thiên, Tha Hoá Tự Tại, và chư Phạm Thiên ở cõi Phạm Chúng Thiên, Brahma Purohita, Đại Phạm Thiên, Thiều Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên, Thiều Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên Biến Tịnh Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Tưởng Thiên, Vô Phiên Thiên, và chư Phạm Thiên ở cảnh giới hoàn toàn tinh khiết, cảnh giới trường cửu, thanh tịnh, đẹp đẽ, quang đãng và tối thượng, cũng đồng thanh hoan hô.

Chính ngay trong lúc ấy, trong khoảnh khắc ấy, tiếng hoan hô thấu đến cảnh Phạm Thiên. Mười ngàn thế giới ấy đều chuyển động, lung lay và rung chuyển mạnh mẽ.

Một hào quang rực rỡ phát chiếu, rọi sáng thế gian, sáng tỏ hơn hào quang của chư Thiên nhiều. Đức Thế Tôn nói: “Kondanna quả đã chứng ngộ, Kondannna quả đã chứng ngộ”.

Do đó Ngài Kondannna có tên là Annata Kondannna.

—oOo—

Sáu mươi vị A La Hán đầu tiên

Năm ngày sau bài pháp đầu tiên, lúc các tôn giả đã đạt được giác ngộ, có một người tên là Yasa đã có duyên gặp giáo pháp của Đức Phật. Chuyện kể theo sách “Đức Phật và Phật Pháp” của Hòa Thượng Narada-Phạm Kim Khánh dịch:

– Tại thành Benares có con một nhà triệu phú tên Yasa, trưởng thành trong khung cảnh dồi dào phong phú. Một buổi sáng, chàng dậy sớm hơn mọi khi, và lúc nhìn các nàng hầu thiếp nằm ngủ ngổn ngang bừa bãi thì lấy làm nhờm chán. Ấn tượng ghê tởm này luôn luôn ám ảnh chàng. Toàn thể đền đài nguy nga tráng lệ bấy giờ đối với chàng chỉ còn là một nơi tối tăm buồn bã, đầy dẫy những hình ảnh thô kịch xấu xa. Nhận thức tánh cách tạm bợ của đời sống phàm tục, Yasa trốn nhà ra đi. Chàng nói: “Thống khổ thay cho tôi! Đọa đày thay cho tôi!” và đi về phía Isipatana, nơi mà Đức Phật tạm ngự sau khi độ năm vị tỳ khưu đắc Quả A La Hán [1].

Yasa đến nơi lúc Đức Phật đang đi kinh hành. Thấy chàng từ xa đến, Đức Phật bước ra ngoài đường kinh hành và ngồi lại một nơi đã dọn sẵn. Yasa đứng cách đấy không xa, than rằng: “Thống khổ thay cho con! Đọa đày thay cho con!”

Đức Phật dạy:

“Nơi đây không có thống khổ, hỡi này Yasa! Nơi đây không có đọa đày, này hỡi Yasa! Hãy đến đây, Yasa! Hãy ngồi xuống đây, Như Lai sẽ giảng Giáo Pháp cho con.”

Yasa lấy làm hoan hỷ được nghe những lời khuyến khích của Đức Phật. Chàng tháo đôi giày bằng vàng ra và đến gần Đức Phật, cung kính đảnh lễ Ngài và ngồi lại một bên. Đức Phật thuyết Pháp và sau khi nghe, chàng đắc Quả Tu Đà Hườn (Nhập Lưu), tầng thứ nhất trong bốn tầng thánh.

Đầu tiên, Đức Phật giải thích về hạnh bố thí (dana), giới luật (sila), những cảnh Trời (sagga), những tai hại của nhục dục ngũ trần (kamadinava), về phước báu của sự xuất gia (nekkhammanisamsa). Đến khi nhận thấy tâm của Yasa bắt đầu thuần thục và sẵn sàng lãnh hội giáo lý cao siêu, Ngài giảng về Bốn Chân Lý Thâm Diệu (Tứ Diệu Đế).

Mẹ của Yasa là người đầu tiên ghi nhận sự vắng mặt của con. Bà báo cho chồng. Nhà triệu phú liền ra lệnh cho gia đinh cỡi ngựa đi tìm bốn phương và chính ông đi về hướng Isipatana. Khi nhận ra dấu đôi giày bằng vàng của Yasa in trên đất, ông phăng lần đến nơi Đức Phật.

thấy ông từ xa đến, Đức Phật dùng thần thông không cho ông nhận ra con. Nhà triệu phú đến gần Đức Phật và cung kính hỏi thăm Ngài có thấy con ông không? Đức Phật bảo: “Hãy ngồi lại đây. Con sẽ được gặp mặt con của con”. Nghe vậy, ông triệu phú lấy làm mừng rỡ, vâng lời ngồi xuống. Đức Phật giảng cho ông một thời Pháp. Ông rất hoan hỷ bạch:

“Lành Thay! Lành thay! Bạch hóa Đức Thế Tôn, cũng tựa hồ như có người kia dựng lại ngay ngắn một vật gì đã bị lật đổ, hay khám phá ra một vật đã được giấu kín, hay vạch đường chỉ lối cho người lạc bước, hay cầm ngọn đèn rọi sáng trong đêm tối để cho ai có mắt có thể trông thấy, Giáo Pháp mà Đức Thế Tôn giảng dạy bằng nhiều phương thức cũng dường thế ấy.

Bạch Đức Thế Tôn, con xin quy y Phật, Pháp và Tăng. Xin Đức Thế Tôn thâu nhận con vào hàng thiện tín. Xin Ngài cho phép con nương tựa nơi Tam Bảo, từ ngày này đến giờ phút cuối cùng của đời con.”

Ông là người thiện nam đầu tiên thọ lễ quy y với đầy đủ ba ngôi Tam Bảo. Khi nghe Đức Phật thuyết Pháp cho cha, Yasa đắc quả A La Hán. Vừa lúc ấy, Đức Phật thâu thần thông để nhà triệu phú nhìn thấy con. Ông lấy làm vui mừng, thỉnh Đức Phật cùng vị đệ trử về nhà trai tăng ngày hôm sau. Đức Phật chấp nhận bằng cách làm thinh.

Sau khi ông triệu phú ra về, Yasa xin Đức Phật cho thọ lễ xuất gia sa di và tỳ khưu . Đức Phật truyền giới cho Yasa với những lời sau đây:

“Hãy đến đây hỡi Tỳ Khưu! Giáo Pháp đã được truyền dạy đầy đủ. Hãy sống đời phạm hạnh thiêng liêng của bậc xuất gia để chấm dứt mọi đau khổ. [2]“

Với Đức Yasa, tổng số các vị A La Hán lúc bấy giờ tăng lên sáu. Ngày hôm sau, Đức Phật đến nhà ông triệu phú với sáu vị đệ tử A La Hán. Hai bà — mẹ và bà trước kia là vợ của Ngài Yasa — đến nghe Đức Phật thuyết pháp, đắc quả Tu Đà Hườn và xin thọ lễ quy y Tam Bảo. Hai bà là những người tín nữ đầu tiên. [3]

Đại Đức Yasa có bốn người bạn tên Vimala, Subahu, Punnaji và Gavampati. Khi bốn vị này đã nghe tin người bạn cao quý của mình đã cạo râu tóc và đắp y để sống đời không nhà cửa, không sự nghiệp, thì đến thăm và tỏ ý muốn noi theo gương lành ấy. Đức Yasa tiến dẫn cả bốn vào yết kiến Đức Phật, và sau khi nghe Pháp, cả bốn đều đắc Quả A La Hán.

Năm mươi người bạn trứ danh khác của Đại Đức Yasa, tất cả đều thuộc về các gia đình nổi tiếng nhất trong vùng, cũng đến thính Pháp, đắc Quả A La Hán và xuất gia tỳ khưu. Trong khoảng gần hai tháng, đã có sáu mươi vị thành đạt Đạo Quả A La Hán. Tất cả sáu mươi vị đều sanh trưởng trong những gia đình danh giá nổi tiếng và đều là con ưu tú của các người cha đáng kính.

Hình ảnh của khu di tích Sarnath

Cổng vào khu di tích Sarnath
Sơ đồ các khu vực khai quật tại Sarnath (Lộc Uyển)

Alexander Cunningham tìm lại được dấu tích của Sarnath trong một khu rừng tươi tốt, nơi có một cái tháp cao hơn 40 mét, mà bây giờ ta biết là tháp Dhamekh. Tất cả những tháp (stupa) và các công trình khác đều bị quân Hồi phá hủy, chỉ còn sót lại những nền gạch. Sơ đồ khai quật cho thấy tổng thể của Sarnath cho thấy ngoài hai tháp lớn là Dhamekh và Dharmarajika còn rất nhiều các đền (temple), tu viện (monastery) và cột đá Asoka.

Nền gạch còn sót lại của Darmarajika stupa
Nền gạch còn sót lại của Darmarajika stupa

Khu di tích được bảo tồn rất đẹp với không gian rộng và thảm cỏ xanh được chăm sóc chu đáo. Ta có thể nhìn thấy từ xa tháp Dhamekh bên tay trái. Bên tay phải là đền thờ của đạo Jain (Kì Na giáo). Sarnath cũng là nơi hành hương của tín đồ đạo Jain.

Tháp Dhamekh đánh dấu nơi Đức Phật giảng bài kinh đầu tiên cho năm tôn giả.

Rời sarnath, chúng tôi đi rảo một vòng các khu vực lân cận. Tất cả các đền thờ trong khu vực đều thuộc về Ấn Giáo.

Tại một đền thờ Ấn Giáo ở Varanasi
Tại một đền thờ Ấn Giáo ở Varanasi

Sarnath- Lộc Uyển- Chư thiên đọa xứ là nơi cuối cùng trong bốn “nơi động tâm” mà chúng tôi đã viếng thăm. Các vùng đất thiêng này chỗ nào bây giờ cũng náo động và tràn ngập khách du lịch và khách hành hương. Riêng chỉ có Sarnath hôm nay là thực sự vắng vẻ và yên tĩnh. Cảm giác an lạc trên thảm cỏ tại isipatana này là một trải nghiệm thực sự  ấn tượng khó quên. Ngồi đây ta dễ dàng hình dung lại Đạo Phật trong trọn vẹn cội nguồn nguyên thủy. Bài thuyết giảng đầu tiên của Đức Phật vạch ra con đường mà Đức Phật đã đi và cũng muốn những người hữu duyên cũng đi đúng như vậy. Bài pháp đầu tiên chính là một tuyên ngôn: Bốn chân lý là nền tảng của giáo pháp. Trung đạo và Tám chánh đạo là phương pháp luận. Khi ái dục chấm dứt, vòng luân hồi sẽ kết thúc.

Không biết quanh đây hoặc từ trên trời cao còn có chư  thiên nào đang đáp xuống hay không? Dù chỉ là huyền thoại hay một sự thực bí mật thì chiều nay tại Isipatana tôi cũng có một cảm giác tuyệt vời!

000O000

Giã từ  Sarnath, Varanasi chúng tôi lên xe lửa để bắt đầu chuyền hành trình đi về Agra để thăm Pháo đài đỏ và đền Taj Mahahl trước khi quay về New Delhi để kết thúc chuyến đi.

Ga xe lửa Varanasi
Ga xe lửa Varanasi

Cậu bé Varanasi này đi cùng toa tàu

Một sinh viên Hàn Quốc đi chung tàu

Cổng vào Red Fort - Agra
Cổng vào Red Fort – Agra

Bên trong Pháo đài Đỏ (Red Fort)- Agra

Cổng vào Đền Taj Mahal

Trước Đền Taj Mahal

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s