THiện Bằng Hữu – Good Friends

Mục Lục

I.          LỜI NÓI ĐẦU

II.        CÁCH NIỆM HƠI THỞ

1. Niệm Hơi Thở Bước Một

2. Niệm Hơi Thở Bước Hai

3. Niệm Hơi Thở Bước Ba

4. Niệm Hơi Thở Bước Bốn

III.      LÀM CÁCH NÀO ĐỂ ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU

Bài Kinh Kūṭāgāra

Kinh Koṭigāma

Sự Thật Cao Thượng Về Khổ (Khổ Thánh Đế)

Khổ Tập Thánh Đế (Sự Thật Về Nguyên Nhân Của Khổ)

Thánh Đế Khổ Diệt

Thánh Đế Về Con Đường Đưa Đến Khổ Diệt (Đạo Đế)

Kinh Chánh Định

Niệm Hơi Thở

Những Trú Xứ Thích Hợp Cho Thiền  30

Tỷ Dụ Về Con Bê Hoang

Tỷ Dụ Về Con Báo.

Để Thở Vào Và Thở Ra Một Cách Tỉnh Giác

Hơi Thở Dài Và Hơi Thở Ngắn

Toàn Thân Hơi Thở

Hơi Thở Vi Tế

Kết Hợp Thành Một

Nimitta Và Ánh Sáng

Nimitta Của Hơi Thở Là Gì?

Hai Loại Định

Suy Xét Các Thiền Chi

Năm Pháp Thuần Thục

Hành Giả Assāsakammika (Hành Giả Phân Biệt Sắc Trước) Và Làm Cách Nào Phân Biệt Sắc

Hai Mươi Tám Loại Sắc

Hành Giả Jhānakammika

Làm Thế Nào Để Phân Biệt Danh

Quán Thân Trên Ngoại Thân

Bốn Giai Đoạn Phân Tích Danh-Sắc

Có Hai Loại Sanh Và Diệt

Sự Sanh Do Duyên Sanh Của Danh Và Sắc.

Quán Tánh Diệt

Quán Cả Tánh Sanh Và Tánh Diệt

Sự Sanh Và Diệt Do Duyên Với Thiền Niệm Hơi Thở

Giai Đoạn Thứ Ba Của Thiền Vipassanā

Bốn Thánh Đế

IV.    PHÁP THÀNH TỰU VÀ PHI THÀNH TỰU

Pháp Thành Tựu

Pháp Phi Thành Tựu

Vận Hành Của Pháp Thành Tựu Và Pháp Phi Thành Tựu

Pháp Thành Tựu Vô Hiệu Lực Nghiệp Bất Thiện.

Pháp Phi Thành Tựu Đã Trợ Duyên Cho Nghiệp Bất Thiện Trổ Sanh

Pháp Phi Thành Tựu Đã Làm Vô Hiệu Lực Thiện Nghiệp

Các Pháp Thành Tựu Trợ Duyên Cho Nghiệp Thiện

V.     THỪA TỰ PHÁP

Ba-La-Mật (Pāramī)

Phần Cuối Của Kinh Thừa Tự Pháp

VI.    SỰ QUÁN TƯỞNG VỀ GIÂY PHÚT HẤP HỐI TRÊN GIƯỜNG BỆNH

Lời Nói Đầu

Phẩm A-Tu-La (Bài Thuyết Giảng Về Ngạ Quỷ Sứ)

Phẩm Định Thứ Hai (Dutiya Samādhi Sutta)

Phẩm Khúc Củi Cháy Dở (Chavalata Sutta)

Phẩm Khả Năng Biết Nhanh (Khippanisanti Sutta)

Mười Phiền Não Lậu Hoặc

Chương 1. Kinh Bậc Xuất Gia Thường Quán Xét Pabbajita Abhiṇha Sutta

Chương 2. Đời Sống Tu Hành Lệ Thuộc Vào Thí Chủ

Chương 3. Sự Chuyển Hóa Oai Nghi Và Phong Cách Cư Xử

Chương 4. Quán Tưởng Đạo Đức Cá Nhân

Chương 5. Phòng Vệ Giới Đức Khỏi Sự Nghi Ngờ Hoặc Bị Chất Vấn Về Giới Hạnh

Chương 6. Xa Lìa Tất Cả Những Người Thân Yêu Và Mọi Thứ Trong Cuộc Sống

Chương 7 Nghiệp Là Thừa Kế Của Ta

Chương 8. Ta Đã Sử Dụng Thời Gian Ngày Và Đêm Như Thế Nào?

Chương 9. Liệu Ta Có Thật Sự Thích Sống Độc Cư Không?

Chương 10. Khi Hấp Hối Trên Giường Bệnh

LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc hành trình của chúng ta trên con đường sanh tử luân hồi (saṃsāra) vô cùng gian truân và nghiệt ngã bởi chúng ta chưa thấu suốt được các Pháp về Tứ Thánh Đế với sự hiểu biết đúng đắn về Tam tướng. Mặc dù cuộc hành trình sanh tử luân hồi này quá dài đến nổi không thể nhận thức được điểm khởi đầu, tuy nhiên, điểm kết thúc quả thực là có thể biết được. Điều quan trọng ở đây là cố gắng làm sao thể nhập được Tứ Thánh Đế bằng cách học hỏi với một vị thầy. Đức Phật luôn nhắc nhở chúng ta điều này. Mặc dù, thực ra, Đức Phật là vị thầy tối thượng trong tất cả các vị thầy. Nhưng tiếc thay, Đức Phật đã không còn tại thế nữa. Từ khi Đức Phật nhập diệt Vô Dư Niết Bàn thì Tam Tạng Kinh trở thành vị thầy chính của chúng ta, cũng như là người bạn đồng hành đáng tin cậy của chúng ta. Giờ đây, chúng ta hoàn toàn dựa vào người bạn đáng tin cậy này trong cuộc giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra).

Các bạn đồng hành có thể được chia ra làm bốn loại như sau: (1) hạng thứ nhất là người có năng lực truyền đạt lời dạy như từ kim khẩu của Đức Phật. (2) hạng thứ hai là người có khả năng tổ chức hoằng hoá Tam Tạng Kinh được kết tập bởi các bậc Trưởng lão y theo Giáo Pháp của Đức Thế Tôn. (3) hạng thứ ba, người có thể thu thập được các Chú giải những lời được giảng bởi Đức Phật. (4) Và, hạng thứ tư là người tổ chức truyền thừa Giáo Pháp được biết đến bởi các bậc Trưởng lão danh tiếng như Ngài Mahasiva, Mahapaduma và những vị khác của thời đại Sinhal.

Trong bốn loại bạn ví dụ như loại thứ nhất, có sức mạnh truyền đạt chính xác lời dạy quý báu (được ghi chép bằng tiếng Pāli) từ kim khẩu của Đức Phật thì không còn nghi ngờ gì nữa, đó là người bạn tốt nhất. Tuy nhiên, Giáo Pháp vô cùng thâm sâu và trừu tượng. Nếu ai không đủ khả năng để hiểu thấu đáo những lời dạy này thì chẳng khác nào một con thỏ muốn thăm dò đại dương. Vì thế, chắc chắn chúng ta sẽ phải cần sự giúp đỡ của ba loại bạn kia.

Ngài Thiền Sư Pa-Auk hết sức khả kính của chúng ta đã nhận thức được điều đó và do đó, tất cả các bài thuyết pháp và bài viết của Ngài đều được ghi chép đầy đủ với các tham chiếu cần thiết với Chú giải bằng tiếng Pāli. Bộ sách năm tập phi thường tên là Pháp Hành Dẫn Đến Niết-bàn (Nibbānagāmini Paṭipadā)của Ngài đã được viết và đúc kết theo lối ấy. Toàn bộ bộ sách chỉ nhằm mục đích chỉ rõ cho chúng ta làm thế nào tiếp cận những loại bạn này. Ngài Thiền Sư bảo chúng tôi rằng điều đó có nghĩa để tạo một chiếc cầu hoặc chiếc bàn đạp đến Chú giải Thanh Tịnh Đạo. Điều mong ước của ngài Thiền Sư rằng các vị học trò và đệ tử của ngài sẽ tin tưởng vào các người bạn tốt này như là ngài vẫn đang làm.

Quyển sách nhỏ này sẽ giúp cho bạn đọc cách tiếp cận các vị thầy giỏi và bạn tốt trong Giáo Pháp, ngõ hầu tiến hoá trên con đường tâm linh để liễu tri Tứ Thánh Đế với sự tham chiếu rõ ràng với các bài kinh. Quyển sách chỉ cho ta biết Tứ Thánh Đế là gì; việc thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra) là điều không thể nếu không tuệ tri Tứ Thánh Đế; rằng phát triển Định lực (samādhi) là điều thiết yếu để đạt được sự tuệ tri Tứ Thánh Đế. Nó còn mô tả cách thực hành niệm hơi thở (ānāpānasati) một cách có hệ thống, đây cũng là một trong những phương pháp phát triển định tâm (samādhi). Mặc dù nó không chỉ dẫn chi tiết làm thế nào một hành giả từ lúc thực hành phát triển định tâm có thể tiến triển đến lúc chứng đạt quả vị A-la-hán bằng cách phân biệt các Pháp về nhân quả, về Danh Sắc và về các tâm sở khác. Tuy nhiên, quyển sách này còn chỉ rằng chúng ta phải dựa vào vị thầy giỏi và bạn tốt trong tu tập nhiều như thế nào là đúng đắn.

Bài pháp về ‘Sợi dây trói buộc’ (Gaddula-baddha Sutta), về bốn pháp thành tựu và phi thành tựu, bài pháp ‘Thừa Tự Pháp’, và những điều cần luôn quán tưởng của bậc xuất gia (Pabbajita-abhiṇha Sutta) được trình bày trong hình thức quyển sách này để giữ cho người đọc sự quan tâm và chú ý nghiêm túc.

Chủ ý của tôi là đem lại sự nhận biết chủ đích của Ngài Thiền Sư Pa-Auk cho độc giả. Vì vậy, tôi quyết định cách tốt nhất và hiệu quả nhất là đưa ra (thuyết giảng lại) các bài pháp của Ngài Viện trưởng được chuyển từ tiếng Miến sang tiếng Anh. Tôi đã tập hợp các bài do Ngài Viện trưởng Pa-Auk đã thuyết từ các năm qua. Những bài trong quyển sách này đã được giảng trong mùa an cư kiết hạ lần thứ nhất của tôi tại Việt Nam năm 2008. Các bài này sau đó đã được phát hành ra trong nhiều ngày. Rải rác trong các bài pháp là các mẫu chuyện nhỏ dựa trên kinh nghiệm sống cá nhân tôi trong khi thu hoạch sự hiểu biết trưởng thành hàng ngày qua thiền tập. Hành giả dường như rất hưởng ứng với các chia sẻ này.

Tôi dám chắc rằng lý do mà quyển sách này được quan tâm ra đời là nhờ có niềm tin sâu sắc của Phật tử Việt Nam đối với Giáo Pháp (sāsana) của Đức Phật, với sự đồng hành khéo léo của nhóm biên, phiên dịch, góp phần đem lại niềm tin của thiền sinh nơi Giáo Pháp. Đối với người thuyết, những sự nhận thức này quả thực đáng ghi nhớ. Bởi bài Pháp đã được giảng hằng ngày và các bản in được phát hành tại chỗ. Ngay trước khi kết thúc bài pháp, các tài liệu đã có sẵn. Một người phụ trách trang Phật học ‘Buddha Sāsana’ tại Úc, ông Bình Anson đã ngỏ ý muốn phát hành và ấn tống quyển sách này như một món quà. Với mong muốn này, quyển sách đã được hoàn chỉnh và ra đời theo tâm nguyện của thí chủ ngõ hầu làm cơ sở cho các Phật tử học hỏi sau này.

Làm trường tồn Giáo Pháp của Đức Phật (Buddha Sāsana) cũng chính là mục tiêu chính của chúng tôi. Và, vì thế, việc tái ấn tống, sao chép quyển sách này không cần phải xin phép tác giả và nhà xuất bản.

Tỳ-kheo Dhammapala (Trung Tâm Thiền Pa-Auk)

Tháng 9 năm 2009

Chuyển ngữ từ tiếng Miến sang tiếng Anh: Ban Biên Tập, trung tâm thiền Pa-Auk,

Trích “Vận hành của Nghiệp” và các bài khác cùng Tác giả

Ngài Thiền Sư Viện Trưởng Pa-Auk, Myanmar.

Thực hiện bởi nhóm phiên, biên dịch và đánh máy tại TP Hồ Chí Minh,

Tu nữ Santacitta, Tu nữ Minh Duyên, Nguyệt Minh và Aggañani

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

I. CÁCH NIỆM HƠI THỞ

1. Niệm Hơi Thở Bước Một

Kính thưa hành giả hôm qua tôi đã nói cho quý vị nghe về nơi chốn thích hợp cho việc hành thiền. Tối nay tôi xin nói về các chi tiết trong việc thực hành niệm hơi thở. Phương pháp đếm được sử dụng cho hành giả nào có quá nhiều phóng tâm, còn đối với những hành giả có ít phóng tâm và đã từng có những kinh nghiệm thiền tập trước đây thì họ không cần thực tập phương pháp đếm này. Trong chú giải có giải thích về cách sử dụng phương pháp đếm này ra sao. Khi đếm xin quý vị không đếm dưới năm và không đếm quá mười. Lý do chúng ta không đếm dưới năm là vì khi đếm số ít quá, tâm của quý vị có cảm giác giam hãm và tù túng. Trong chú giải ví dụ giống như một đàn gia súc bị nhốt vào một chỗ quá nhỏ và chật hẹp. Còn nếu như hành giả nào đếm quá mười thì khi đó tâm của quý vị chỉ chú ý đến con số đếm mà quên mất đối tượng chính là hơi thở của mình. Điều thứ ba cần nhớ là không được gián đoạn và ngắt giữa số đếm vì lúc đó tâm sẽ thắc mắc, không biết là đã đếm đến số nào, tâm nghĩ rằng không biết mình đã đếm đến số năm hay số bảy rồi.

Trong chú giải có đưa ra thí dụ đầu tiên trong phương pháp đếm là giống như người chuyên đong gạo, cách đếm này rất chậm rãi. Theo phương pháp này, khi thở vào từ lúc bắt đầu thở vào đến lúc hơi thở kết thúc, quý vị đếm một, một, một… liên tục như vậy. Khi thở ra từ lúc bắt đầu thở ra cho đến khi hơi thở ra kết thúc quý vị đếm một, một, một… liên tục như vậy. Bởi vì có những hành giả phàn nàn với tôi rằng ngay trong một hơi thở vào-ra, họ đã có phóng tâm. Thành ra nếu người nào có quá nhiều phóng tâm như vậy thì nên thực tập theo kiểu đếm chậm tức là đếm một, một, một, …liên tục cho đến khi hơi thở chấm dứt. Quý vị có thể dừng lại bất cứ con số nào từ năm đến mười, hoặc sáu, hoặc bảy, hoặc tám, hoặc chín hoặc mười v.v..Chúng tôi đề nghị nên lấy số tám vì nó nhắc nhở cho chúng ta Bát Thánh Đạo là con đường quý vị cố gắng phát triển để thành tựu.

Phương pháp đếm thứ hai là khi hơi thở đã rõ thì đếm như kiểu đếm bò. Khi hơi thở đã trở nên rõ thì quý vị có thể từ phương pháp đếm chậm như trên chuyển sang phương pháp kiểu đếm bò tức là đếm nhanh hơn. Khi biết rõ hơi thở vào và hơi thở ra quý vị đếm một, khi biết rõ hơi thở vào và hơi thở ra đếm hai v.v… và cứ tiếp tục như vậy. Tôi xin giải thích tại sao lại được đếm như kiểu đếm bò. Mỗi buổi sáng người chăn bò lùa bò ra đồng và anh ta sẽ ngồi ngay tại cổng và chuẩn bị sẵn một cái túi và những viên sỏi. Mỗi khi từng con bò đi ra khỏi cổng, anh ta sẽ bỏ một viên sỏi vào trong túi và đếm một, hai, ba, bốn, năm, sáu v.v…

Khi đếm theo kiểu này hơi thở ra và vào sẽ nhanh, nhưng quý vị chú ý biết hơi thở không trước và không sau khi nó đi qua điểm xúc chạm tức là ngay khi nó ở điểm xúc chạm thì quý vị sẽ đếm. Khi thực hành phương pháp đếm này giúp hành giả gom tâm hợp nhất lại, để tâm trên đối tượng giống như bánh lái có thể giữ được con thuyền đứng yên trong dòng nước chảy xiết vậy. Điều này có nghĩa là hành giả không được can thiệp hoặc tác động vào hơi thở tự nhiên của mình, đừng cố điều chỉnh hoặc sửa hơi thở mà chỉ điềm tỉnh nhẹ nhàng biết hơi thở tự nhiên khi nó ra-vào tại điểm xúc chạm và đến cuối mỗi hơi thở thì quý vị đếm một, hai, ba v.v…Với kiểu đếm này hành giả có thể dễ dàng định tâm một cách nhẹ nhàng trên đối tượng hơi thở, một điểm nữa là quý vị nhận biết được hơi thở tại điểm nào.

Khi đếm nhanh kiểu này thì hơi thở phát triển rõ rệt nhưng tiến trình hơi thở không bị gián đoạn, cứ tiếp tục đếm và biết rõ hơi thở không trước và cũng không sau, chỉ đúng lúc hơi thở đi qua điểm xúc chạm, không đi vào trong cũng không đi ra ngoài. Nếu hành giả theo hơi thở vào bên trong cơ thể quý vị sẽ có cảm giác phía bên trong chứa đầy gió và nó căng phồng lên như một quả bóng đầy hơi. Đó là lý do tại sao khi thiền với đối tượng Chánh niệm hơi thở thì quý vị không đi theo hơi thở vào bên trong cơ thể mà chỉ luôn luôn để tâm tại điểm xúc chạm.

Tôi khuyên các hành giả, không để tâm mình chạy theo hơi thở vào bên trong cơ thể, bởi vì nhiều hành giả cảm thấy bị nhức đầu hoặc cảm thấy căng do đặc tính đẩy của gió rất mạnh khi quý vị theo hơi thở vào bên trong cơ thể. Khi đặc tính đẩy của gió rõ ràng thì lập tức đặc tính cứng của đất cũng sẽ dần dần xuất hiện và các đặc tính khác của hơi thở như mười hai đặc tính của hơi thở càng lúc càng rõ ràng hơn. Như vậy quý vị đã đổi tâm sang một đối tượng khác là đặc tính của tứ đại chứ không phải là đối tượng hơi thở nữa. Tương tự như vậy, hành giả cũng không để tâm theo hơi thở đi ra bên ngoài cơ thể. Tức là khi hơi thở xúc chạm vào phần dưới chóp mũi và phía trên của môi trên nó sẽ đi ra ngoài. Nếu hành giả theo hơi thở ra ngoài, tâm sẽ bị phân tán theo các đối tượng bên ngoài.

Khi thực hành phương pháp đếm, đến một lúc quý vị sẽ có một câu hỏi, “Khi nào mình có thể dừng phương pháp này lại?”. Câu trả lời là, “Hành giả có thể dừng phương pháp đếm khi tâm của hành giả tự nó có thể giữ được trên đối tượng hơi thở Vào-Ra mà không cần phải gắng sức hay nỗ lực. Khi tâm không còn lang thang hay lăng xăng nữa.” Phương pháp đếm là một phương tiện để đối trị phóng tâm, tránh cho sở hữu tầm không vượt ra ngoài một đối tượng nào khác ngoài đối tượng hơi thở. Phương pháp này giúp hành giả có chánh niệm trên đối tượng hơi thở. Một khi tâm đã yên ổn và hay biết hơi thở một cách liên tục không gián đoạn thì phương pháp đếm không cần thiết nữa. Vậy hành giả nào có thể nhận biết hơi thở một cách rõ ràng thì không cần dùng phương pháp đếm nữa.

Điều quan trọng hành giả nên nhớ khi thực tập phương pháp đếm là luôn luôn giữ tâm tại điểm xúc chạm, không theo hơi thở đi vào bên trong cơ thể hoặc đi ra ngoài cơ thể. Trong Thanh Tịnh Đạo có ba ví dụ để giải thích điểm này. Thí dụ thứ nhất là một người bị tật ở chân ngồi đưa xích đu, thí dụ thứ hai là người gác cổng, thí dụ thứ ba là một người thợ cưa.

– Thí dụ thứ nhất, một người bị tật ở chân ngồi yên cạnh một chiếc xích đu để đẩy chiếc xích đu cho bọn trẻ và mẹ của anh ta. Không hề rời khỏi chỗ của mình anh ta ngồi quan sát hình vòng cung mà chiếc xích đu tạo nên khi nó chuyển động lên xuống. Cũng như thế đó, một vị Tỷ-kheo tu tập Chánh niệm hơi thở, đặt tâm mình tại điểm xúc chạm theo dõi hơi thở Ra-Vào cũng giống như người bị tật ngồi yên nhìn hình vòng cung mà chiếc xích đu tạo ra khi nó chuyển động lên xuống.

– Thí dụ thứ hai, một người gác cổng, anh ta không kiểm tra từng người khi họ ra vào thành phố và cũng chẳng hỏi xem họ là ai, từ đâu đến và có cầm gì trên tay hay không? Bởi vì những điều này không phải là phận sự của anh ta, anh ta không quan tâm đến chi tiết của từng người. Nhiệm vụ của anh là ngồi đó để thấy mỗi người khi họ đi ra vào tại cổng. Cũng tương tự như vậy hơi thở khi đi vào trong cơ thể hoặc đi ra ngoài cơ thể không phải là mối quan tâm của hành giả. Hành giả chỉ nhận biết khi nó đi ngang qua điểm xúc chạm trong phạm vi giữa chóp mũi và phía trên của môi trên.

– Thí dụ thứ ba, người thợ cưa cắt một thân cây nằm trên mặt đất. Chánh niệm của anh ta được đặt trên răng cưa nơi cái cưa tiếp xúc với thân cây. Anh ta không cần để ý đến lưỡi cưa khi nó di chuyển vào phía bên trong hoặc bên ngoài mình. Bằng cách đó anh ta nỗ lực thực hiện nhiệm vụ của mình và cuối cùng thành tựu kết quả cưa ngang qua thân cây. Ở đây thân cây được ví như điểm xúc chạm và răng cưa được ví như hơi thở. Cũng như thế đó, chánh niệm của vị Tỷ-kheo được cột chặt vào hơi thở tại điểm xúc chạm trong vùng từ chóp mũi đến phía trên của môi trên, cũng giống như người thợ cưa chỉ để ý đến răng cưa nơi mà nó tiếp xúc với thân cây chứ không để ý đến lưỡi cưa khi nó đi vào hay đi ra.Và cũng như vậy vị Tỷ-kheo không chú ý đến hơi thở khi nó đi vào trong hoặc đi ra ngoài cơ thể mà vị đó chỉ tinh tấn thực hiện nhiệm vụ là thấy được hơi thở tại điểm xúc chạm và cuối cùng thành tựu được kết quả.

Tinh tấn ở đây có nghĩa là gì? Tinh tấn để tạo ra và thành tựu một số phẩm chất của tâm. Tinh tấn được thể hiện ở chỗ hành giả đầy nhiệt huyết và không mệt mỏi, miên mật để tâm và thân mình vào nhiệm vụ giữ và phát triển chánh niệm trên đối tượng là niệm hơi thở. Với nỗ lực đó tâm hành giả trở nên vô cùng nhu nhuyến, dễ thuần hóa và dễ thành công trong bất cứ một việc gì. Nhiệm vụ ở đây là gì? Nhiệm vụ ở đây được hiểu là diệt trừ những ô nhiễm của tâm cũng như những triền cái tham, sân, hoài nghi, trạo cử, hôn trầm thụy miên. Khi đắc sơ thiền các triền cái bị diệt trừ. Khi đắc nhị thiền, tầm bị diệt và cuối cùng kết quả hành giả đạt được là những trói buộc và dính mắc của tâm bị diệt trừ, các ô nhiễm ngủ ngầm đi đến chỗ đoạn diệt và đó là lúc hành giả đạt đến quả vị A-la-hán. Thành quả này được biểu hiện trong một bài thơ của vị A-la-hán, Ngài Mahā Kappina,

Những ai dần dần

Phát triển và thành tựu viên mãn

Chánh niệm hơi thở

Theo lời dạy của Đức Thế Tôn

Người đó sẽ tỏa sáng chói chang

Giữa cuộc đời này

Giống như mặt trăng

Thoát khỏi mây đen.

Nếu viên mãn chánh niệm trên hơi thở ra vào tại điểm xúc chạm, hành giả nhớ không đi theo hơi thở vào bên trong hoặc ra ngoài cơ thể, định sẽ dần dần phát triển và lúc đầy đủ hành giả sẽ đắc được thiền. Khi hành giả làm được điều này tức là hành giả thành công trong việc thực hành Giáo Pháp của Đức Phật dạy chánh niệm hơi thở. Đức Phật dạy rằng, “chánh niệm vị ấy thở vào, chánh niệm vị ấy thở ra.” Đây là những cơ bản trong bước thực tập hơi thở, tôi nghĩ quý vị là người biết rõ nhất là mình có thể thực tập được điều này hay không? Tôi thấy phần lớn hành giả thường phải đánh vật với những phóng tâm của mình. Do vậy tôi nhắc đi nhắc lại với các hành giả rằng một khi còn trong tình trạng đánh vật với phóng tâm của mình thì quý vị cứ nên thực tập phương pháp đếm cho đến khi nào quý vị biết được hơi thở ra – vào một cách hết sức rõ ràng. Và phương pháp đếm sẽ không còn cần thiết nữa nếu như hành giả có thể thực tập được phương pháp này trong một tiếng đồng hồ mà không có một phóng tâm nào, và như vậy hành giả có thể chuyển sang bước tiếp theo.

2. Niệm Hơi Thở Bước Hai

Bước tiếp theo đức Phật dạy, “Thở vào một hơi dài vị ấy biết ta đang thở vô dài. Thở ra một hơi dài vị ấy biết ta đang thở ra dài. Thở vô một hơi ngắn vị ấy biết ta đang thở vô ngắn. Thở ra một hơi ngắn vị ấy biết ta đang thở ra ngắn.” Tôi xin giải thích cho quý vị nghe thế nào là hơi thở ngắn thế nào là hơi thở dài. Hơi thở ngắn và dài ở đây không có ý nói chiều dài về không gian có thể được tính bằng centimeter hoặc bằng inch. Nó được hiểu là thời gian ngắn và dài trong suốt quá trình hơi thở xảy ra. Hơi thở dài được biết là thời gian xúc chạm dài, hơi thở ngắn là thời gian xúc chạm mau. Vì vậy thời gian hơi thở đi ngang qua điểm xúc chạm dài gọi là hơi thở dài và thời gian hơi thở đi ngang qua điểm xúc chạm ngắn gọi là hơi thở ngắn. Trong đời thường chúng ta có thể hiểu được hơi thở dài và ngắn một cách dễ hiểu như sau, hơi thở dài tức là khi chúng ta thở chậm, khi nào chúng ta thở nhanh sẽ có hơi thở ngắn. Trong trường hợp này làm thế nào chúng ta có thể biết được hơi thở dài và hơi thở ngắn. Làm sao chúng ta có thể nhận biết được độ dài của hơi thở.

Khi bắt đầu thực tập niệm hơi thở quý vị thực tập phương pháp đếm để làm định tâm của mình. Khi hơi thở trở nên vi tế tâm ổn định, không còn những phóng tâm thì quý vị chuyển sang chỉ nhận biết hơi thở dài và ngắn mà thôi. Trong suốt nửa tiếng đồng hồ khi hành giả ngồi vào bắt đầu phương pháp nhận biết hơi thở thì trong nửa tiếng đó quý vị chỉ nhẹ nhàng nhận biết hơi thở ra- vào, sau nửa tiếng đó hành giả nhận biết nó dài hay ngắn. Hành giả biết được hơi thở dài hay hơi thở ngắn bằng thời gian hơi thở đi ngang qua điểm xúc chạm là dài hay ngắn, lâu hay mau.

Tự hành giả sẽ quyết định là đối với mình hơi thở này được xem là dài hay ngắn tùy theo thời gian lâu hay mau. Hành giả phải xác định được hơi thở này dài hay ngắn trong mỗi một hơi thở tức là trong mỗi hơi thở ra vào đều phải xác định. Có những thời thiền hành giả sẽ thấy hơi thở của mình toàn những hơi thở dài hoặc có những thời thiền toàn hơi thở ngắn hoặc có những thời hơi thở đổi từ hơi thở dài sang hơi thở ngắn, quý vị thực tập hai bước dài ngắn cùng một lúc. Điều này có nghĩa rằng có những thời quý vị thở rất chậm thì toàn hơi thở dài. Có những thời thở rất nhanh, đó là hơi thở ngắn.

Nhưng đặc biệt hành giả không được cố gắng tạo hoặc chỉnh sửa hơi thở theo ý mình. Đức Phật dạy đơn giản chúng ta chỉ biết hơi thở này dài hay ngắn mà thôi, đó là điều cần thiết hành giả phải làm. Đồng thời quý vị cũng không được niệm trong tâm lúc thở là vô-ra dài, vô-ra ngắn. Không niệm trong tâm mà chỉ đơn giản biết được là hơi thở dài hay ngắn mà thôi, bởi vì khi niệm như vậy tâm quý vị sẽ bắt đầu phán đoán xem thực ra hơi thở này có dài lắm không và nếu mình gọi nó là dài thì có đúng hay không? Khi không tự điều chỉnh hơi thở của mình thì hành giả vẫn phải làm một điều là nên chắc chắn xem hơi thở ra-vào có độ dài bằng nhau không? Hoặc ngắn có bằng nhau không? Nếu như quý vị thấy hơi thở vô dài, hơi thở ra ngắn có nghĩa là tư thế ngồi của quý vị bị ngửa ra phía sau. Nếu như hơi thở vô ngắn, hơi thở ra dài có nghĩa là tư thế ngồi bị cúi ra phía trước. Trong cả hai trường hợp này hơi thở không được êm. Điều này có nghĩa là hơi thở không đi theo một đường thẳng mà nó bị chặn tại một điểm nào đó và nó không đều, vì vậy định sẽ giảm sút, hành giả khó có khả năng giữ và phát triển định tâm.

Trong trường hợp hơi thở ra-vào không bằng nhau, hành giả hãy cố gắng cân bằng hơi thở bằng cách kéo dài hơi thở ngắn ra và làm ngắn hơi thở dài. Tức là nếu hơi thở vô ngắn hơi thở ra dài thì quý vị cố gắng cân bằng hai thở và đổi tư thế ngồi thẳng lại. Ngay khi hai hơi thở đã bằng nhau thì phải trở lại để hơi thở hoàn toàn tự nhiên, không can thiệp hay dụng công uốn hơi thở theo ý mình nữa. Nếu hành giả có thể tập trung một cách nhẹ nhàng và bình an trên hơi thở ngắn và dài trong mỗi thời ngồi là một tiếng đồng hồ và trong vài ngày thì nimitta sẽ xuất hiện. Nhưng nếu quý vị chưa thấy nimitta thì quý vị có thể chuyển sang bước tiếp theo. Tôi đã trình bày về hai bước đầu tiên trong bốn bước của đề mục niệm hơi thở, đó là hơi thở ngắn và hơi thở dài.

3. Niệm Hơi Thở Bước Ba

Kính thưa đại chúng, tối hôm qua tôi đã giảng cho quý vị nghe về hai bước đầu tiên là đếm hơi thở và hơi thở ngắn và hơi thở dài trong bốn bước thực tập về niệm hơi thở. Hôm nay tôi sẽ giảng tiếp về bước thứ ba là cảm giác toàn thân hơi thở. Trong bước thứ ba Đức Phật đã dạy trong bài kinh niệm hơi thở là “Cảm giác toàn thân hơi thở tôi sẽ thở vào vị ấy tập. Cảm giác toàn thân hơi thở tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.” Ở đây khi Đức Phật nói toàn thân có nghĩa là toàn bộ hơi thở từ đầu đến cuối. “Cảm giác toàn thân hơi thở” tức là theo dõi được hơi thở ra- vào liên tục không gián đoạn từ đầu đến cuối. Hành giả chánh niệm được điểm đầu, điển giữa và điểm cuối của hơi thở. Nó không có nghĩa là hành giả cảm giác về toàn thân cơ thể.“Thân” ở đây không được hiểu là toàn thân cơ thể như tay, chân, đầu, mình v.v… Vì hành giả đang phát triển chánh niệm trên đề mục là hơi thở chứ không phải bất kỳ một đề mục nào khác. Vì vậy nếu hành giả cùng một lúc có hai đối tượng khác nhau, thứ nhất là hơi thở và thứ hai là cảm giác trên toàn bộ thân thể thì điều này không thể nào làm cho hành giả có thể đắc thiền được. Vì vậy chỉ giữ Chánh niệm trên hơi thở ra-vào tại điểm xúc chạm chứ không đổi tâm sang bất cứ một đối tượng nào khác ngoài điểm xúc chạm. Xin nhắc lại là hành giả không đổi tâm sang bất cứ một đối tượng nào khác trên cơ thể ngoài điểm xúc chạm.

Trong kinh Vô Ngại Giải Đạo có giải thích rằng, “Nếu hành giả không chú tâm vào hơi thở ra-vào thì điều gì sẽ xảy ra?”. Kinh Vô Ngại Giải Đạo được dạy bởi ngài Xá-lợi-phất, “Khi hành giả với chánh niệm, ngoài việc theo dõi điểm đầu, điểm giữa và điểm cuối của hơi thở, lại tiếp tục theo hơi thở đi vào phía bên trong cơ thể, tâm của hành giả sẽ bị phân tán vào phía bên trong. Lúc đó cả thân và tâm đều dao động, tán loạn không yên được, không ổn định được. Nếu hành giả với chánh niệm khi theo hơi thở đi ra phía bên ngoài thì tâm vị ấy sẽ bị phân tán ra phía bên ngoài. Lúc đó cả thân và tâm đều bị dao động, không ổn định, tán loạn và không thể yên được.”

Trong Thanh Tịnh Đạo cũng giải thích điểm đầu, điểm giữa và điểm cuối như sau. Rốn là điểm bắt đầu của luồng khí khi hơi thở đi ra, tim là điểm giữa và lỗ mũi là điểm cuối của hơi thở ra. Ngược lại đối với hơi thở vô, lỗ mũi là điểm đầu, tim là điểm giữa và rốn là điểm cuối. Nói hơi thở ra bắt đầu tại rốn hay hơi thở vô bắt đầu từ lỗ mũi không có nghĩa là hơi thở phát sanh từ đó và rồi đi lên trên hoặc đi xuống dưới. Vì thực chất hơi thở chỉ là tổng hợp của sắc, tổng hợp của các kalāpas. Mỗi kalāpa tức là mỗi nhóm sắc gồm chín loại sắc, bốn sắc chính là tứ đại và năm sắc sinh ra từ tứ đại trên. Bốn sắc tứ đại là đất, nước, lửa, gió. Năm sắc sinh ra từ tứ đại là màu, mùi, vị, dưỡng chất và âm thanh. Hơi thở được cấu tạo bởi chín loại sắc chân đế trên và nó không chuyển động từ chỗ này sang chỗ khác, khi nó sanh lên ở đâu thì ngay lập tức nó diệt ngay tại chỗ đó. Vì thế không có thời gian để sắc đó chạy từ chỗ này sang chỗ khác. Từ ngữ mà chúng ta dùng hằng ngày theo nghĩa chế định là “chuyển động”, thật ra ám chỉ sự sanh khởi liên tục không gián đoạn của các nhóm sắc Chân Đế khác nhau trong từng vùng của cơ thể tùy theo các duyên tức là các nguyên nhân khác nhau. Cho nên các nhóm sắc cấu tạo thành hơi thở trong thực tế liên tục không ngừng sanh ra trong khoảng cách từ rốn lên đến lỗ mũi và các kalāpas này sanh ở đâu thì lập tức diệt ngay tại chỗ đó.

Khi ta nói hơi thở được bắt đầu từ rốn có nghĩa là các nhóm sắc do tâm sanh ra được sanh khởi tại vùng rốn, những nhóm sắc này được gọi là hơi thở. Khi nói điểm cuối của hơi thở là lỗ mũi có nghĩa là những nhóm sắc này dừng lại không sanh ra thêm tại chóp mũi vì không có nhóm sắc nào do tâm nào sanh ra phía ngoài cơ thể tức là phía ngoài lỗ mũi. Vì thế cho nên đường đi của hơi thở ra bắt đầu tại rốn và kết thúc tại lỗ mũi. Hành giả không bao giờ được chạy theo hơi thở ra theo kiểu như vậy vì đó là một cách sai lầm. Cách đúng đắn là chỉ theo dõi hơi thở, hành giả lúc nào cũng bám sát theo hơi thở ra-vào tại điểm xúc chạm, liên tục giữ chánh niệm trên một đối tượng duy nhất là hơi thở ra và hơi thở vào.Để phát triển chánh niệm hơi thở chỉ theo dõi hơi thở đúng tại điểm xúc chạm, hiểu rõ điểm đầu, điểm giữa và điểm cuối của hơi thở tại điểm xúc chạm, không được dời chánh niệm ra khỏi điểm xúc chạm để đi vào bên trong hoặc đi ra bên ngoài cơ thể. Hành giả không nên phân vân cái gì tạo ra hơi thở.

Cảm giác toàn thân hơi thở có nghĩa là hành giả huấn luyện những suy nghĩ của mình như sau:

1/ Suy nghĩ đầu tiên là làm cho điểm đầu điểm giữa và điểm cuối của toàn hơi thở được hay biết và cảm nhận rõ ràng, ta sẽ thở vô.

2/ Điều thứ hai là cố gắng làm cho điểm đầu, điểm giữa, điểm cuối của toàn hơi thở được hay biết và cảm nhận rõ ràng, ta sẽ thở ra.

Bằng cách này hành giả thở vô và thở ra với tâm hợp Trí tức là tâm có Trí Tuệ và như vậy nó làm cho hơi thở rõ ràng hơn. Nhưng ở đây cũng vậy hành giả không niệm trong tâm những chữ như “Đầu” “Giữa” “Cuối”. Vì làm như vậy tâm hành giả sẽ luôn luôn cố suy đoán xem đây là thực sự điểm đầu, điểm giữa, điểm cuối hay phải sớm hơn hay muộn hơn mới đúng là điểm cuối. Nếu làm như vậy tâm của hành giả sẽ bị rất phân tán và cảm thấy mệt mỏi. Điều duy nhất mà hành giả cần phải làm đó là biết về toàn bộ hơi thở một cách liên tục không gián đoạn.

Đối với một số hành giả chỉ có thể biết được một điểm là điểm đầu, còn điểm giữa và điểm cuối thì không biết rõ. Ngược lại có những hành giả chỉ biết được điểm giữa một cách rõ ràng, còn điểm đầu và điểm cuối thì không biết. Có những hành giả chỉ biết điểm cuối rõ ràng. Trong khi có những hành giả biết rõ được điểm đầu, điểm giữa và điểm cuối. Hãy cố gắng để biết được điểm đầu, điểm giữa và điểm cuối như vị hành giả cuối cùng này. Đây chính là người mà Đức Phật muốn nói đến trong kinh là, “Cảm giác toàn thân hơi thở tôi sẽ thở vào, vị ấy tập. Cảm giác toàn thân hơi thở tôi sẽ thở ra, vị ấy tập”. “Vị ấy tập” ở đây được hiểu là hành giả phấn đấu nỗ lực cảm nhận toàn bộ hơi thở một cách rõ ràng. Bằng cách này cũng là cách mà hành giả phát triển được tam vô lậu học. Thứ nhất làm cho tâm mình cố gắng tránh xa các triền cái tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, hoài nghi. Tức là tu tập để phát triển trong sạch về Giới. Có định tâm trên đề mục hơi thở chính là tu tập phần hai trong tam vô lậu học tức là thanh lọc về tâm. Phần cuối cùng là Tuệ tức là sự hiểu biết rõ ràng về hơi thở. Do vậy hành giả phải thực hành liên tục hết lần này đến lần khác để phát triển và thực tập được tam vô lậu học với một chánh niệm ngày càng sắc bén. Đó là cách chúng ta cần được hiểu.

Những bước đầu tiên hành giả không cần làm gì ngoài việc hiểu được chiều dài của hơi thở ra-vào. Vì vậy khi Đức Phật nói về bước thực tập đầu tiên Ngài dùng thì hiện tại

“Khi thở vào một hơi dài, vị ấy biết tôi đang thở vào một hơi dài. Khi thở ra một hơi dài, vị ấy biết tôi đangthở ra một hơi dài. Khi thở vào một hơi ngắn, vị ấy biết tôi đang thở vào một hơi ngắn. Khi thở ra một hơi ngắn, vị ấy biết tôi đang thở ra một hơi ngắn”. Trong các bước thứ nhất và thứ hai vừa rồi, hành giả cũng cần có những kiến thức về hơi thở nhưng những kiến thức này rất cơ bản, rất đơn giản và dễ có thể làm được. Ngược lại ở bước thứ ba là cảm giác toàn thân hơi thở hành giả phải bắt đầu phát triển sự hiểu biết sâu sắc hơn về hơi thở ra-vào. Ở bước thư ba hành giả phải có đầy đủ Giới Định Tuệ tức là sự hiểu biết về hơi thở, bởi những bước tiếp theo sẽ rất khó thực hiện giống như một người đi trên cạnh sắc của lưỡi dao vậy. Vì vậy để nhấn mạnh sự cần thiết của sự tinh tấn và nỗ lực Đức Phật đã dùng thì tương lai trong câu, “Cảm giác toàn thân hơi thở tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. Cảm giác toàn thân hơi thở tôi sẽ thở vô, vị ấy tập”.

Nếu thực hành đúng theo cách này tức là biết và cảm nhận toàn thân hơi thở từ đầu đến cuối thì nimitta sẽ xuất hiện. Nhưng điều rất phổ biến là ngay khi hành giả có nimitta họ thường chuyển tâm mình trú sang nimitta thì nó sẽ biến mất ngay. Tại sao lại như vậy? Vì lúc đó hành giả chuyển sang một đề mục mới trong khi đáng lẽ họ phải chờ cho đến lúc nimitta và hơi thở chập lại thành một. Cho nên khi nimitta xuất hiện các hành giả cần phải rất kiên nhẫn, hãy chú tâm vào hơi thở từ đầu đến cuối và phớt lờ không chú ý đến nimitta. Nếu hành giả ngồi một tiếng đồng hồ liên tục và nhẹ nhàng hay biết toàn thân hơi thở mà nimitta vẫn chưa xuất hiện thì hành giả hãy chuyển sang bước thư tư.

4. Niệm Hơi Thở Bước Bốn

Theo kinh niệm hơi thở, Đức Phật dạy cách niệm hơi thở có bốn bước. Bước đầu tiên là hơi thở dài, bước thứ hai là hơi thở ngắn, bước thứ ba là cảm giác toàn thân hơi thở. Trong các buổi nói Pháp trước tôi đã giảng về ba bước này, hôm nay tôi giảng tiếp bước thứ tư.

Theo kinh Đức Phật dạy bước thứ tư là.

“An tịnh thân hành ta sẽ thở vô, vị ấy tập. An tịnh thân hành ta sẽ thở ra, vị ấy tập”

Ở đây thân là gì? Thân có nghĩa có nghĩa là toàn bộ thân của hơi thở vô và hơi thở ra. Nó được gọi là thân hành vì nó tạo tác hình thành hơi thở. An tịnh thân hành có nghĩa là an tịnh toàn thân hơi thở. Toàn thân hơi thở lại được gắn kết, nối liền với thân của cơ thể. Thân của cơ thể ở đây được hiểu là đầu, mình, chân, tay v.v…Vậy ngoài việc an tịnh thân của hơi thở thì còn phải an tịnh thân của cơ thể nữa. Tại sao lại như vậy? Ví dụ như khi hành thiền trên đề mục hơi thở, hành giả thường lắc nhẹ hoăc đu đưa về phía trước, phía sau hoặc sang hai bên. Đó là chuyển động của thân và loại sắc tạo nên chuyển động này cũng được sanh ra từ tâm. Nói cách khác khi hành giả hành thiền mà đu đưa, lắc lư về phía trước hoặc phía sau thì tâm hành giả cùng một lúc làm cả hai việc, một là sinh sản ra hơi thở, hai là sinh ra chuyển động trên thân.

Vậy để an tịnh thân hành có nghĩa là hành giả phải an tịnh:

1/ An tịnh hơi thở

2/ An tịnh toàn thân, toàn cơ thể.

Lúc đó hành giả cần phải ngồi yên bất động giống như một pho tượng Phật vậy. Trong chú giải của Vô Ngại Giải Đạo có giải thích thân hành là gì? Hơi thở vô dài là thân và những hơi thở này vì gắn kết với toàn bộ hơi thở nên được gọi là thân hành. Khi cảm giác toàn thân về hơi thở vô, hơi thở ra, hơi thở dài, hơi thở ngắn, vì các hơi thở này gắn liền với cơ thể nên được gọi là thân hành, tức là những yếu tố hình thành nơi thân thể. Vị ấy tập để an tịnh làm đứng lại, làm lắng dịu tất cả những thân hành này. Vị ấy huấn luyện bản thân mình trong việc làm các thân hành trở nên định tĩnh, nhu nhuyễn, mềm mại và thư thái.

Vị ấy huấn luyện tâm mình như sau.

-“An tịnh thân hành bằng cách làm lắng yên các hoạt động trên thân như lắc lư ra phía trước, phía sau và sang hai bên, làm yên tất cả các chuyển động, rung động, trạng thái rùng mình hay bị run trên cơ thể, bằng cách này ta sẽ thở vào hay thở ra.”

-“Ta sẽ thở vô và thở ra, an tịnh thân hành thô, an tịnh tất cả những thân hành thô bằng cách thay thế nó bằng những hoạt động của thân có tính chất vi tế mềm mại, thư thái mà không bị lắc lư ra phía trước phía sau hoặc sang hai bên hoặc không có các chuyển động rung chuyển mạnh”.

Ở giai đoạn này tiếp tục hay biết toàn bộ hơi thở từ đầu đến cuối, hành giả nghĩ như sau:

-“Ta sẽ làm an tịnh các thân hành bằng cách làm lắng yên các hoạt động trên thân như lắc lư ra phía trước, phía sau và sang hai bên, làm yên các chuyển động rung chuyển như trạng thái rùng mình hay bị run trên cơ thể. Bằng cách này ta sẽ thở vô hay thở ra”.

Và các thân hành thô ở đây được hiểu là hơi thở thô và trong Thanh Tịnh Đạo có lấy một ví dụ như sau, “giả sử một người đứng yên lại sau khi chạy hoặc đứng yên lại sau khi đi từ trên đồi xuống, hoặc đặt một vật nặng từ trên đầu xuống, lúc ấy hơi thở vô và hơi thở ra của người ấy rất thô, mũi anh ta không đủ (để thở), do đó anh ta phải tiếp tục thở vô và ra bằng miệng. Nhưng khi anh ta đã làm cho mình hết mệt, đã tắm rửa, uống nước và đắp một miếng vải ướt lên ngực, rồi nằm xuống trong bóng mát, lúc đó hơi thở vô và hơi thở ra của anh ta trở nên vi tế đến mức anh ta phải kiểm tra xem mình có hơi thở hay không”.

Cũng như vậy khi mới hành thiền, thân và tâm của hành giả chưa được yên nên hơi thở rất thô và không đều, càng lúc về sau càng trở nên vi tế đến nổi hành giả có cảm giác mình mất hơi thở. Tại sao lại như vậy? Vì trước khi tập thiền hơi thở không phải là đối tượng khả ái khả hỷ của hành giả như các đối tượng khác. Khi bắt đầu hành thiền hơi thở trở thành một đối tượng ưa thích, hành giả bắt đầu quan tâm đến nó, phản ứng và chú ý đến nó và kiểm tra nó luôn luôn, hiểu biết nhiều hơn về hơi thở để nó có thể trở nên vi tế và an tịnh. Khi thân và tâm náo động, trạo cử thì hơi thở bị quá mức và rất dồn dập. Khi thân tâm không còn xáo trộn nữa thì hơi thở trở nên vi tế.

Bốn yếu tố giúp hơi thở trở nên an tịnh

1/ Quan tâm

2/ Phản ứng

3/ Tác ý

4/ Phản khán

– Quan tâm là gì? Quan tâm có nghĩa là sự chú ý đầu tiên đến hơi thở, hướng tâm đến hơi thở với ý nghĩ “Ta sẽ cố gắng làm cho hơi thở an tịnh”

– Phản ứng có nghĩa là hành giả tiếp tục làm đi làm lại bước ở trên, duy trì sự chú tâm đến hơi thở với ý nghĩ, “Ta sẽ cố gắng làm cho hơi thở an tịnh”

– Tác ý: nghĩa đen của tác ý có nghĩa là “quyết định trong tâm “Ta sẽ làm cho hơi thở an tịnh.” Tác ý ở đây là tâm sở làm cho tâm hướng về đối tượng, làm cho đối tượng rõ rệt trong tâm.

– Phản khán có nghĩa là hành giả xét duyệt liên tục hơi thở để làm cho nó an tịnh thêm.

Vì vậy tất cả những điều hành giả cần làm ở bước thư tư là:

– Thứ nhất quyết định trong tâm là sẽ làm cho hơi thở an tịnh.

– Thứ hai có Chánh niệm và tỉnh giác liên tục trên hơi thở.

Thực tập như vậy hành giả sẽ thấy hơi thở càng lúc càng trở nên vi tế. Khi định phát triển dần dần hơi thở trở nên rất an tịnh, nó trở nên nhẹ nhàng và nhu nhuyễn, rất khó có thể nhận biết, chính vì vậy được gọi là vi tế. Nếu quý vị thực tập như vậy thì có bốn giai đoạn phát triển.

1/ Thứ nhất hiểu rõ chiều dài hơi thở vào xem nó ngắn hay dài

2/ Thứ hai hiểu rõ chiều dài hơi thở ra xem nó ngắn hay dài.

3/ Thứ ba hiểu về toàn thân hơi thở ra-vào

4/ Thứ tư là an tịnh hơi thở ra-vào để nó trở nên vi tế.

Đây là các bước tuần tự trên con đường mà hơi thở sẽ tiến triển. Đó cũng là bốn bước tuần tự để phát triển sự hiểu biết về hơi thở. Ở mỗi một giai đoạn sau hành giả sẽ biết rõ tất cả những giai đoạn trước đó. Ví dụ như khi hơi thở của hành giả đã trở nên vi tế thì lúc đó hành giả phải biết cả bốn điều như sau.

1-     Thứ nhất hành giả cần biết đó là một hơi thở vô.

2-     Thứ hai hành giả phải biết đây là một hơi thở vô dài.

3-     Thứ ba hành giả cần phải biết toàn thân hơi thở, tức là biết được điểm đầu, điểm giữa, điểm cuối

4-     Thứ tư hành giả cần phải biết đó là một hơi thở rất vi tế.

Khi hơi thở chưa được vi tế lắm như đã nói ở phần trên, hành giả phải hướng tâm để làm cho nó an tịnh. Khi định tăng lên thêm hành giả cần phải nỗ lực biết được toàn thân của hơi thở vi tế mà hành giả đang có. Đó là bốn bước phải được hiểu biết đầy đủ. Bằng cách này hành giả liên tục và không gián đoạn chánh niệm trên hơi thở. Sự hiểu biết về toàn bộ hơi thở vô về chiều dài và tính chất của hơi thở vô này được tiếp nối với sự biết về các tính chất và chiều dài của hơi thở ra và tiếp tục nó lại được gắn liền với sự hiểu biết của hơi thở vô tiếp theo và cứ như vậy. Liên tục theo dõi hơi thở khi nó đi qua điểm xúc chạm, biết được tất cả các chi tiết của hơi thở và hành giả không chú ý đến bất cứ một điều gì khác. Đây là yếu tố của sự kết nối liên tục tức là yếu tố miên mật

Nếu hành giả tu tập theo cách này với đầy đủ tinh tấn và sự hoan hỷ, tâm định của quý vị sẽ được tăng cường và cuối cùng hành giả có thể đắc thiền. Khi định phát triển hơi thở càng lúc càng vi tế và rất khó có thể nhận biết. Rất nhiều hành giả gặp khó khăn trong việc nhận biết về hơi thở trước khi nimitta xuất hiện. Nhưng đừng nên thất vọng và đừng có ý nghĩ như sau, “Ồ hơi thở của tôi sẽ trở nên không rõ rệt” vì điều này làm cho hành giả trở nên bực bội, cùng nghĩa với việc định tâm của hành giả sẽ bị sút giảm ngay lập tức. Thực ra điều này rất tốt, khi hơi thở trở nên vi tế như vậy. Tại sao? Vì khi nimitta xuất hiện, tâm của hành giả dán chặt vào nimitta và hơi thở không còn là một vấn đề phiền toái cho quý vị nữa. Tuy nhiên nếu trong trường hợp hơi thở vẫn còn thô tháo mà nimitta đã xuất hiện thì cùng một lúc hành giả sẽ biết được hai đối tượng là hơi thở và nimitta. Với hai đối tượng như vậy, tâm không thể gom vào và hợp nhất được và định không thể phát triển thêm lên, cho nên hành giả hãy hoan hỷ khi hơi thở nhẹ nhàng và vi tế hơn dù khó có thể hay biết về nó.

Đối với các đề mục hành thiền khác trong thiền Định, khi phát triển định tâm đối tượng sẽ trở nên rõ ràng hơn, dễ thấy hơn, nhưng trong niệm hơi thở thì ngược lại. Khi phát triển chánh niệm trên hơi thở cao hơn, hơi thở càng lúc càng vi tế đến mức gần như mất luôn hơi thở. Khi đó hành giả không có khả năng nhận diện được hơi thở và do đó họ sẽ phải làm gì? Câu trả lời là, “Họ không cần làm gì cả”. Đó là một dấu hiệu cho thấy sự tiến bộ, nếu cứ cố để làm gì đó để thấy được hơi thở thì hành giả có thể mất định vừa được thiết lập và phải bắt đầu lại từ đầu. Nếu bắt đầu lại, tất nhiên định có thể được thiết lập, tăng dần nhưng đến một lúc hơi thở vi tế một lần nữa hành giả lại không nhận biết được về hơi thở. Cho nên tất cả việc mà hành giả cần phải làm ở đây thay vì cố đi tìm hơi thở thì họ chỉ việc định tâm vào điểm xúc chạm. Bất cứ khi nào khó có thể thấy được hơi thở thì hành giả chỉ việc quay về và hay biết điểm xúc chạm. Thế là đủ mặc dầu hơi thở trên thực tế không biến mất đi đâu cả, nhưng có thể nói hành giả nên kiên nhẫn chờ đến lúc hơi thở quay trở lại.

Để hoài nghi và trạo cử trong tâm không sanh khởi hãy nên để tâm thoải mái khi quý vị suy xét điều này: ai là người có hơi thở và ai là người không có hơi thở. Chỉ có bảy loại người không có hơi thở là: người chết, thai nhi trong bào thai, người bị chìm dưới nước, người bất tỉnh, người đang nhập Tứ Thiền, người đang nhập thiền diệt tức là nhập diệt thọ tưởng định, một vị Phạm Thiên. Suy xét bảy loại người trên hành giả có thể hiểu rõ là mình vẫn còn hơi thở, mình vẫn đang tiếp tục thở, bởi vì mình không thuộc một trong bảy loại người trên. Chỉ vì hơi thở quá vi tế nên hành giả không thấy nó được. Nguyên nhân ở đây là do Định vẫn còn yếu và chưa đủ mạnh. Hãy hiểu rõ điều này trong tâm rồi chỉ gắn tâm mình trên điểm xúc chạm và đợi cho hơi thở trở nên rõ rệt.

Có những hành giả khi đạt đến hơi thở vi tế như thế này, họ thường đưa tay lên mũi để xem mình còn hơi thở hay không. Xin quý vị đừng làm như vậy. Tôi sợ rằng tay quý vị lúc đó có mùi gì đó. Đối với những người mũi dài thì hơi thở xúc chạm ngay đầu mũi, đối với những người mũi tẹt thì hơi thở sẽ xúc chạm ở phía môi trên. Do đó hành giả phải xác định rõ vị trí của điểm xúc chạm, đó là điểm mà nimitta sẽ chạm vào. Việc luôn ghi nhớ được điểm xúc chạm chính là lý do mà Đức Phật dạy chúng ta, “Này các Tỷ-kheo ta không nói rằng những người sau đây sẽ thành tựu được đề mục Chánh niệm hơi thở, đó là những người thứ nhất là thất niệm tức là những người hay quên và thứ hai là đối với những ai thiếu tỉnh giác, tức là không thấy biết rõ ràng mọi việc”. Đức Phật dạy chúng ta điều này bởi vì Ngài là một đấng Toàn Giác. Trong khi tôi không là bậc toàn giác như Ngài, nên tôi dạy niệm hơi thở cho tất cả quý vị bởi vì tôi không đọc được tâm của quý vị xem ai là người thất niệm, ai là người thiếu tỉnh giác.

Dầu Đức Phật nói điều trên áp dụng cho tất cả các đề mục trong thiền Định nhưng hầu như nó được ám chỉ nhiều nhất vào đề mục niệm hơi thở, vì với đề mục này hơi thở càng lúc càng trở nên an tịnh và vi tế khi đã phát triển được chánh niệm và đây là đề mục rất khó. Đây là đề mục mà các Đức Phật toàn giác, cũng như các vị độc giác Phật và các đệ tử của Phật đều thực tập. Nếu chúng ta tu tập thực hành niệm hơi thở đúng theo cách mà Đức Phật chỉ dạy thì chúng ta là đệ tử của Ngài. Tôi nghĩ nếu quý vị muốn thật sự trở thành con Phật thì quý vị phải thành công trong đề mục niệm hơi thở này. Quý vị có muốn trở thành con trai, con gái của Phật không?

Để thành công trên đề mục Chánh niệm hơi thở thì hành giả cần có Chánh niệm sắc bén và sự tỉnh giác cao độ. Chúng ta có thể so sánh những khó khăn lúc hành thiền với đề mục Chánh niệm hơi thở giống như công việc của người may, thêu. Khi thêu hoặc may trên một tấm vải rất mỏng và mịn thì cần có cây kim thật mảnh. Khi luồn chỉ vào lỗ kim nhỏ ấy ta cần một dụng cụ xỏ kim còn mỏng và sắc hơn cây kim. Để có thể làm được công việc thêu may này chánh niệm giống như một cây kim nhỏ sắc và mảnh và nó cần một lực mạnh mẽ để xuyên thủng tấm vải và tỉnh giác hoặc sự hiểu biết đầy đủ ở đây có thể ví như dụng cụ xỏ kim, tức là nó cũng cần có một lực rất mạnh và liên tục. Vì vậy cần thiết phải ráng sức và nỗ lực thiết lập được một đội Chánh niệm và tinh cần và tỉnh giác cần thiết và cần phải biết hơi thở ra-vào không ở một chỗ nào khác ngoài điểm xúc chạm.

Hành giả không được cố ý tạo ra hơi thở dài ngắn hoặc vi tế theo ý của mình. Nếu hơi thở đã trở nên vi tế hành giả cũng không được thở mạnh lên để nhận biết hơi thở rõ hơn. Vì nếu làm như vậy Thất giác chi tức là bảy yếu tố cần thiết cho sự giác ngộ là tinh tấn và trạch pháp sẽ bị dư thừa một cách quá mức, đồng nghĩa với trạo cử và phóng tâm sẽ xuất hiện và lập tức định sẽ bị giảm sút. Tự hơi thở không trở thành khó nhận biết, nó chỉ không rõ rệt bởi các yếu tố trong thất giác chi là niệm, định và trạch pháp còn thiếu chưa phát triển đầy đủ. Cho nên tốt nhất là cứ để hơi thở diễn biến một cách tự nhiên. Có thể có lúc hơi thở dài, có lúc lại ngắn, tốt thôi, cứ để nó dài và ngắn như vậy và hãy cố gắng để hay biết toàn thân hơi thở. Vì vậy nếu hơi thở vi tế thì lúc đó quý vị cần phải biết hơi thở vi tế này dài hay ngắn. Nếu có thể tập trung vào toàn thân hơi thở vi tế đó trong vòng một đến hai tiếng đồng hồ mỗi một thời thiền, thì định của quý vị sẽ được tăng cường thêm. Điều vô cùng cần thiết mà hành giả cần làm là luôn luôn thực tập một cách miên mật về Chánh niệm trên hơi thở. Và điều quan trọng là hãy dừng tất cả các suy nghĩ, dừng nói chuyện và thêm một điều nữa là tắt ngay điện thoại di động. Một điều quan trọng nữa là quý vị đừng tiếp khách, có ai đến thăm xin cũng đừng tiếp. Ngoài việc dừng suy nghĩ, dừng nói chuyện, đừng tiếp khách, trong tất cả các oai nghi như đi đứng nằm ngồi cần phải tập trung duy nhất vào một đối tượng là hơi thở chứ không chuyển tâm sang bất cứ một đối tượng nào khác. Xin nhắc lại là quý vị không để tâm vào bất cứ một đối tượng nào khác. Xin quý vị hãy dừng tất cả những suy nghĩ trong tâm, nghĩ về nhà cửa, họ hàng, gia đình, công việc làm ăn. Quý vị chỉ làm một điều là hít vô thở ra.

Thiền sư Dhammapāla (Trung Tâm Thiền Pa-Auk Tawya)

Chùa Nguyên Thủy
Mùa an cư kiết hạ năm 2008
Khóa Thiền Tứ Niệm Xứ Pa-Auk thứ 4

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

II. LÀM CÁCH NÀO ĐỂ ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU

Quý vị có muốn đoạn tận khổ đau không? Nếu muốn, xin quý vị hãy lắng nghe bài Kinh Kūṭāgāra, Kinh “Ngôi nhà có nóc nhọn” trong Tương ưng Sự Thật:

Bài Kinh Kūṭāgāra

“Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ diệt, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không xây dựng tầng dưới của ngôi nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà”, sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ Tập, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ Diệt, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi xây dựng tầng dưới của căn nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà”; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ Diệt, sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ đoạn tận khổ đau”; sự kiện này có xảy ra.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ tập, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt””.

Để thoát khỏi vòng luân hồi, biết rõ Tứ Thánh Đế là hết sức quan trọng. Điều này được trình bày trong Kinh Koṭigāma trong Tương Ưng Bộ Kinh:

Kinh Koṭigāma

“Một thời Thế Tôn trú giữa các dân chúng Vajjī, tại Koṭigāma.Tại đấy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

“Này các Tỷ-kheo, do không hiểu rõ và thể nhập bốn Thánh đế mà Ta và các Ông đã phải dong ruổi, lưu chuyển trong vòng luân hồi dài đằng đẵng bấy lâu nay”. Thế nào là bốn?

Do không hiểu rõ và không thể nhập Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, nên các ông và Ta đã phải dong ruổi, lưu chuyển trong vòng luân hồi dài đằng đẵng bấy lâu nay, do không hiểu rõ và không thể nhập Thánh đế về Khổ tập, do không hiểu rõ và không thể nhập Thánh đế về Khổ diệt, do không hiểu rõ và không thể nhập Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, nên các Ông và Ta đã phải dong ruổi, lưu chuyển trong vòng luân hồi dài đằng đẵng bấy lâu nay.

Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, Thánh đế về Khổ này đã được hiểu rõ, đã được thể nhập, Thánh đế về Khổ tập đã được hiểu rõ, đã được thể nhập, Thánh đế về Khổ diệt đã được hiểu rõ, đã được thể nhập, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được hiểu rõ, đã được thể nhập. Hữu ái đã bị chặt đứt, những gì đưa đến tái sanh đã bị tận diệt (bhavanetti). Nay không còn tái sanh nữa.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi thuyết giảng như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

“Catunnaṃ ariyasaccānaṃ, yathābhutaṃ adassanā;
saṃsitaṃ dīghamaddhanaṃ, tāsu tāsveva jātisu.

“Tāni etāni diṭṭhāni, bhavanetti samuhatā,
ucchinnaṃ mulaṃ dukkhassa, natthi dāni punabbhavo.” –

“Do không như thật thấy,
Bốn sự thật bậc Thánh,
Phải lâu ngày luân chuyển,
Trải qua nhiều đời sống.

“Khi chúng được thấy rõ,
Mầm tái sanh nhổ sạch,
Gốc khổ được đoạn tận,
Nay không còn tái sanh.”

Sự Thật Cao Thượng Về Khổ (Khổ Thánh Đế)

Gì là Thánh đế về Khổ (dukkha-sacca)? Trong bài Kinh Chuyển Pháp Luân Dhammacakkappavattana, Đức Phật đúc kết nó một cách tóm gọn như thế này: “Nói tóm lại, ngũ thủ uẩn này là khổ.”. Ngũ thủ uẩn này là các đối tượng của Tuệ quán.

Gì là ngũ thủ uẩn? Chúng là: Rūpupādānakkhandhā, Vedanupādānakkhandhā,Saññupādānakkhandhā, Saṅkhārupādānakkhandhā, Viññāṇupādānakkhandhā, nghĩa là Sắc thủ uẩn, Thọ thủ uẩn, Tưởng thủ uẩn, Hành thủ uẩn, Thức thủ uẩn.

Gì là Sắc thủ uẩn? Trong bài Uẩn Kinh trong Tương Ưng Uẩn (S22, 48) Đức Phật dạy:

‘Yaṃ kiñci rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā olārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃvā panitaṃ vā yaṃ dūre santike vā sāsavaṃ upādaniyaṃ ayaṃ vuccati rūpūpādānakkhandho.’

Đây là lời giải thích của Đức Phật. Nghĩa của nó là:

“Phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, có lậu hoặc, được chấp thủ; đây gọi là Sắc thủ uẩn.

Tương tự vậy, Đức Phật giải thích về Thọ thủ uẩn, Tưởng thủ uẩn, Hành thủ uẩn và Thức thủ uẩn. Vì vậy quý vị nên liễu tri rằng các Pháp Khổ đế (Pháp gắn liền với Khổ đế) không chỉ bao gồm năm uẩn thủ hiện tại mà cả năm thủ uẩn quá khứ và tương lai, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần.

Tại sao năm uẩn này lại bị chấp thủ? (Khi năm uẩn bị chấp thủ gọi là năm thủ uẩn). Thân và tâm của chúng sanh chỉ bao gồm năm uẩn. Do vô minh, các chúng sanh phàm phu nhận định sắc là “ta”, “của ta” hay “ta là thế”. Từ đây, tham ái và chấp thủ vào sắc sinh khởi. Tương tự, do ngộ nhận thọ, tưởng, hành, thức là “ta”, “của ta” và “ta là thế” mà tham ái và chấp thủ vào các uẩn này khởi sinh. Đấy là cách mà năm uẩn bị chấp thủ với hàng phàm nhân do chưa thấy rõ các Pháp như thật. Thật ra ngoài các tâm hành siêu thế ra, tất cả các uẩn đều bị chấp thủ.

Không chứng ngộ bốn Thánh đế, ta không thể đạt đến Niết-bàn. Nếu muốn đạt đến Niết-bàn, quý vị nên gắng chứng ngộ Niết-bàn. Trong số bốn Thánh đế có Khổ thánh đế, Khổ thánh đế bao gồm mười một loại năm thủ uẩn đã đề cập trên đây. Vì thế để thoát khỏi vòng luân hồi, quý vị nên gắng liễu tri tất cả chúng.

Khổ Tập Thánh Đế
(Sự Thật Về Nguyên Nhân Của Khổ)

Gì là Khổ Tập thánh đế (samudaya-sacca)? Trong Kinh Chuyển Pháp Luân, Đức Phật dạy rằng tham ái là sự thật cao thượng về nguyên nhân của Khổ (Tập khổ thánh đế). Trong Tương ưng Kinh, ThiênNidāna, Đức Phật còn dạy duyên khởi là Khổ tập thánh đế, hay vô minh (avijjā), tham ái (taṇhā), thủ (upādāna), hành (saṅkhāra), và nghiệp lực (kamma) đều là Khổ tập thánh đế. Nói tóm lại, tất cả nghiệp lực thiện có thể dẫn đến tái sanh và tất cả các nghiệp lực bất thiện đều là thánh đế về nguyên nhân của Khổ. Trong bộ Phân tích Thánh đế, Đức Phật dạy Tập đế theo năm cách:

Tham ái (taṇhā) là Khổ tập đế (samudaya-sacca).

Mười loại kiết sử (tham, sân, si, mạn, tà kiến, nghi, hôn trầm, trạo cử, vô tàm, vô quý) cũng là Khổ tập đế (samudaya-sacca).

Tất cả các Pháp bất thiện (akusala dhamma) là Khổ tập đế.

Tất cả các Pháp bất thiện và ba thiện căn (vô tham, vô sân, vô si) có thể dẫn dắt tái sanh là Khổ tập đế (samudaya-sacca).

Tất cả các Pháp thiện có thể dẫn dắt tái sinh và tất cả các Pháp bất thiện hay tất cả các thiện nghiệp có thể dẫn dắt tái sinh và tất cả các bất thiện nghiệp đều là Khổ tập đế (samudaya-sacca).

Cả các Pháp Khổ đế và các Pháp Khổ tập đều là các đối tượng của Tuệ Minh Sát, vì vậy nếu quý vị muốn hành Minh Sát để đoạn tận khổ, trước tiên quý vị nên cố gắng liễu tri chúng.

Thánh Đế Khổ Diệt

Gì là Thánh đế về Khổ diệt (nirodha- sacca)? Trong Kinh Chuyển Pháp luân, Đức Phật dạy rằng sự diệt tận tham ái không còn dư sót là Thánh đế Khổ diệt. Trong các bài kinh khác, Đức Phật còn dạy sự diệt tận Khổ đế không còn dư sót là Thánh đế về Khổ diệt. Tại sao Đức Phật dạy theo hai cách? Chúng là như nhau. Do bởi sự đoạn tận vô minh, tham ái, thủ, hành và nghiệp lực mà ngũ uẩn (là Khổ đế) sẽ chấm dứt hoàn toàn không còn dư sót. Ngũ uẩn sẽ chấm dứt hoàn toàn không còn dư sót do nhờ sự tận diệt các nhân sanh khởi. Vì vậy hai cách dạy này là giống nhau. Đấy là lý do tại sao đôi khi Đức Phật dạy sự diệt trừ tham ái không còn dư sót là Thánh đế về Khổ diệt và có khi Ngài dạy sự chấm dứt ngũ uẩn không còn dư sót là Thánh đế về Khổ diệt.

Thực tế, Niết-bàn là Thánh đế về Khổ diệt. Hai loại diệt này xảy ra là nhờ Thánh Đạo Tuệ, lấy Niết-bàn làm đối tượng, tiêu diệt tất cả các phiền não không còn dư sót qua từng giai đoạn. Nhờ diệt tận các phiền não không còn dư sót, nghiệp không thể cho quả tái sinh ngũ uẩn sau khi tịch diệt Niết-bàn. Vì vậy ngũ uẩn cũng tận diệt không còn dư sót. Tuy nhiên vì với một số vị, thật khó để hiểu được Niết-bàn nên Đức Phật dạy sự tận diệt này hay sự tận diệt kia đều là Thánh đế về Khổ diệt. Có lúc Niết-bàn còn được gọi là Vô vi giới, Asaṅkhata dhātu. Vì thế, vô vi, Niết-bàn là một nhân, và hai loại tận diệt là các quả. Vì thế Niết-bàn có thể được xem như là hoặc nhân hay quả gì cũng được.

Thánh đế về Khổ diệt có thể là nhân hay là quả. Lại nữa, sự diệt tận phiền não không còn dư sót được gọi là Kiết sử Niết-bàn, Kilesa Parinibbāna. Sự diệt tận ngũ uẩn không còn dư sót cũng được gọi là Ngũ uẩn Niết-bàn, Khandha- Parinibbāna. Hơn nữa sự diệt tận phiền não không còn dư sót còn được gọi là Hữu dư Niết-bàn Saupadisesa Nibbāna, nghĩa là thọ mạng vẫn còn vì năm uẩn vẫn còn hiện hữu dầu đã tận diệt các phiền não không còn dư sót. Sự tận diệt năm uẩn không còn dư sót được gọi là Vô dư Niết-bàn, Anupādisesa-Nirodha, sự tịch diệt không còn dòng sống, nghĩa là sự tịch diệt năm uẩn không còn dư sót.

Ví như, sự tận diệt các phiền não không còn dư sót của Đức Phật khởi lên khi Ngài chứng ngộ Quả vị Chánh đẳng giác. Bốn Thánh Đạo của Ngài lấy Niết-bàn làm đối tượng, đã tiêu diệt tất cả phiền não theo từng giai đoạn không còn dư sót ở tại Bồ Đề Đạo Tràng. Bốn mươi lăm năm sau, Ngài nhập Đại Niết-bàn, tịch diệt năm uẩn không còn dư sót tại Kusinara.

Niết-bàn là vô vi giới, là đối tượng của bốn Thánh Đạo Quả Siêu thế. Tuy nhiên trước khi chứng ngộ Niết-bàn, trong khi đang hành Vipassanā, có hai loại tận diệt được lấy làm đối tượng của Minh Sát Tuệ, đó là sự tận diệt phiền não không còn dư sót và sự tận diệt năm uẩn không còn dư sót. Minh Sát Tuệ mà giác ngộ hai đối tượng này gọi là Sanh diệt tuệ (Udayabbayañāṇa), Trí thấy rõ sự sanh và diệt của danh sắc, các hữu vi đều có sanh có diệt.

Thánh Đế Về Con Đường Đưa Đến Khổ Diệt
(Đạo Đế)

Gì là thánh đế về con đường đưa đến Khổ diệt (Magga-sacca)? Đó là Bát Thánh Đạo. Có khi Bát Thánh Đạo còn được gọi là Đạo đế, Magga-sacca. Dầu là trong bài kinh Chuyển Pháp luân, Đức Phật gọi nó làDukkhanirodhagāminī Paṭipadā Ariyasacca, Thánh Đế Về Con Đường Thực Hành Dẫn Đến Diệt Khổ. Nhưng hai cái tên này đều là một.

Có hai loại Bát Thánh Đạo: hiệp thế và siêu thế. Để đến được Bát Thánh Đạo siêu thế, quý vị phải trước hết phát triển Bát Thánh Đạo hiệp thế. Bát Thánh Đạo siêu thế chỉ khởi lên một lần trong dòng tâm của bất kỳ cá nhân nào, và không phải tự nhiên mà thành. Ấy nhờ Đạo hiệp thế được phát triển dần qua quá trình huân tập và phát triển của từng cá nhân. Trong quá trình thực hành Vipassanā thuộc Bát Thánh Đạo hiệp thế, năm chi phần của Bát Thánh Đạo luôn có mặt cùng lúc. Ví như lúc đang trực nhận năm uẩn và các nhân của chúng, quý vị phải để ý đến ba đặc tính của các Pháp hữu vi này. Cả Pháp khổ đế và Pháp khổ tập đều được gọi là Pháp hành (saṅkhāra dhamma). Bằng cách thấy được tính Vô thường của chúng, quý vị nên liễu tri chúng là Vô thường, anicca. Bằng cách thấy được bản chất bị đàn áp bởi tánh sanh và diệt, quý vị phải liễu tri chúng là Khổ, dukkha. Bằng cách thấy được bản chất của chúng là không có một chủ thể bền vững, quý vị nên liễu tri chúng là Vô ngã, anatta. Trong khi quán sát như thế, quý vị biết được bản chất Vô thường, Khổ và Vô ngã của các Pháp hành này. Tuệ thấy biết này được gọi là Chánh Kiến. Sự hướng tâm đến các Pháp hành này và các bản chất Vô thường, Khổ và Vô ngã của chúng được gọi là Chánh Tư duy. Chánh Tư duy luôn khởi sinh cùng Chánh Kiến. Nỗ lực mà quý vị sử dụng để thấy được các bản chất Vô thường, Khổ và Vô ngã của các Pháp hành này được gọi là Chánh Tinh tấn. Sự chánh niệm về các bản chất Vô thường, Khổ, Vô ngã của các Pháp hành này được gọi là Chánh Niệm. Sự tập trung vào các bản chất Vô thường, Khổ và Vô ngã của các Pháp hành này được gọi là Chánh Định. Do vậy, khi một người đang thực hành Vipassanā, thiền Minh Sát, năm chi phần của Bát Thánh Đạo sẽ luôn có mặt cùng lúc. Ba chi phần còn lại: Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng là phần hành Giới. Trước khi tiến hành thiền Chỉ và thiền Quán, quý vị phải thực hành rèn luyện Giới. Vậy là tổng cộng có tám chi phần của Bát Thánh Đạo. Nhưng ba chi phần thuộc Giới hành khởi sinh vào lúc khác với năm chi phần kia. Ba chi phần này không sinh khởi cùng lúc với Tuệ Minh Sát, nghĩa là chúng không khởi sinh trong cùng một sát-na tâm, hay trong cùng một lộ trình tâm thuộc Thánh Đạo hiệp thế.

Vào lúc cuối của việc hành Minh Sát khi một hành giả chứng ngộ Niết-bàn, tám chi phần Bát Thánh Đạo sẽ có mặt. Chúng được gọi là Bát Thánh Đạo siêu thế. Chứng ngộ Niết-bàn được gọi là Chánh Kiến. Sự hướng tâm đến Niết-bàn được gọi là Chánh Tư Duy. Nỗ lực để chứng ngộ Niết-bàn được gọi là Chánh Tinh Tấn. Sự chánh niệm về Niết-bàn được gọi là Chánh Niệm. Sự tập trung vào Niết-bàn được gọi là Chánh Định. Các phiền não nào có khả năng khiến sai phạm khỏi việc giữ gìn Chánh ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng đã bị Đạo Tuệ diệt tiêu. Vậy là ba chi phần này khởi sanh cùng lúc với Đạo Tuệ. Nên khi một hành giả chứng ngộ Niết-bàn, tất cả tám chi phần của Bát Thánh Đạo đều có mặt.

Kinh Chánh Định

Nên thực hành sao để giác ngộ bốn Thánh đế? Xin mời hãy lắng nghe bài Kinh Chánh Định (Samādhi sutta) trong Tương Ưng Sự Thật, Sacca Saṃyutta:

“Này chư Tỷ-khưu, hãy phát triển định. Một vị Tỷ-kheo có định, như thị giác tri các Pháp. Gì là Pháp vị ấy như thị giác tri?

Vị ấy như thị giác tri đây là Khổ đế (sự thật tối thượng về Khổ)- Dukkha Sacca. Như thị giác tri đây là Khổ Tập (sự thật tối thượng về nguồn gốc của Khổ)- Samudaya Sacca. Như thị giác tri đây là Khổ diệt (sự thật tối thượng về sự chấm dứt Khổ)- Nirodha Sacca. Như thị giác tri đây là Đạo đế (sự thật tối thượng về Con đường đưa đến chấm dứt Khổ)- Magga Sacca.

Vì vậy, này chư Tỷ-kheo, hãy phát triển định. Một vị Tỷ-kheo có định, sẽ như thị giác tri các Pháp.”

Vì vậy, cần phải nỗ lực để biết rõ, thấy rõ đây là Sự thật tối thượng về Khổ; cần phải nỗ lực để biết rõ, thấy rõ đây là Sự thật tối thượng về nguồn gốc của Khổ (Khổ tập); cần phải nỗ lực để thấy rõ, biết rõ đây là Sự thật tối thượng về Khổ diệt; cần phải nỗ lực để biết rõ, thấy rõ đây là Sư thật tối thượng về Con đường đưa đến Khổ Diệt.”

Vậy để biết rõ Bốn Thánh đế, trước hết quý vị nên phát triển định. Có bốn mươi đề mục cho phần hành thiền Định. Quý vị có thể chọn bất kỳ đề mục nào. Ở đây tôi muốn giải thích trước tiên phương Pháp Niệm hơi thở Ānāpānasati và sau đó tôi sẽ giải thích nên làm cách nào để chứng ngộ Bốn Thánh đế.

Tôi sẽ giải thích phần thực hành theo Kinh Đại Niệm Xứ Mahāsatipaṭṭhāna. Trong bài Kinh này, Đức Phật dạy:

Niệm Hơi Thở

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân?

Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến một nơi vắng vẻ và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm vào đề mục thiền của mình. Tỉnh giác, vị ấy hít vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Khi hít vô dài, vị ấy hiểu rõ: “Tôi hít vô dài”. Khi thở ra dài, vị ấy hiểu rõ: “Tôi thở ra dài”. Khi hít vô ngắn, vị ấy hiểu rõ: “Tôi hít vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy hiểu rõ: “Tôi thở ra ngắn”. Vị ấy tập như vậy: “Tôi sẽ vừa hít vào vừa cảm giác rõ ràng toàn thân hơi thở”. Vị ấy tập như vậy: “Tôi sẽ vừa thở ra vừa cảm giác rõ ràng toàn thân hơi thở ra”. Vị ấy tập như vầy: “Tôi sẽ vừa hít vào vừa an tịnh toàn thân hành của hơi thở”. Vị ấy tập như vầy: “Tôi sẽ vừa thở ra vừa an tịnh toàn thân hành của hơi thở”.

Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, hiểu rõ: “Tôi quay dài” hay khi quay ngắn, hiểu rõ: “Tôi quay ngắn”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hít vô dài, hiểu rõ: “Tôi hít vô dài”; hay thở ra dài, hiểu rõ: “Tôi thở ra dài”; hay hít vô ngắn, hiểu rõ: “Tôi hít vô ngắn”; hay thở ra ngắn, hiểu rõ: “Tôi thở ra ngắn”. Vị ấy tập như vầy: “Cảm giác rõ toàn thân hơi thở, tôi sẽ hít vô”. Vị ấy tập như vầy: “Cảm giác rõ toàn thân hơi thở, tôi sẽ thở ra”. Vị ấy tập như vầy: “An tịnh toàn thân hơi thở, tôi sẽ hít vô”. Vị ấy tập như vầy: “An tịnh toàn thân hơi thở, tôi sẽ thở ra”.”

Đây là phần Đức Phật dạy về Niệm hơi thở, đặc biệt để đạt đến an chỉ định, định bậc thiền. Trong đoạn văn, từ “ở đây” nghĩa là ở trong Giáo Pháp của Đức Phật. Bằng từ “ở đây”, những giáo lý ngoài Phật giáo được loại ra vì chúng không dạy phương pháp Niệm hơi thở một cách hoàn hảo như đã được dạy trong Phật giáo. Ngoài Phật giáo ra, không một giáo lý nào khác có thể dạy phương pháp Niệm hơi thở một cách hoàn hảo. Nó chỉ được giảng dạy trong Giáo Pháp của Đức Phật. Vì thế mới nói:

“Ở đây chúng ta mới tìm thấy bậc sa-môn; ngoại đạo không có các bậc sa-môn.”

Những Trú Xứ Thích Hợp Cho Thiền

Đức Phật chỉ ra những nơi thích hợp cho hành giả trong đoạn: “…Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến nơi thanh vắng…”Điều này nói rõ đâu là nơi thích hợp cho hành giả để huân tập và phát triển chánh niệm.

Tâm hành giả bấy lâu thường khắn khít với các đối tượng sắc Pháp và dục lạc trước khi hành giả dấn thân vào thiền. Vị ấy không thích bước vào con đường thiền tập do bởi cái tâm chưa được điều phục của mình không quen sống thiếu các dục lạc. Vị ấy giống như con bê non nếu bị thắng vào một cỗ xe kéo thì chỉ muốn chạy khỏi con đường. Trước khi dấn thân vào thiền, tâm của vị ấy thường xuyên tiếp xúc với đủ đối tượng dục lạc khác nhau như phim ảnh, âm nhạc, thức ăn thượng vị và đời sống xã hội lạc hưởng. Và tâm vị ấy chỉ đắm chìm vào đấy. Nhưng giờ đây, không có phim ảnh, không có âm nhạc, v.v.. để mua vui cho con mắt, lỗ tai của vị ấy, v.v.. nên tâm vị ấy giống như con cá bị bắt ra khỏi hồ và nằm trên đất khô, giẫy giụa trong khổ sở và mong ngóng về với nước. Lúc này hơi thở vào và hơi thở ra giống như nền đất khô vậy, quá đơn điệu và không đáp ứng cái tâm mong cầu dục lạc của vị ấy. Trong khi đang tọa thiền, thay vì tập trung trên hơi thở, vị ấy chỉ dành thời gian để nhớ tưởng về các thú vui mà mình đã tận hưởng hay mong đợi dục lạc trong tương lai. Nhưng điều này chỉ khiến phí thời gian và chẳng ích lợi gì cho việc huân tập và phát triển tâm mình. Cho dù vị ấy có thực hành cách này cả đời cũng chẳng thể tiến bộ hơn được.

Tỷ Dụ Về Con Bê Hoang

Do vậy để vượt qua thói quen xấu này, vị ấy nên lặp đi lặp lại việc mang tâm về hơi thở, trụ tâm mình trên ấy càng lâu càng tốt. Theo cách này, vị ấy có thể phát triển được thói quen mới là tập trung vào hơi thở. Nó giống như một mục đồng muốn điều phục một con bê bấy lâu được nuôi dưỡng chỉ toàn bằng sữa bò mẹ hoang. Người ấy dẫn con bê khỏi bò mẹ, đến một cột trụ được đóng chặt xuống đất và buộc con bê vào đấy. Khi con bê nhảy qua nhảy lại, nó thấy không thể nào chạy thoát khỏi cột trụ. Cuối cùng nó mệt mỏi vì việc kháng cự và ngồi hay nằm xuống ngay tại cột trụ. Tương tự vậy, người nào muốn điều phục cái tâm hoang dại đã lâu ngày được các đối tượng sắc và dục lạc khác nuông chìu, nay đưa tâm mình ra khỏi chốn ấy và dấn vào rừng sâu, đến một gốc cây hay đến một nơi thanh vắng. Rồi vị ấy buộc tâm mình vào một cột trụ là đối tượng của một niệm xứ, như là hơi thở, bằng sợi dây thừng chánh niệm. Tâm của vị ấy cũng sẽ chạy đây, chạy đó. Khi nó không thể đạt được đối tượng quen thuộc xưa nay và thấy không thể rứt bỏ sợi dây thừng chánh niệm để cao chạy xa bay, cuối cùng nó sẽ ngồi xuống ngay tại đối tượng ấy bằng cận định hoặc an chỉ định.

Vậy nên các nhà chú giải xưa đã nói:

“Mục đồng muốn chăn luyện bê hoang
cần cột bê vào cọc chắc thế nào,
Đây cũng vậy, hành giả cần
dùng dây niệm buộc tâm chắc vào đề mục“.

Theo trên, trú xứ ấy là thích hợp cho hành giả. Vì vậy, nó được nói: “Điều này chỉ rõ trú xứ nào là thích hợp cho hành giả huân tập và phát triển chánh niệm.”

Việc niệm hơi thở không dễ để thành tựu nếu không rời xa vùng lân cận làng xóm bởi âm thanh là một chướng ngại với thiền Định. Ở một nơi không có dân cư, rất dễ cho một hành giả ghi nhận đề mục thiền này. Vì thế, Đức Thế tôn đã chỉ rõ trú xứ thích hợp bằng cụm từ: “..đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến một nơi vắng vẻ…”.

Đức Phật giống như một bậc Thầy về nghệ thuật xây dựng những cảnh trí vì Ngài đã chỉ ra trú xứ thích hợp cho các hành giả. Như bậc Thầy về nghệ thuật xây cất quan sát cảnh trí dự định cho một thành phố, ngắm thật kỹ lưỡng khung cảnh ấy từ các phía, và chỉ dẫn “Hãy xây dựng thành phố tại đây“. Và khi việc xây dựng thành phố đã hoàn tất, vị ấy được vinh dự lớn của các gia đình hoàng thân. Cũng vậy, Ðức Thế tôn sau khi xem xét từ mọi phương diện về một trú xứ thích nghi cho hành giả, và Ngài chỉ dẫn: “nên chọn đề mục thiền này“. Và về sau, khi thiền giả đã tu tập đề mục thiền và đắc A-la-hán quả, nói: “Chắc chắn rồi, Ðức Thế tôn quả thực là Ðấng Toàn Giác“, Ðức Thế tôn nhận được danh xưng lớn.

Tỷ Dụ Về Con Báo.

Tỷ-kheo này được ví như một con báo. Cũng giống con báo, vị ấy sống một mình trong rừng và thành tựu mục tiêu của mình bằng cách vượt qua tất cả những gì đối nghịch với mình, ấy là các thú vui.

Một con báo lớn chúa tể loài báo, trốn trong một rừng cỏ hay rừng cây hay bãi đá hoang vu trong rừng để bắt các dã thú trâu rừng, bò rừng, heo, và các dã thú khác v.v… Cũng vậy, vị Tỷ-kheo dâng trọn bản thân tu tập đề mục thiền trong rừng sẽ đạt được tuần tự Bốn Thánh Đạo và Bốn Thánh Quả. Bởi thế Cổ Đức nói:

Như con báo trong rừng
Bắt được các dã thú
Vị đệ tử của Phật
Với Trí Tuệ, tinh cần
Nhờ ẩn vào rừng sâu
Ðược Quả vị cao nhất.

Bởi thế đức Thế tôn nói: “..đi vào khu rừng” v.v… là để nêu rõ một trú xứ thích hợp để việc nỗ lực hành thiền có kết quả.

Mặc dù lúc này đây quý vị không ở trong rừng hay nơi một cội cây, và nơi này các hành giả đông đúc, nếu quý vị có thể phớt lờ sự hiện diện của người khác, dẹp bỏ tất cả mọi việc qua một bên và chỉ hay biết duy nhất vào đề mục thiền của mình, thì nơi này sẽ như tịnh thất với quý vị. Thêm nữa, thời thiền tập thể thực sự giúp quý vị cộng hưởng năng lượng cho nhau và thiền nhanh tiến hơn.

Để Thở Vào Và Thở Ra Một Cách Tỉnh Giác

“lưng thẳng” có nghĩa là giữ cho cột sống thẳng đứng nhờ các đốt xương sống nối liền nhau thẳng khớp. Thân được giữ thẳng từ phần hông trở lên. Đức Phật khuyến cáo tư thế này vì nó là tư thế thích hợp nhất và thoải mái nhất, và giữ tâm ta an tịnh nhưng tỉnh táo.

“..an trú chánh niệm vào đề mục thiền của mình..” nghĩa là gì? Nó có nghĩa là trụ tâm mình bằng cách hướng nó vào đề mục thiền. Ví dụ như khi đang hành Niệm hơi thở, quý vị cần thiết lập chánh niệm vào hơi thở. Nếu đang hành Tứ đại, quý vị cần thiết lập chánh niệm vào đề mục Tứ đại. Quý vị nên hướng sự chú ý vào đề mục thiền của mình, chứ không phải về gia đình của mình.

“Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra.” có nghĩa là vị ấy thở vào và thở ra mà không từ bỏ sự Chánh niệm hay sự tỉnh giác. Chánh niệm rất quan trọng. Ở đây, Chánh niệm có nghĩa là nhớ. Nếu duy trì việc nhớ hơi thở quanh lỗ mũi hay trên đỉnh môi trên, sự chánh niệm và định tâm của quý vị sẽ mạnh lên. Khi định tiến bộ, quý vị sẽ thấy tợ tướng. Nếu tập trung trên tợ tướng vững cố, quý vị sẽ đạt hết bốn bậc thiền.

Hơi Thở Dài Và Hơi Thở Ngắn

Quý vị nên tỉnh giác thở vào như thế nào? Quý vị nên tỉnh giác thở ra như thế nào? Đức Phật hướng dẫn:

Thở vô dài, vị ấy hiểu rõ: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy hiểu rõ: “Tôi thở ra dài”.

Vị ấy hít vào một hơi thở dài qua thời gian diễn tiến dài, vị ấy thở ra một hơi thở dài qua thời gian diễn tiến dài, và vị ấy hít vào và thở ra những hơi thở dài qua thời gian diễn tiến dài.

Khi vị ấy hít vào và thở ra từng hơi thở dài, qua thời gian diễn tiến của mỗi hơi thở, sự nhiệt tình (chanda) vốn rất quan trọng trong hành thiền, khởi lên nơi vị ấy. Với tâm nhiệt tình, vị ấy hít vào một hơi thở dài thanh tịnh hơn hơi thở trước qua thời gian diễn tiến dài của hơi thở. Với tâm nhiệt tình, vị ấy thở ra một hơi thở dài thanh tịnh hơn hơi thở trước qua thời gian diễn tiến dài của hơi thở. Và với tâm nhiệt tình, vị ấy hít vào và thở ra những hơi thở dài thanh tịnh hơn hơi thở trước qua thời gian diễn tiến dài của hơi thở.

Khi với tâm nhiệt tình, vị tỷ kheo hít vào và thở ra những hơi thở dài, hơi thở sau nhẹ nhàng hơn hơi thở trước, sự thích thú (hỷ, pīti) sẽ khởi sinh nơi vị ấy. Với tâm hoan hỷ, vị ấy sẽ hít vào hơi thở dài vi tế hơn hơi thở trước qua suốt thời gian diễn tiến của hơi thở. Với hỷ, vị ấy sẽ thở ra hơi thở dài tịnh hơn hơi thở trước qua suốt thời gian diễn tiến của hơi thở. Và với hỷ, vị ấy sẽ hít vào và thở ra những hơi thở dài, hơi thở sau vi tế hơn hơi thở trước qua suốt thời gian diễn tiến của hơi thở.

Hoan hỷ trong khi hành thiền (pīti) vốn rất quan trọng để có định cao hơn. Nếu quý vị chưa từng có hỷ trong khi đang thiền, Định của quý vị không thể cải thiện. Khi nào thì hỷ mới khởi sinh? Khi quý vị loại bỏ được trạo cử và phóng tâm, và có thể tập trung trên đối tượng hơi thở vi tế suốt thời gian diễn tiến của mỗi hơi thở dài vi tế, định của quý vị sẽ cải thiện và khi định dần trở nên sâu hơn, hỷ (pīti) sẽ khởi sinh trong tâm hành giả.

Và khi vị tỷ kheo hít vào và thở ra những hơi thở dài với hỷ, hơi thở dài sau sẽ vi tế hơn hơi thở dài trước, lúc ấy tâm của vị ấy sẽ tự động rời khỏi hơi thở vào, ra dài mà chuyển sang tợ tướng, và an trú trên đấy với trạng thái xã, upekkhā.

Tiến trình hành thiền tương tự trong đoạn kinh văn cho hơi thở ngắn, bằng cách chỉ thay “hơi thở dài” bằng “hơi thở ngắn” vì có khi hơi thở là dài, có lúc ngắn. Điều này là tự nhiên thôi.

Thở vô ngắn, vị ấy hiểu rõ: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy hiểu rõ: “Tôi thở ra ngắn”.

Toàn Thân Hơi Thở

Như trong đoạn Kinh văn:

“Vị ấy tập như vầy: “Cảm giác rõ ràng toàn thân hơi thở, tôi sẽ thở vô”. Vị ấy tập như vầy; “Cảm giác rõ ràng toàn thân hơi thở, tôi sẽ thở ra”.

Vị ấy tập luyện với ý nghĩ như sau: “tôi sẽ vừa hít vào vừa làm cho mình biết và rõ về điểm bắt đầu, đoạn giữa và điểm kết thúc của toàn bộ thân mỗi hơi thở vào. Tôi sẽ vừa thở ra vừa làm cho mình biết và rõ về điểm bắt đầu, đoạn giữa và điểm kết thúc của toàn bộ thân mỗi hơi thở ra. Và như thế vị ấy hít vào và thở ra với tâm hợp Trí giúp mình biết rõ về hơi thở.

Trong trường hợp này quý vị không nên hiểu lầm rằng quý vị nên ghi nhận hơi thở theo cách: “đây là điểm bắt đầu, đây là đoạn giữa, đây là điểm kết thúc”. Chỉ việc biết toàn bộ hơi thở một cách liên tục là đủ rồi.

Đối với một hành giả, trong hơi thở vô và hơi thở ra bị yếu ớt hay tán loạn, chỉ có điểm bắt đầu là rõ, còn đoạn giữa và điểm cuối không được rõ. Vị ấy có thể chỉ nắm bắt được điểm bắt đầu, và gặp khó khăn với đoạn giữa và điểm kết thúc. Với vị khác thì chỉ có đoạn giữa là rõ, còn điểm bắt đầu và điểm kết thúc thì không rõ. Với một vị thứ ba nữa là chỉ có điểm kết thúc là rõ, điểm bắt đầu và đoạn giữa là không rõ. Vị ấy gặp khó khăn với điểm bắt đầu và đoạn giữa. Nhưng với một vị thứ tư nữa là cả ba giai đoạn đều rõ với vị ấy và vị ấy có thể nắm bắt được hết cả ba. Vị ấy chẳng gặp rắc rối nào ở đâu cả. Để chỉ ra rằng nên phát triển đề mục thiền này theo mẫu hành giả thứ tư, Đức Phật mới dạy: “Vị ấy tập như vầy: “Cảm giác rõ ràng toàn thân hơi thở, tôi sẽ thở vô”. Vị ấy tập như vầy: “Cảm giác rõ ràng toàn thân hơi thở, tôi sẽ thở ra.””

Vào giai đoạn đầu của thiền này, chẳng có việc gì khác cần làm ngoài việc thở vào và thở ra, được dạy như sau: Khi vị ấy hít vào hơi thở dài, vị ấy hiểu rõ: “Tôi hít vào dài”. Khi thở ra một hơi thở dài, vị ấy hiểu rõ: “Tôi thở ra dài”. Khi hít vào một hơi thở ngắn, vị ấy hiểu rõ: “Tôi hít vào ngắn”. Khi thở ra một hơi thở ngắn, vị ấy hiểu rõ: “Tôi thở ra ngắn”. Sau đó, vị ấy nên nỗ lực để khởi sinh Trí Tuệ và hơn nữa, vì thế mà điều này được nói đến:“Tôi sẽ vừa hít vào vừa cảm giác rõ ràng toàn thân hơi thở”. Biết rõ hơi thở là phần Tuệ học; tập trung trên hơi thở là phần Định học; chế ngự tâm khỏi các phiền não là phần Giới học. Vị ấy nên nỗ lực thành tựu tam học này trong khi thở.

Hơi Thở Vi Tế

Như trong đoạn kinh văn:

Vị ấy tập như vầy: “Tôi sẽ vừa hít vào vừa an tịnh toàn thân hành của hơi thở”. Vị ấy tập như vầy: “Tôi sẽ vừa thở ra vừa an tịnh toàn thân hành của hơi thở”.

Vị ấy nghĩ rằng: Tôi sẽ vừa hít vào, thở ra vừa khiến cho hoạt động hít vào thở ra được yên lặng, êm dịu, khinh an và tĩnh lặng. Theo cách này, vị ấy luyện tập chính mình.

Liên hệ phần này, tính thô tháo, tính vi tế và an tịnh nên được hiểu như vầy: nếu không có nỗ lực chú niệm, thân tâm của Tỷ-kheo này sẽ mệt nhọc và thô tháo. Hơi thở vào và ra cũng sẽ thô tháo và không an tịnh. Cánh mũi của vị ấy cũng trở nên chật chội và vị ấy phải thở bằng cả miệng. Nhưng khi thân và tâm được kiểm soát, chúng sẽ trở nên yên lặng và an tịnh. Khi chúng đang nghĩ ngơi, việc thở trở nên vi tế đến nổi hành giả nghi ngờ xem mình có đang thở không.

Ví như một người đứng yên lại sau khi chạy xuống đồi, đặt một gánh nặng đang đội trên đầu xuống, thì khi ấy những hơi thở vô ra của người ấy còn thô tháo. Hai cánh mũi trở nên không đủ, người đó thở cả bằng miệng nữa. Nhưng khi vị ấy đã hết cơn mệt, đã uống nước, tắm rửa, đắp một mảnh vải ướt nơi ngực, nằm xuống trong bóng mát, thì những hơi thở ra vào của người ấy trở nên vi tế đến nổi vị ấy không biết được nó có đang hiện hữu không. Vị Tỷ-kheo cũng vậy, hơi thở của vị ấy trở nên quá vi tế sau khi vị ấy dấn thân vào thực hành chú niệm hơi thở đến mức vị ấy khó nói được liệu mình có đang thở hay không. Tại sao vậy? Khi chưa hành thiền, vị ấy không giác tri, tập trung, suy tư hay nghĩ về vấn đề tịnh chỉ hơi thở thô tháo. Nhưng khi thực hành, vị ấy mới làm. Vì vậy, hoạt động thở trở nên vi tế trong khi hành thiền hơn lúc không thực hành. Vì thế mà các nhà chú giải xưa có nói:

“Khi tâm và thân giao động,
Thì hơi thở gấp.
Nhưng khi thân không giao động,
Thì hơi thở vi tế“.

Làm cách nào vị ấy luyện tập chính mình với suy nghĩ: “Tôi sẽ vừa hít vào vừa an tịnh toàn thân hành của hơi thở. Tôi sẽ vừa thở ra vừa an tịnh toàn thân hành của hơi thở”. Gì là các thân hành của toàn bộ hơi thở (kāyasaṅkhāra)? Những gì thuộc về hơi thở, vốn gắn liền với hơi thở là các thân hành của toàn bộ hơi thở. Vị ấy luyện tập để khiến cho thân hành của toàn bộ hơi thở trở nên yên lặng, trở nên êm dịu và an tịnh. Vị ấy vừa luyện tập mình vừa suy nghĩ như vầy: “Làm an tịnh các thân hành của toàn bộ hơi thở bằng cách làm lắng yên các hoạt động của thân thể như đổ tới, đổ lui, nghiêng qua, nghiêng lại, đủ hướng và vừa an chỉ các cử động, lung lay, rung động, rùng mình của thân thể, tôi sẽ hít vào và thở ra. Tôi sẽ vừa hít vào và thở ra vừa làm cho an tịnh các thân hành của toàn bộ hơi thở bằng bất cứ hoạt động nào tĩnh lặng và êm ái của thân thể như không nghiêng người tới, đổ người lui, không nghiêng qua, đổ lại, như không cử động, lung lay, không rung động, rùng mình”.

Vậy là tôi đã chỉ cho quý vị bốn giai đoạn để phát triển định nhờ niệm hơi thở, ấy là tập trung trên:

1. Hơi thở dài

2. Hơi thở ngắn

3. Toàn bộ hơi thở, và

4. Hơi thở vi tế.

Kết Hợp Thành Một

Trong trường hợp này quý vị nên hiểu rằng có thể kết hợp cả ba giai đoạn, dài, ngắn và vi tế trong một. Nó có nghĩa là trong khi quý vị đang thở những hơi thở dài vi tế, quý vị nên gắng biết rõ toàn bộ hơi thở dài vi tế này. Nếu hơi thở chưa trở nên vi tế, quý vị nên nhắc tâm nhớ về ý muốn có hơi thở vi tế. Nếu cố gắng cách này, khi định cải thiện, toàn bộ thân hơi thở sẽ trở nên vi tế. Lúc ấy với tâm thật nhiệt tình, quý vị nên biết rõ toàn bộ thân hơi thở dài vi tế ấy. Nếu thực hành như vậy, quý vị có thể thành công trong chứng đạt thiền.

Cũng có thể kết hợp ba giai đoạn, hơi thở ngắn, toàn bộ thân hơi thở và hơi thở vi tế trong một. Trong khi đang thở những hơi thở dài vi tế, quý vị nên biết rõ cả ba, hơi thở dài, toàn bộ thân hơi thở và hơi thở vi tế cùng nhau. Và trong khi đang thở những hơi thở ngắn vi tế, quý vị nên gắng biết rõ toàn bộ thân hơi thở ngắn vi tế. Nếu quý vị thực hành cách này với đủ sự nhiệt tình và hoan hỷ, định của quý vị sẽ cải thiện. Khi định cải thiện, hơi thở sẽ dần tế vi hơn. Lúc ấy không nên thất vọng với ý nghĩ rằng: “Ôi, hơi thở của tôi không rõ ràng.” Vì chúng sẽ làm cho bạn bực dọc. Kết quả là định của quý vị sẽ thối giảm. Thật ra, rất tốt khi hơi thở trở nên vi tế. Tại sao? Nếu lúc ấy ấn tướng (Nimitta) xuất hiện, và tâm quý vị dán vào nó, quý vị sẽ không bị hơi thở chi phối. Còn nếu hơi thở còn thô tháo, quý vị có thể biết nimitta cũng như hơi thở; tâm sẽ có hai đối tượng. Với hai đối tượng, tâm quý vị không được gom về một điểm, và định sẽ không cải thiện. Vì thế, quý vị nên hài lòng khi hơi thở trở nên vi tế hơn.

Tuy nhiên quý vị không được cố tình làm cho hơi thở dài, ngắn, hay vi tế. Nếu làm vậy Tinh tấn giác chi và Trạch pháp giác chi sẽ trở nên trội hơn. Khi hai giác chi này trội hơn, định sẽ thối giảm. Vì vậy mà quý vị nên để cho việc thở của mình diễn tiến tự nhiên. Đây là điều tốt nhất. Có lúc hơi thở là dài, có lúc thì ngắn. Không vấn đề. Dù hơi thở là dài hay ngắn, quý vị nên cố biết rõ toàn bộ thân hơi thở. Khi định tiến thêm nữa, quý vị nên cố biết rõ toàn bộ thân hơi thở vi tế. Khi nó là dài, quý vị nên cố biết rõ toàn bộ thân hơi thở vi tế dài. Khi nó là ngắn, quý vị nên cố biết rõ toàn thân hơi thở vi tế ngắn.

Nếu có thể tập trung trên toàn bộ thân hơi thở vi tế cho được hơn một hay hai tiếng đồng hồ cho mỗi thời ngồi, định của quý vị sẽ tiến cao hơn nữa. Lúc ấy quý vị nên quan tâm đặc biệt đến việc thực hành liên tục. Xin hãy dừng suy tư. Xin hãy dừng nói chuyện. Trong mọi oai nghi, đi, đứng, ngồi hay nằm, quý vị đều phải tập trung chỉ trên hơi thở mà thôi. Quý vị không nên chú ý đến bất kỳ đối tượng nào khác.

Nimitta Và Ánh Sáng

Nếu quý vị có thể tập trung vào toàn bộ thân hơi thở vi tế, dù dài hay ngắn, liên tục cho được hơn một tiếng đồng hồ trong mỗi thời ngồi liên tục suốt ba ngày, thường thì nimitta sẽ xuất hiện. Với một số hành giả, nimitta xuất hiện trước, tuy nhiên với số khác thì ánh sáng xuất hiện trước. Quý vị nên phân biệt nimitta với ánh sáng. Chúng là hai thứ khác nhau, ví như mặt trời và ánh sáng mặt trời vậy.

Ánh sáng thì ở khắp mọi nơi, có ở mọi hướng quanh thân quý vị. Ngoại trừ thức tái sanh, mọi tâm sanh lên nương nhờ nơi sắc ý căn sản sinh ra rất nhiều tổng hợp sắc (kalāpa), là các hạt cực nhỏ, được gọi là tổng hợp sắc do tâm sanh. Nếu phân tích các tổng hợp sắc này, quý vị sẽ thấy ít nhất tám yếu tố sắc, ấy là, đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị và dưỡng chất. Nếu tâm ấy là một tâm định và mạnh mẽ, màu của các tổng hợp sắc do tâm định này sinh sẽ phát sáng. Ngoài ra, yếu tố lửa (nhiệt) trong các tổng hợp sắc ấy sẽ sản sinh nhiều tổng hợp sắc mới được gọi là sắc do nhiệt sanh vốn lan tỏa không chỉ khắp trong thân mà còn tỏa ra bên ngoài. Trong mỗi tổng hợp sắc này còn có yếu tố màu phát sáng thành ánh sáng. Khi tâm có định vững chắc và mạnh mẽ, ánh sáng lan tỏa rất xa. Khi định yếu hơn, ánh sáng chỉ lan tỏa ra vài inch. Màu của các tổng hợp sắc do tâm sanh thì chỉ tỏa sáng bên trong, trong khi màu của các tổng hợp sắc do nhiệt sanh thì tỏa chiếu cả bên trong lẫn bên ngoài. Sự kết tụ của những màu phát sáng này hình thành ánh sáng xuất hiện quanh thân quý vị ở mọi hướng.

Dẫu sao quý vị cũng không nên tập trung vào ánh sáng, mà chỉ vào hơi thở. Lúc hơi thở thường trở nên vi tế, để biết hơi thở vi tế này, tấn, niệm và trạch pháp mạnh là rất cần thiết. Nếu biết được rõ ràng hơi thở vi tế nhờ các căn này mạnh, định của quý vị sẽ tăng thịnh. Khi định tăng thịnh, thông thường nimitta của hơi thở sẽ xuất hiện, và nó chỉ xuất hiện trước lỗ mũi.

Nimitta Của Hơi Thở Là Gì?

Nimitta của hơi thở là gì? Khi định tăng trưởng, hơi thở của quý vị sẽ xuất hiện như là một nimitta. Hơi thở cũng do tâm sanh. Nếu phân tích tứ đại của hơi thở, quý vị cũng sẽ thấy được ít nhất có chín yếu tố sắc, đó là đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị, dưỡng chất và âm thanh. Yếu tố màu của hơi thở lúc này phát sáng. Như tôi đã giải thích bên trên, yếu tố lửa (nhiệt) của các tổng hợp sắc này còn sản sinh ra các tổng hợp sắc mới với yếu tố màu phát sáng. Chính màu phát sáng của các tổng hợp sắc ấy tạo thành nimitta.

Khi lần đầu nimitta xuất hiện, nó thường không ổn định. Lúc ấy, quý vị không nên tập trung vào nó, chỉ tập trung vào hơi thở thôi. Khi định trên hơi thở trở nên ổn định và đủ sâu, nimitta lúc ấy cũng sẽ trở nên ổn định. Lúc đầu nimitta có màu xám xám. Khi định cải thiện, nimitta có màu trắng, và sau đó có màu trong, nimitta có màu trong đó được gọi là tợ tướng, paṭibhāga nimitta. Tùy thuộc vào tưởng của quý vị, mà nimitta sẽ thay đổi về hình dáng và màu sắc. Có lúc nó có thể dài, có lúc nó có thể tròn, đôi khi nó có màu đỏ, đôi khi nó có màu vàng. Dẫu sao quý vị cũng không nên chú ý đến màu hay hình dáng này, nếu không nó sẽ tiếp tục thay đổi. Nếu vậy, định sẽ thối giảm, quý vị sẽ không chứng thiền. Vì thế, quý vị nên tập trung trên hơi thở của mình cho đến khi tợ tướng hợp nhất với hơi thở và tâm của quý vị tự động dính vào tợ tướng. Lúc này quý vị chỉ nên tập trung vào nimitta thôi, mà không vào hơi thở. Nếu quý vị khi thì tập trung vào nimitta, khi thì tập trung vào hơi thở, định sẽ dần mất đi.

Lại nữa quý vị không nên để ý đến các đặc tính nào đó của tứ đại trong hơi thở cũng như trong nimitta, như là cứng, nhám, nặng, mềm, trơn, nhẹ, chảy, kết dính, nóng, lạnh, nâng đỡ và đẩy. Nếu chú ý đến những đặc tính này là quý vị đang hành thiền Tứ đại vậy, mà không phải thiền Niệm hơi thở.

Lại nữa, quý vị không nên chú ý hơi thở hay nimitta như là Vô thường, Khổ hay Vô ngã. Chúng là tướng chung. Tại sao? Các đối tượng của Vipassanā là các hành, saṅkhāra. Chúng là các sắc pháp, danh pháp và các nhân của chúng. Hơi thở và nimitta không phải là các sắc chân đế, mà chỉ là tính khối tưởng. Vì vậy chúng không phải là đối tượng của Vipassanā. Nếu chú ý đến chúng như là Vô thường, Khổ hay Vô ngã thì quý vị không đang hành Chỉ hay Quán gì cả.

Nếu nimitta của hơi thở có màu trăng trắng và sau đó nếu có thể tậo trung tốt vào nó, nó có thể trắng hơn và dần sáng như sao mai. Tâm của quý vị rồi sẽ tự động chìm vào trong nimitta ấy. Nếu tâm của quý vị chìm hẳn vào nimitta và trú yên trong ấy một thời gian lâu, thì trạng thái định ấy được gọi là an chỉ định. Đối với hành giả sơ cơ, đây là giai đoạn rất quan trọng. Tiến trình tương tự cũng được áp dụng với các nimitta có những màu khác.

Hai Loại Định

Có hai loại định: cận định (upacārajhāna) và an chỉ định (appanā jhāna). An chỉ định là trạng thái định hoàn toàn không gián đoạn của tâm lên đối tượng, như là ānāpāna paṭibhāga nimitta, tợ tướng của hơi thở. Vào giai đoạn này, không có tâm hữu phần xuất hiện giữa các sát-na tâm nhận biết tợ tướng của hơi thở. Các thiền chi lúc này đủ mạnh để giữ tâm trên đối tượng không gián đoạn. Trong cận định, tâm bắt đầu hợp nhất với đối tượng theo thời lượng tăng đều, nhưng đôi khi giữa những thời lượng này vẫn còn những lúc gián đoạn bởi các tâm hữu phần khởi sinh. Ở đây, năm thiền chi chưa đủ mạnh và sự nhất tâm chưa đủ sâu để thoát khỏi bất kỳ sự phân tâm nào.

Chú giải giải thích giai đoạn này bằng ví dụ về thai nhi Đức Chuyển Luân Thánh Vương trong bụng mẹ. Hoàng hậu khi mang thai Đức Chuyển Luân Vương, có thể thấy được con trai trong bào thai bằng đôi mắt của mình. Lúc bấy giờ bà hết sức thận trọng bảo vệ con trai khỏi tất cả các tai vạ. Cũng vậy, quý vị nên canh giữ nimitta của mình hết sức thận trọng và với sự kính trọng. Quý vị nên thực hành bằng sự nhiệt tâm, bằng Trí Tuệ và sự tỉnh giác, bởi vì một tâm biếng nhác, chểnh mãng hay thất niệm không thể làm nên sự khác biệt nào trong hành trình phát triển tâm linh. Trong mọi oai nghi, quý vị cần phải chánh niệm và tập trung trên nimitta của mình. Ví dụ như, trước khi bước đi, quý vị nên đứng ở một góc con đường, tập trung vào hơi thở. Khi nimitta xuất hiện và ổn định, quý vị nên tập trung vào nó. Khi định của quý vị trở nên mạnh và cực mạnh, quý vị nên bước đi chậm trong khi tâm vẫn tập trung vào chỉ nimitta thôi.

Khả năng tập trung trên nimitta trong mọi oai nghi là một dạng của năng lực ý chí. Quý vị có sức mạnh ý chí này. Vì thế xin hãy thực hành một cách nỗ lực. Quý vị có thể thành công. Nếu thực hành đều đặn, không lâu tâm của quý vị có thể chìm vào nimitta hoàn toàn. Đây là an chỉ định, còn gọi là bậc thiền. Mặc dù trong vài lần đầu, an chỉ định có thể không kéo dài, quý vị cũng không nên bỏ cuộc. Quý vị nên tập đi, tập lại. Nếu thực hành tinh tấn với Tuệ lực, Niệm lực mạnh, quý vị sẽ thành công trong việc duy trì định trên nimitta rất lâu.Vào giai đoạn đầu, trú lâu trong thiền cần được chú trọng nhiều hơn, ngược lại, việc suy xét các thiền chi cần được chế ngự. Nếu suy xét về các thiền chi thường xuyên, định của quý vị sẽ giảm. Vì thế xin hãy cố trú trong an chỉ định càng lâu càng tốt.

Suy Xét Các Thiền Chi

An chỉ định của quý vị cần phải ổn định và sâu. Khi nó ổn định và sâu liên tục cho được một hay hai giờ đồng hồ, đấy là một thành tựu tốt đẹp. Tôi muốn khuyên quý vị nên thực tập cho đến khi nào quý vị có thể trú trong an chỉ định cho được ít nhất ba giờ đồng hồ. Nếu quý vị có thể an trú trong nimitta đựơc hơn một giờ, hai giờ hay ba giờ trong mỗi thời ngồi, trong ba ngày liên tục, lúc ấy quý vị có thể suy xét về các thiền chi. Để làm vậy, trước tiên quý vị nên trú trong an chỉ định cho được hơn một tiếng. Sau khi xuất khỏi an chỉ định này, quý vị nên trực nhận phần bên trong trái tim để phân biệt Bhavaṅga ý căn hay tâm hữu phần, vốn sinh khởi nương nơi sắc ý căn (heart-base). Lúc đầu, thông thường nhiều hành giả sẽ chưa phân biệt được Bhavaṅga với nimitta. Khi họ trực nhận Bhavaṅga, họ sẽ thấy cũng nimitta ấy ở trong trái tim. Họ nghĩ ấy là Bhavaṅga. Nhưng thật ra nó không phải là Bhavaṅga, Bhavaṅga giống như tấm gương soi trong trái tim.

“Này các tỷ kheo, tâm Bhavaṅga là sáng rực.”

Điều này đựơc đề cập trong chương Accharāsaṅghāta của Tăng chi bộ. Bhavaṅga là một loại tâm. Nó không phải là ánh sáng, nhưng nó sản sinh ra ánh sáng rực rỡ. Nó có thể sinh ra các tổng hợp sắc do tâm sanh. Và yếu tố lửa (hay nhiệt) trong các tổng hợp sắc này tiếp tục sinh ra nhiều tổng hợp sắc mới, do nhiệt sanh. Yếu tố màu trong hai dạng tổng hợp sắc này hiệp lại, phát sáng. Mức độ phát sáng tùy thuộc vào Tuệ lực tương ứng với tâm Bhavaṅga. Tuệ lực càng cao, ánh sáng càng mạnh. Vì thế nếu nghiệp lực sản sinh ra Bhavaṅga là thuộc Tuệ Minh Sát, Tuệ lực sẽ rất mạnh, và ánh sáng sẽ rất mạnh và rực rỡ. Do vậy mà Bhavaṅga là một thứ, và ánh sáng là một thứ khác.

Quý vị nên suy xét Bhavaṅga trong vài giây thôi, vì suy xét lâu, như hai hay ba phút chẵng hạn, tim quý vị có thể nhói đau và định sẽ giảm. Vậy nên nếu có thể suy xét Bhavaṅga trong vài giây, thì tốt rồi. Còn nếu chưa được, quý vị nên chú tâm trở lại trên nimitta của hơi thở cho đến khi an chỉ định của quý vị thật sâu và nimitta sáng rực trở lại. Lúc này quý vị có thể thử suy xét Bhavaṅga lần nữa. Nếu thực tập, thực tập lại cách này quý vị sẽ có thể trực nhận được Bhavaṅga. Khi có khả năng trực nhận được Bhavaṅga, quý vị nên tập trung lại vào nimitta cho đến khi an chỉ định của quý vị thật sâu và nimitta sáng mạnh. Và rồi khi trực nhận Bhavaṅga, quý vị sẽ thấy rằng nimitta xuất hiện bên trong Bhavaṅga, giống như khi mình nhìn vào tấm gương soi, quý vị sẽ thấy gương mặt mình. Và rồi quý vị nên trực nhận năm thiền chi, ấy là tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm.

1. Tầm (vitakka): là trạng thái hướng và đặt tâm trên đối tượng, nimitta của hơi thở

2. Tứ (vicāra): là trạng thái duy trì tâm trên đối tượng.

3. Hỷ (pīti): là trạng thái thích thú đối với đối tượng.

4. Lạc (sukha): là trạng thái an vui với đối tượng.

5. Nhất tâm (ekaggatā): là trạng thái hợp nhất của tâm vào đối tượng.

Khi quý vị trực nhận năm thiền chi này, trước hết quý vị nên trực nhận từng thiền chi một. Sau khi đã trực nhận được từng thiền chi một, quý vị có thể trực nhận được năm thiền chi cùng lúc. Nếu quý vị có thể thực hành bước này tốt rồi, quý vị nên phát triển năm Pháp thuần thục.

Năm Pháp Thuần Thục

Pháp thuần thục đầu tiên quý vị nên thực hành là nhập định bất kỳ lúc nào quý vị muốn. Thứ hai là xuất khỏi định bất kỳ lúc nào mình muốn. Thứ ba là quý vị trú trong định cho được một giờ, hai giờ, ba giờ theo quyết định của mình Pháp thuần thục thứ tư và thứ năm thực sự được thực hiện trong cùng một bước, đó là, suy xét các thiền chi bất kỳ khi nào quý vị muốn và kỹ năng suy xét các thiền chi bằng ý căn hướng tâm được gọi là Pháp thuần thục hướng tâm đến các thiền chi, còn kỹ năng suy xét các thiền chi bằng các tốc hành tâm trong cùng tiến trình tâm suy xét thiền chi với ý căn hướng tâm, được gọi là Pháp thuần thục trong xét duyệt các thiền chi. Đây là sự khác nhau duy nhất. Nếu có thể thành công với năm Pháp thuần thục này, quý vị có thể thực hành lên nhị thiền, tam thiền, tứ thiền một cách có hệ thống. Trong sơ thiền, hơi thở trở nên vi tế, ở nhị thiền hơi thở vi tế hơn, ở tam thiền hơi thở vi tế hơn nữa, và đến tứ thiền hơi thở ngừng hẳn.

Tôi đã hỏi nhiều thiền sinh bậc thiền nào họ cho là tốt nhất. Rất nhiều vị nói là nhị thiền là được hơn sơ thiền, tam thiền thì thích hơn nhị thiền, nhưng tứ thiền là tuyệt nhất trong bốn bậc thiền.

Sự thành tựu này là do năng lực ý chí. Mọi người đều có năng lực ý chí. Quý vị nên thực hành một cách tinh tấn trong Giáo Pháp của Đức Phật vốn là một cơ hội hiếm thay (viriyavato kiṃ nāma kammaṃ na sijjhati!). Với một người có nỗ lực lớn lao, có đủ quyết tâm và Trí Tuệ, với người ấy không có gì là không thể đạt được cả. Nếu quý vị nỗ lực thực hành, mọi cái đều trở thành “có thể” cho quý vị. Quý vị có thể thành công trong chứng đạt hết bốn tầng thiền.

Sau khi đạt được tứ thiền, nếu muốn thực hành các đề mục thiền chỉ khác, như là mười biến xứ (haykasiṇa), bốn Phạm trú, quý vị có thể thực tập chúng dễ dàng. Nếu muốn thực hành Vipassanā dựa trên tứ thiền của Niệm hơi thở, quý vị cũng có thể thực hành tiếp như vậy. Có hai dạng thực hành Vipassanā dựa vào tứ thiền niệm hơi thở: dạng assāsapassāsa kammika và dạng jhānakammika. Họ dịchassāsapassāsa kammika là người thực hành niệm hơi thở và jhāna kammika như là hành giả thực hành thiền chỉ. Phần phiên dịch này chưa chính xác. Vì thế tôi sẽ giải thích làm cách nào hai dạng hành giả này thực hành Vipassanā dựa trên tứ thiền.

Trong thiền chỉ, có bốn mươi đề mục, nhưng trong Vipassanā, chỉ có hai đề mục, ấy là phân biệt sắc (rūpakammaṭṭhāna) và phân biệt danh (nāmakammaṭṭhāna). Đôi khi họ còn gọi là rūpa pariggaha và arūpa pariggaha một cách tương ứng. Nếu một hành giả đã đạt đến tứ thiền Ānāpāna (thiền niệm hơi thở), rồi hành phân biệt sắc trước, người ấy được gọi là hành giả assāsapassāsa kammika. Nếu hành giả phân biệt danh trước, vị ấy phải phân biệt năm thiền chi trước, và vị ấy được gọi là hành giảjhānakammika.

Hành Giả Assāsakammika
(Hành Giả Phân Biệt Sắc Trước)
Và Làm Cách Nào Phân Biệt Sắc

Một hành giả Assāsapassāsa Kammika (tức là hành giả phân biệt sắc trước), sau khi rời khỏi tứ thiền Ānāpāna (tức tứ thiền thiền Niệm hơi thở), đi phân biệt mười hai đặc tính của tứ đại trong hơi thở, ấy là cứng, nhám, nặng, mềm, trơn, nhẹ, chảy, kết dính, nóng, lạnh, nâng đỡ, đẩy. Nhóm lại theo mỗi đại, chúng ta có bốn đại: cứng, nhám, nặng, mềm, trơn, nhẹ hình thành ra yếu tố đất; chảy và kết dính hình thành ra yếu tố nước; nóng và lạnh hình thành ra yếu tố lửa; nâng đỡ và đẩy hình thành ra yếu tố gió. Vị ấy nên phân biệt tứ đại trong hơi thở theo trình tự có hệ thống. Nếu thực hành vậy, hành giả có thể thấy được rất nhiều tổng hợp sắc. Nếu hành giả phân tích các tổng hợp sắc ấy, có thể thấy được có ít nhất chín yếu tố sắc trong mỗi tổng hợp sắc, ấy là đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị, dưỡng chất và âm thanh. Chín yếu tố sắc này được gọi là thân của hơi thở vào và hơi thở ra (assāsapassāsa kāya).

Sau khi phân biệt thân của hơi thở vào và hơi thở ra, vị ấy nên suy xét như vầy: “Dựa vào đâu mà nó sinh khởi?” Trong khi suy xét, vị ấy thấy rằng nó khởi sinh dựa trên một căn. Căn là gì? Theo Vi diệu Pháp Abhidhammā, có sáu căn, ấy là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và sắc ý căn (heart-base). Theo phương pháp trong Kinh tạng (Suttanta), căn là thân y sinh, tức là thân được sinh ra (karajakāya), bao gồm bốn loại sắc:

1. Sắc do nghiệp sanh, kammaja rūpa

2. Sắc do tâm sanh, cittaja rūpa

3. Sắc do nhiệt sanh, utuja rūpa

4. Sắc do vật thực sanh, āhārajarūpa

Tại sao có sự khác nhau? Vì phương pháp trong Kinh Tạng là để học sự hành, trong khi phương pháp trong Vi diệu Pháp là để cho thấy nghĩa chân xác. Chẳng hạn như khi phân biệt tứ đại trong con mắt mình một cách hệ thống, quý vị sẽ thấy sáu loại tổng hợp sắc. Một trong sáu loại này là tổng hợp sắc có thần kinh mắt là yếu tố thứ mười (gọi tắt là mắt-thập-sắc, cakkhu-dasaka-kalāpa). Nếu phân tích nó, quý vị sẽ thấy có mười yếu tố sắc của nó, ấy là đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị, dưỡng chất, mạng căn và sắc thần kinh mắt (cakkhu pasāda). Trong số mười yếu tố chỉ có sắc thần kinh mắt là nhãn căn. Mặc dù chín yếu tố sắc còn lại trong mắt-thập-sắc này không phải là nhãn căn, nhưng chúng có nhãn căn đồng hành, bởi vì tất cả chúng sanh lên và diệt đi cùng lúc như một nhóm. Nếu không thể phân tích chúng, quý vị không thể phá vỡ tính khối tưởng của nhóm (samūha ghana) để thấy rõ sắc chân đế. Do không phân tích các tổng hợp sắc, chúng ta không thể thấy được nhãn căn, nên phương pháp tạng Kinh nói rằng căn là tác sanh thân, tức là thân được sinh ra (karaja kāya = produced body). Giải thích tương tự cho nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và sắc ý căn.

Mắt thập pháp không thể sinh khởi một mình. Nếu phân biệt tứ đại trong con mắt theo trình tự hệ thống, quý vị sẽ thấy nhiều loại tổng hợp sắc. Nếu dùng tay để chạm con mắt, quý vị biết rõ cảm giác đụng chạm. Bởi vì trong con mắt có thân-thập-sắc (kāya-dasaka-kalāpa), tức là tổng hợp sắc có sắc thần kinh thân là yếu tố thứ mười. Thức thân (kāya viññāna) vốn biết cảm giác đụng chạm, khởi sanh chỉ nương nơi thân căn. Trong con mắt của quý vị, còn có các tánh-thập-sắc (bhāva-dasaka-kalāpa), tức là các tổng hợp sắc có sắc giới tánh là thứ mười. Nhờ có sắc xác định giới tính (bhāva rūpa) này mà quý vị có thể hiểu được, “đây là người nữ” và “đây là người nam”. Mắt-thập-sắc, thân-thập-sắc và tánh-thập-sắc được sanh ra do Nghiệp đời trước, nên chúng được gọi là sắc do nghiệp sanh (kammaja rūpa). Bởi vì quý vị có thể chớp mắt như ý, nên chúng ta biết rằng trong cặp mắt này của chúng ta cũng có sắc do tâm sanh (cittaja rūpa) vốn sai khiến sự biểu lộ bằng thân, tạo ra động tác chớp mắt.Trong mỗi tổng hợp sắc, có yếu tố lửa. Yếu tố lửa có thể sản sinh nhiều thế hệ các tổng hợp sắc mới, được gọi là sắc do nhiệt sanh (utuja rūpa). Trong mỗi tổng hợp sắc, đều có dưỡng chất (oja). Khi dưỡng chất có trong các tổng hợp sắc do vật thực sanh (āhārajarūpa) hỗ trợ, chính dưỡng chất này có trong các tổng hợp sắc khác, nó sản sinh ra các thế hệ tổng hợp sắc do vật thực sanh mới (āhāraja-rūpa). Vậy là trong con mắt của quý vị, có tổng cộng sáu loại tổng hợp sắc. Nếu phân tích chúng, quý vị có thể thấy, có tổng cộng năm mươi bốn loại sắc. Để phá tan tính khối tưởng, quý vị cần cố gắng để thấy năm mươi bốn loại sắc này.

Lúc ấy, quý vị nên đi trực nhận hay phân biệt (discern) sáu căn và bốn mươi hai phần thuộc thân theo cùng cách. Trong mỗi phần thuộc thân, thông thường có bốn loại sắc: sắc do nghiệp sanh, sắc do tâm sanh, sắc do nhiệt sanh và sắc do vật thực sanh.

Hai Mươi Tám Loại Sắc

Chú giải có giải thích gì là tác sanh thân (karaja kāya). Tác sanh thân này được hình thành từ sắc tứ đại và các sắc do tứ đại sanh. Điều có nghĩa gì? Trong mỗi tổng hợp sắc có bốn sắc tố chính, là đất, nước, lửa, gió và các sắc do tứ đại sanh như: màu, mùi, vị, và dưỡng chất. Thật ra có tổng cộng hai mươi tám loại sắc: bốn sắc tứ đại (hay bốn đại chủng) và hai mươi bốn sắc do tứ đại sanh (hay sắc y đại sanh).

Hai mươi bốn sắc ấy là:

Năm loại tịnh sắc, (pasāda rūpa), tức là năm loại sắc thần kinh:

1. Nhãn tịnh sắc (cakkhu-pasāda), hay sắc thần kinh mắt.

2. Nhĩ tịnh sắc (sota-pasāda), hay sắc thần kinh tai.

3. Tỷ tịnh sắc (ghāna-pasāda), hay sắc thần kinh mũi.

4. Thiệt tịnh sắc (jivhā-pasāda), hay sắc thần kinh lưỡi.

5. Thân tịnh sắc (kāya-pasāda), hay sắc thần kinh thân.

Bốn loại Hành cảnh sắc (gocāra-rūpa, sense-field materiality):

1. Màu (vaṇṇa)

2. Âm thanh (sadda)

3. Mùi (gandha)

4. Vị (rasa)

Dưỡng chất (ojā)

Sắc mạng căn (jīvitindriya)

Sắc trái tim, hay tâm cơ, hay sắc ý căn (hadaya-rūpa)

Hai loại sắc tánh (bhāva-rūpa):

1. Sắc tánh nam

2. Sắc tánh nữ.

Mười loại sắc không thực gồm:

1. Sắc hư không (Ākāsa dhātu)

2. Thân biểu tri (kāyaviññatti)

3. Khẩu biểu tri (vacīviññatti)

4. Sắc khinh (lahutā)

5. Sắc nhu (mudutā)

6. Sắc thích ứng (kammaññatā)

7. Sắc sinh (upacaya)

8. Sắc tiến (Santati)

9. Sắc dị (jaratā)

10. Sắc diệt (aniccatā)

Quý vị phải phân biệt tất cả các loại sắc này.

Nếu chỉ quán sắc pháp là Vô thường, Khổ và Vô ngã thì chưa đủ để cho quý vị chứng ngộ Niết-bàn. Mà quý vị còn phải quán thêm danh pháp là Vô thường, Khổ và Vô ngã nữa. Khi trực nhận danh, định bậc thiền là pháp tốt nhất để quý vị phân biệt trước tiên vì quý vị đã thành thạo trong việc phân biệt các thiền chi. Rồi thì quý vị phải trực nhận danh cõi dục giới (kammavācāra nāma) theo tâm lộ trình và tâm ngoài lộ trình. Vì thế chú giải có giải thích như sau: Lúc ấy, hành giả nhận biết danh pháp trong tập hợp các tâm hành bắt đầu từ xúc, như xúc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong số năm tâm hành này, thọ là một uẩn, thọ uẩn. Tất cả có năm uẩn, trong số năm uẩn này, chú giải chỉ đề cập xúc và tư như là hành uẩn bởi vì chúng là các yếu tố nổi trội của hành uẩn. Khi hai yếu tố nổi trội này được đề cập, các tâm hành còn lại cũng đã được bao hàm đi theo cùng lúc. Nó giống như chuyến kinh lí của nhà vua. Khi đức vua đi đâu, đoàn tùy tùng của vua theo vua đến đấy.

Sau khi trực nhận danh và sắc, hành giả khảo sát các nhân của chúng. Vị ấy thấy rằng các nhân chính của năm thủ uẩn là vô minh (avijjā), tham ái (taṇhā), thủ (upādāna), hành (saṅkhāra) và nghiệp (kamma). Chúng được làm cho sinh khởi bởi vị ấy trong đời trước. Chúng tạo ra thức tái sanh cùng với bốn thủ uẩn kia trong đời sống hiện tại. Vị ấy nên gắng thấy quan hệ Nhân Quả giữa các nhân và các quả. Đây là lý Duyên Khởi. Lúc ấy, hành giả sẽ kết luận rằng danh pháp và sắc pháp chỉ là các pháp hữu vi và là pháp sinh khởi do duyên và ngoài những bản chất này ra, chúng không phải là một chúng sanh đang sống mà cũng chẳng phải là một con người. Lúc ấy hành giả vượt qua nghi ngờ về bản chất của sắc pháp và danh pháp và các nhân của chúng.

Khi đã vượt nghi, hành giả quán sát ba tướng: Vô thường, Khổ và Vô ngã của danh và sắc và các nhân của chúng, và dần dần đạt đến A-la-hán. Loại hành giả này được gọi là assāsapassāsakammika, tức là hành giả bắt đầu Vipassanā bằng quán sắc pháp dựa vào tứ thiền Ānāpāna.

Hành Giả Jhānakammika

Tôi muốn giải thích về hành giả jhānakammika. Sau khi đạt được bậc thiền của Niệm hơi thở, hành giả phân biệt danh pháp trước khi phân biệt sắc pháp. Vì khi thực hành thiền chỉ, hành giả vốn dễ dàng phân biệt được các thiền chi, khi bắt đầu thực hành Vipassanā, vị ấy phân biệt các thiền chi trước tiên. Kế đó vị ấy các tâm hành khởi sinh cùng với các thiền chi. Các tâm hành ấy cùng với các thiền chi được gọi là các thiền pháp. Sau khi phân biệt chúng, hành giả phải khảo sát như vầy: Nương vào đâu mà các thiền pháp này sinh khởi? Và rồi hành giả thấy rằng nương vào sắc ý căn (heart-base). Theo giải thích của tạng Kinh, sắc ý căn là tác sanh thân, tức là thân được sinh ra (produced body, karaja kāya), bao gồm bốn loại sắc: sắc do nghiệp sanh, sắc do tâm sanh, sắc do thời tiết sanh và sắc do vật thực sanh. Sau đó, hành giả cũng cần phân biệt danh pháp của cõi dục giới và tất cả các sắc pháp khác.

Các thiền pháp và danh pháp cõi dục giới là danh pháp và tác sanh thân là sắc pháp. Sau khi đã phân biệt chúng, hành giả phải khảo sát các nhân của chúng. Vị ấy thấy được các nhân bằng sự thấu suốt được vòng duyên khởi bắt đầu từ vô minh. Lúc ấy, hành giả sẽ kết luận rằng danh pháp và sắc pháp chỉ là các pháp hữu vi và là pháp sinh khởi do duyên và ngoài những bản chất này ra, chúng không phải là một chúng sanh đang sống mà cũng chẳng phải là một con người. Nhờ vậy hành giả vượt qua nghi ngờ.

Khi đã vượt nghi, hành giả quán sát ba tướng: Vô thường, Khổ và Vô ngã của danh, sắc và các nhân của chúng, và dần dần đạt đến A-la-hán. Loại hành giả này được gọi là jhānakammika, tức là hành giả bắt đầu Vipassanā bằng quán danh pháp dựa vào tứ thiền Ānāpāna.

Nếu quý vị hiểu được phần giải thích này, quý vị sẽ hiểu những lời dạy sau đây của Đức Phật. Trong Kinh Đại Niệm Xứ, Đức Phật dạy thiền Vipassanā dựa vào phương pháp Niệm hơi thở, Ānāpānasati như sau:

“Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân.”

Đây là giai đoạn bắt đầu của thiền Vipassanā cho một hành giả đã thực hành thiền Niệm hơi thở Ānāpāna đạt đến tứ thiền. Gì là “thân”, kāya? Theo Bộ Vô Ngại Giải Đạo, Paṭisambhidāmagga, có ba loại thân:

1. Thân hơi thở vào và hơi thở ra (assasāpassāsa kāya)

2. Tác sanh thân, tức thân được sinh ra, (karaja kāya)

3. Thân của danh pháp (nāma kāya)

Tôi đã giải thích về chúng phần trước. Tôi hy vọng quý vị giờ đã hiểu.

Làm Thế Nào Để Phân Biệt Danh

Tôi đã giải thích làm thế nào để phân biệt sắc một cách tóm tắt. Giờ đây tôi muốn giải thích làm thế nào để phân biệt danh. Nếu quý vị muốn phân biệt, ví dụ như các pháp sơ thiền Ānāpāna, quý vị nên trước tiên nhập sơ thiền Ānāpāna. Sau khi xuất khỏi sơ thiền, quý vị nên phân biệt Bhavaṅga, tức là ý căn. Khi nimitta xuất hiện trong ý căn, quý vị nên phân biệt năm thiền chi. Khi thực hành thiền Định, quý vị đã có thể phân biệt chúng, nên điều này không khó với quý vị. Điều duy nhất khác nhau ở đây là quý vị nên phân biệt năm thiền chi xuất hiện (hay xảy ra) liên tục nhiều lần. Nếu có thể trực nhận chúng rõ ràng, quý vị có thể bắt đầu phân biệt, chẳng hạn như, tâm. Có ba cách để có thể bắt đầu phân biệt danh:

1. Bắt đầu bằng xúc

2. Bắt đầu bằng thọ

3. Bắt đầu bằng thức (hay còn gọi là tâm)

Nếu bắt đầu bằng tâm, có đặc tính là nhận biết đối tượng, quý vị nên trực nhận tâm xuất hiện liên tục nhiều lần. Nếu thấy mình không thể phân biệt được, quý vị nên lặp lại quy trình vừa mới đề cập trên: nhập sơ thiền, rồi xuất khỏi sơ thiền và phân biệt ý căn. Khi nimitta xuất hiện nơi ý căn, quý vị nên phân biệt tâmxuất hiện liên tục nhiều lần. Nếu có thể phân biệt được tâm rồi, quý vị nên tăng thêm số danh pháp mà quý vị trực nhận, mỗi lần thêm một tâm hành, lần đầu là tâm, lần sau thêm một xúc nữa thành hai (tâm, xúc), lần sau thêm một tâm hành nữa thành ba, thêm một tâm hành nữa thành bốn,. .. cho đến hết ba mươi bốn tâm hành của sơ thiền.

Ba mươi bốn tâm hành của sơ thiền là gì? Chúng là: tâm (hay thức), xúc, thọ (lạc), tưởng, tư, nhất tâm, mạng căn, tác ý, tầm, tứ, thắng giải, tấn, hỷ, dục, tín, niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân, xã trung tánh, tịnh thân, tịnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, tuệ quyền.

Trong số ba loại thân mà tôi đề cập mới đây, thân của hơi thở vào và hơi thở ra và tác sanh thân là thân của sắc, hay còn gọi là sắc thân (rūpa kāya). Vậy nên chúng ta có thể nói, chỉ có hai loại thân, sắc thân (rūpa kāya) và danh thân (nāma kāya). Tại sao chúng được gọi là thân? Lý do là chúng không thể khởi sinh một mình mà phải khởi sinh như là một nhóm. Xin hãy lưu ý rằng ở đây thân (kāya) có nghĩa là thân của sắc pháp chân đế và thân của danh pháp chân đế.

Quán Thân Trên Ngoại Thân

Quý vị cần quán các thân trên các ngoại thân này. Tuy nhiên, quán chỉ có nội thân, không đủ để chứng ngộ Niết-bàn. Quý vị còn phải quán cả ngoại thân nữa. Tại sao? Quý vị có tham ái, ngã mạn và tà kiến không chỉ với nội thân chính mình mà còn với cả nhiều thân bên ngoài. Để loại bỏ được tham ái, ngã mạn và tà kiến về các ngoại thân đó, quý vị cần quán thân trên các ngoại thân. Quý vị có thể có kiêu mạn dựa vào thành tựu của con trai, chồng hay vợ của quý vị. Để loại bỏ kiêu mạn này, quý vị cần quán các thân của họ là Vô thường. Để loại bỏ tham ái, dính mắc vào ngoại thân, quý vị cần quán chúng là Khổ. Quý vị có thể nghĩ: “đây là con trai của tôi, đây là con gái của tôi, đây là vợ tôi, hay đây là chồng tôi”. Để loại bỏ các tà kiến này, quý vị nên quán các thân của họ là Vô ngã. Nếu quán thế giới bên ngoài bằng Minh Sát Tuệ, quý vị sẽ chỉ thấy toàn là danh-sắc chân đế. Danh và sắc chân đế là Vô thường vì ngay khi vừa mới sanh lên, chúng diệt đi; là Khổ vì chúng luôn luôn bị đàn áp bởi các hiện tượng sanh và diệt, là Vô ngã vì không có tự ngã thường hằng hay một chất liệu ổn địnhmà quý vị có thể gọi: “đây là con trai của tôi, đây là con gái tôi, đây là chồng của tôi, đây là vợ của tôi, v.v..” Nếu quán theo cách này, việc quán này sẽ làm giảm sự dính mắc, ngã mạn và tà kiến của quý vị. Vì thế Đức Phật dạy:

“Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân.”

Tại sao Đức Phật dạy như vậy? Đối với người mới bắt đầu, để quán thân trên nội thân trong một thời ngồi là không đủ. Quý vị phải thực tập nhiều ngày, thậm chí nhiều tháng. Và rồi, quý vị còn phải quán thân trên ngoại thân nữa. Đối với người mới bắt đầu, phần thực hành này mất vài ngày. Sau đó, trong một thời ngồi, quý vị nên quán thân trên thân, nội thân lẫn ngoại thân, lặp đi lặp lại. Quán chỉ một lần không đủ. Quán đi quán lại là cần thiết. Chỉ khi quý vị quán đi quán lại, quý vị mới có thể đè nén tham ái, ngã mạn, tà kiến và những phiền não.

Bốn Giai Đoạn Phân Tích Danh-Sắc

Theo sự phân loại các Minh Sát Trí, đây chỉ là Danh Sắc Phân Định Trí (Nāma rūpa pariccheda ñāṇa). Nó chỉ là giai đoạn bắt đầu của Kiến thanh tịnh và là nền tảng của Vipassanā. Trí này chia làm bốn giai đoạn:

1. Sắc Phân Biệt Trí lúc phân biệt sắc riêng (rūpa-pariggaha-ñāṇa),

2. Danh Phân Biệt Trí lúc phân biệt danh riêng (arūpa-pariggaha-ñāṇa),

3. Danh-Sắc Phân Biệt Trí lúc phân biệt danh-sắc cùng nhau (rūpārūpa-pariggaha-ñāṇa),

4. Danh-Sắc Phân Định Trí lúc phân biệt danh-sắc cùng nhau (nāma rūpa vavaṭṭhāna ñāṇa hoặc nāma rūpa pariccheda ñāṇa) và thấy rằng không có ngã tồn tại, không người, không có hữu tình trong đó, mà chỉ có danh và sắc.

Vì vậy, ở giai đoạn này, quý vị nên thực hành bốn bước sau:

1. Phân biệt sắc bên trong và sắc bên ngoài.

2. Phân biệt danh bên trong và danh bên ngoài.

3. Phân biệt danh-sắc bên trong và danh-sắc bên ngoài.

4. Phân định danh-sắc bên trong và bên ngoài.

Đây là giai đoạn đầu của thiền Vipassanā được đề cập trong kinh Đại Niệm Xứ.

“Vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân”

Trong giai đoạn này, ba Tuệ Minh Sát hay Minh Sát Trí được kết hợp cùng nhau:

1. Duyên Xác Định Trí (Paccaya pariggaha ñāṇa), vốn phân biệt nhân và quả

2. Khảo Sát Trí (sammasana ñāṇa), vốn tuệ tri ba đặc tướng của các hành

3. Sanh Diệt Trí (udayabbaya ñāṇa), vốn tuệ tri sự sinh diệt của các hành, như là Vô thường, Khổ và Vô ngã.

Có Hai Loại Sanh Và Diệt

Có hai loại sanh và diệt của các hành (udayabbaya ñāṇa):

1. Sanh và diệt của các hành do nhân duyên (paccayato udayabbaya).

2. Sanh và diệt của các hành trong từng sát-na (khaṇato udayabbaya).

Sanh và diệt do nhân duyên được chia làm hai loại: sanh do duyên sanh và diệt do duyên diệt. Bởi sự sinh khởi của nhân mà năm uẩn sinh lên, đây là sự sanh do duyên sanh. Do bởi sự diệt tận không còn dư sót của nhân mà ngũ uẩn tận diệt không còn dư sót. Đây là sự diệt do duyên diệt.

Ngũ thủ uẩn cũng chính là danh-sắc. Hai mươi tám loại sắc hình thành sắc uẩn. Thọ là thọ uẩn. Tưởng là tưởng uẩn. Tất cả các tâm sở còn lại là hành uẩn. Sáu loại thức hình thành thức uẩn. Thọ, Tưởng, Hành, Thức là danh. Vậy ngũ uẩn thủ cũng chính là danh-sắc. Quý vị nên phân biệt sự sanh do duyên sanh của danh-sắc hay ngũ thủ uẩn như thế nào? Đây là giai đoạn thứ hai của thiền Vipassanā được Đức Phật dạy trong kinh Đại Niệm Xứ. Quý vị không nên bỏ qua giai đoạn trong phần thực hành của mình. Xin hãy một lần nữa lắng nghe những gì ở giai đoạn đầu: Quý vị phải phân biệt sắc bên trong lẫn bên ngoài. Quý vị phải phân biệt danh bên trong lẫn bên ngoài. Quý vị phải phân biệt danh-sắc cùng nhau bên trong lẫn bên ngoài. Quý vị phải phân định danh-sắc cả bên trong lẫn bên ngoài. Chỉ sau giai đoạn này, quý vị mới tiến đến giai đoạn thứ hai

Sự Sanh Do Duyên Sanh Của Danh Và Sắc.

Quý vị nên trực nhận sự sanh do duyên sanh của danh-sắc như thế nào? Sau khi phân biệt danh-sắc bên trong và bên ngoài, quý vị nên trực nhận danh-sắc quá khứ gần nhất, như lúc liền ngay trước khi quý vị bắt đầu thời thiền tọa. Trước khi bắt đầu ngồi thiền, xin hãy cúng dường Đức Phật ngọn đèn cầy, hay nước hay hoa gì đấy và nguyện trở thành Tỷ-khưu trong tương lai. Sau khi ngồi xuống, xin hãy chú ý các tiến trình tâm khởi lên lúc nãy khi cúng dường cho Đức Phật và nguyện ước được làm Tỷ-kheo. Đây chính là các danh pháp. Chúng là nghiệp luân (kamma-vaṭṭa) và phiền não luân (kilesa-vaṭṭa). Chúng khởi sinh tùy thuộc vào các căn tương ứng của chúng, chính là các sắc pháp. Quý vị phải phân biệt danh và sắc quá khứ gần nhất như thể quý vị đang phân biệt danh-sắc bên ngoài. Sau khi phân biệt danh-sắc quá khứ gần nhất, quý vị nên từ từ phân biệt ngược dần lui quá khứ, cho đến sát-na tâm tái sanh (patisandhi), tức là sát-na đầu tiên của đời sống hiện tại.

Nếu có thể phân biệt danh-sắc vào lúc tái sanh, quý vị nên phân biệt ngược dần về danh-sắc trong đời trước. Nếu trực nhận theo cách này, quý vị có thể sẽ trực nhận được danh-sắc của tâm tái sanh (patisandhi) của đời trước. Lúc ấy, một trong ba ấn tướng thường xuất hiện trong ý căn của quý vị. Ba ấn tướng đó là: nghiệp (kamma), nghiệp tướng (kamma nimitta), và thú tướng (gati nimitta) là cảnh giới nơi quý vị sẽ tái sanh.

Tôi sẽ cố gắng giải thích điều này bằng một trường hợp. Một hành giả phân biệt danh-sắc của cận tử tâm trong đời trước. Vị ấy thấy nghiệp tướng đó là một người nam đang cúng dường ngọn đèn cầy đến một tượng Phật. Sau khi thấy nghiệp tướng ấy, hành giả này tiếp tục phân biệt danh-sắc của hình ảnh người nam đang cúng dường đèn cầy ấy. Hành giả này phân biệt bằng cách nào? Vị ấy phân biệt tứ đại trong hình ảnh người nam ấy một cách có hệ thống. Vị ấy thấy các tổng hợp sắc và tiếp tục phân tích các tổng hợp sắc đó để thấy sắc chân đế. Kế đó, vị ấy chủ yếu phân biệt năm mươi bốn loại sắc nơi trái tim và chú ý đến sắc ý căn (heart-base), bởi vì mọi tâm của ý căn sinh khởi dựa vào sắc ý căn. Khi làm như vậy, hành giả ấy thấy được ý căn, Bhavaṅga, một cách rõ ràng. Nhiều đối tượng khác nhau xuất hiện nơi ý căn (Bhavaṅga). Hành giả ấy trực nhận ý căn lui tới và lặp đi, lặp lại. Tại sao? Vì giữa các tâm hữu phần (cũng được gọi là Bhavaṅga), thường có các tiến trình tâm xảy ra. Khi hành giả trực nhận các Bhavaṅga ấy, vị ấy có thể dễ dàng phân biệt các tiến trình tâm ấy. Vị ấy thấy rằng khi người nam kia cúng dường ngọn đèn cầy đến tượng Phật, người ấy nguyện trở thành một vị Tỷ-khưu pháp hành trong đời sau. Cái tâm đang cúng dường sinh khởi theo chuỗi các lộ trình tâm qua ý căn. Mỗi lộ trình tâm này bao gồm một ý môn hướng tâm (manodvārāvajjana) và bảy tốc hành tâm (javana). Trong ý môn hướng tâm có mười hai tâm hành. Chúng là: tâm, xúc, thọ, tưởng, tư, nhất tâm, mạng căn, tác ý, tầm, tứ, thắng giải và tấn. Trong mỗi tốc hành tâm này có một tâm và ba mươi ba tâm sở. Chúng là: tâm, xúc, thọ, tưởng, tư, nhất tâm, mạng căn, tác ý, tầm, tứ, thắng giải, tấn, hỷ, dục, tín, niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân, xã trung tánh, tịnh thân, tịnh tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm, tuệ quyền. Ba mươi tư tâm hành này được gọi là hành (saṅkhāra). Trong số một tâm và ba mươi ba tâm sở này, tư là nổi trội nhất. Tư là nghiệp. Ngay khi vừa khởi sanh, các tâm hành ấy liền mất ngay bởi chúng là Vô thường. Nhưng chúng để lại nghiệp lực trong tiến trình danh-sắc của người ấy. Trong phần Nghiệp Duyên (Kammapaccaya) của Duyên Hệ (Paṭṭhana), Nghiệp lực được gọi là Nghiệp.

Tiếp theo hành giả ấy trực nhận cái tâm chú nguyện muốn trở thành Tỷ-kheo pháp hành của người nam ấy. Nó cũng khởi sinh thành một lộ trình tâm ý môn. Mỗi lộ trình tâm ý môn cũng gồm một ý môn hướng tâm và bảy tốc hành tâm. Ý căn hướng tâm cũng bao gồm mười hai tâm hành như đã nêu trên. Trong tốc hành tâm, có hai mươi tâm hành. Chúng là: tâm, xúc, thọ, tưởng, tư, nhất tâm, mạng căn, tác ý, tầm, tứ, thắng giải, tấn, hỷ, dục, si, vô tàm, vô quý, trạo cử, tham và tà kiến. Trong số hai mươi tâm hành này, vô minh, tham, thủ là nổi trội. Vô minh là gì? Theo giáo lý của Đức Phật, thân tâm của chúng ta chỉ là sắc chân đế và danh chân đế. Nếu chúng ta biết rõ chúng là danh và sắc, cái thấy này là đúng. Đấy là Tuệ Giác, là Chánh Kiến. Nhưng nếu thấy chúng như là đàn ông, đàn bà, vị Tỷ-khưu, hay Tỷ-khưu-ni, cái thấy này là sai. Điều này được gọi là vô minh hay sự si mê.

Do bởi vô minh, người ấy nguyện trở thành Tỷ-khưu pháp hành, đây là tham ái. Vị ấy chấp thủ hay dính mắc vào đời sống của vị Tỷ-khưu pháp hành ấy. Đây là thủ. Vô minh, tham ái và thủ được gọi là phiền não luân, tức là những phiền não mà sinh ra vòng luân hồi.

Tổng cộng, có năm nhân quá khứ: vô minh, tham ái, thủ, hành và nghiệp.

Tiếp đến hành giả ấy trực nhận năm uẩn của tâm tái sinh trong đời hiện tại của mình. Vào lúc ấy, có ba mươi loại sắc. Chúng sanh lên như ba loại tổng hợp sắc, đó là thân-thập-sắc, tánh-thập-sắc và đoàn-tâm (hay tổng hợp mười sắc thuộc trái tim). Trong mỗi loại tổng hợp sắc, có mười loại sắc.

Rồi hành giả ấy trực nhận lui tới giữa ba mươi loại sắc này và năm nhân quá khứ, vô minh, tham ái, thủ, hành và nghiệp. Vị ấy chú tâm vào nghiệp lực để kiểm tra xem nó có tạo ra ba mươi sắc kia hay không? Vị ấy kiểm tra đi kiểm tra lại và có thể thấy được đúng nó tạo ra. Đây là trường hợp của một hành giả.

Nếu thực hành theo cách này, quý vị có thể dễ dàng hiểu nghiệp lực tích lũy trong đời trước của quý vị đã tạo ra sắc uẩn ở sát-na tâm tái sanh. Như thế nào? Lúc này quý vị nên đã hiểu rõ làm cách nào mà các tâm sinh khởi nương nơi sắc ý căn sản sinh ra các sắc do tâm sanh, và nên đã hiểu rõ quan hệ nhân quả của chúng. Theo cách tương tự, có mối quan hệ nhân quả giữa nghiệp lực và sắc do nghiệp sanh. Nếu thấy được mối quan hệ này, quý vị nên trực nhận rằng do có sự sinh khởi của vô minh, tham ái, thủ, hành và nghiệp mà sắc đã khởi sinh ở sát-na tâm tái sanh hay kiết sanh thức.

Kế đến, quý vị cũng nên phân biệt mối quan hệ nhân quả giữa nghiệp lực trong đời trước và danh của đời hiện tại của mình ở sát-na tâm tái sinh. Tiếp đến quý vị nên trực nhận mối quan hệ nhân quả giữa nghiệp lực và các uẩn kết quả trong suốt đời sống hiện tại của mình. Đặc biệt quý vị nên chú tâm đến các lộ trình tâm qua sáu căn của mình. Quý vị nên trực nhận rằng do có sự khởi sinh của vô minh, tham ái, thủ, hành và nghiệp lực mà sắc uẩn sinh khởi. Vô minh, tham ái, thủ, hành, nghiệp lực là các nhân và sắc uẩn là quả. Đây là phần phân biệt sự sinh khởi các hành theo duyên. Tuệ giác trực nhận điều này được gọi là Duyên Xác Định Trí (paccaya pariggaha ñāṇa).

Quán Tánh Diệt

Sau khi đã dạy phần phân biệt sự sinh khởi các hành do duyên, Đức Phật dạy:

“Hay vị ấy sống (an trú) quán tánh diệt trên thân”.

Điều này có nghĩa là quý vị cũng nên trực nhận rằng do bởi sự diệt của năm nhân không còn dư sót mà năm uẩn diệt tận không còn dư sót. Đây là tuệ quán thấy được sự diệt tận của nhân và quả (paccayato vaya dassana ñāṇa).

Khi nào thì các nhân nổi trội, vô minh, tham ái, thủ, và nghiệp sẽ tận diệt hoàn toàn không còn dư sót? Theo lời dạy của Đức Phật, các phiền não (hay còn gọi là lậu hoặc, hoặc gọi là kiết sử) sẽ tận diệt không còn dư sót khi quý vị chứng đắc A-la-hán. Bởi sự diệt tận hoàn toàn không còn dư sót của các phiền não mà nghiệp không thể cho quả nào sau đại Niết-bàn. Khi A-la-hán Đạo Tuệ tiêu diệt hoàn toàn năm nhân này không còn dư sót. Do nhờ sự diệt tận năm nhân không còn dư sót này mà sau khi tịch diệt Niết-bàn các ngũ uẩn chấm dứt hoàn toàn không còn dư sót. Quý vị phải cố gắng thấy sự tận diệt này. Bởi vì trong kinh Đại Niệm Xứ, Đức Phật có dạy rằng: “vị ấy an trú quán tánh diệt trên thân”. Quý vị không nên quên rằng “thân” ở đây có nghĩa là thân của sắc và thân của danh.

Giờ đây quý vị chưa đạt đạo quả A-la-hán. Khi nào quý vị sẽ đạt? Liệu nó là ngay trong đời sống này hay vào một đời sống nào đó trong tương lai? Nếu quý vị nỗ lực thực hành và có đủ ba-la-mật, quý vị có thể đạt được Đạo – Quả A-la-hán ngay trong đời này. Cho dù vậy, nó cũng được gọi là tương lai từ cái nhìn sự sinh và diệt trong từng sát-na, bởi vì hiện tại quý vị đang còn phàm nhân. Nếu quý vị đạt được Đạo – Quả A-la-hán trong một đời sống tương lai, thời gian từ đây đến đó cũng được gọi là tương lai của quý vị. Khi đạt đến Quả – Vị A-la-hán, tất cả các nhân sẽ tận diệt không còn dư sót. Quý vị nên cố gắng thấy sự diệt này. Và lại nữa khi quý vị nhập đại Niết-bàn, năm uẩn của quý vị sẽ tận diệt không còn dư sót. Quý vị cũng nên thấy sự tận diệt này. Khi quý vị thấy được hai loại tận diệt này, quý vị nên quán tưởng rằng do sự tận diệt của năm nhân không còn dư sót, năm uẩn cũng tận diệt không còn dư sót. Loại Tuệ quán này được gọi là Trí thấy biết sự diệt của các nhân và các quả.

Vì thế nếu hành giả muốn hiểu rõ mối quan hệ nhân duyên giữa nhân và quả bằng tuệ minh sát của hành giả, hành giả phải phân biệt danh-sắc quá khứ, hiện tại, và vị lai. Quý vị nghĩ rằng trong bài kinh Đại Niệm Xứ, Đức Phật chỉ dạy chúng ta về hiện tại phải không? Nếu hiểu những lời dạy này, chúng ta sẽ không nghĩ như vậy. Danh-sắc quá khứ, hiện tại và vị lai đều cần được phân biệt bằng tuệ minh sát. Chúng là các đối tượng của tuệ minh sát. Nếu không phân biệt danh sắc quá khứ, hiện tại và vị lai, hành giả không thể thấu hiểu được lý duyên khởi bằng tuệ minh sát của mình. Nếu không thấu hiểu lý duyên khởi, hành giả không thể thoát khỏi vòng luân hồi này. Hành giả không thể phân biệt được tánh sanh và diệt của nhân và quả. Hành giả không thể quán sát cả các nhân và các quả như là Vô thường, Khổ và Vô ngã. Nếu không thể quán sát như thế, hành giả không thể thoát khỏi vòng tử sanh luân hồi bởi vì Đức Phật có đề cập như vậy trong bài Kinh Mahānidāna.

Quán Cả Tánh Sanh Và Tánh Diệt

Tiếp đến, Đức Phật có dạy: “Hay vị ấy sống quán cả tánh sanh và tánh diệt trên thân.” Điều này có nghĩa là quý vị phải quán sự sanh và sự diệt qua hình thức mối quan hệ nhân quả (hay còn gọi là hình thức duyên hệ) và qua hình thức hiện hữu theo từng sát-na. Quý vị nên phân biệt như thế nào? Chẳng hạn như, do sự sinh khởi của năm nhân, mà năm uẩn khởi sinh; do sự diệt tận năm nhân không còn dư sót, mà năm uẩn tận diệt hoàn toàn không còn dư sót. Đây là Trí Quán Tánh Sanh và Diệt Do Duyên. Ngay khi vừa sanh lên, các nhân đã diệt ngay, vì thế mà chúng là Vô thường. Ngay khi vừa sanh lên, các quả đã diệt ngay, vì thế mà chúng cũng là Vô thường. Biết được điều này chính là Trí Quán Tánh Sanh Và Diệt Theo Từng Sát-Na. Vào giai đoạn này, quý vị phải phân biệt cả các hiện tượng sanh và diệt do duyên và sự sanh và diệt theo từng sát-na một cách chi tiết.

Trước khi thấy được sự sanh và diệt rõ ràng từ sát-na này qua sát-na kế, nếu quán sát cả nhân và quả như là Vô thường, Khổ và Vô ngã, tuệ minh sát ấy được gọi Khảo Sát Trí (sammasanañāṇa). Khi quý vị thấy được sự sanh và diệt trong từng sát-na tâm một cách rõ ràng, tuệ minh sát ấy được gọi là Sanh Diệt Trí (Udayabbaya ñāṇa).

Sự Sanh Và Diệt Do Duyên Với Thiền Niệm Hơi Thở

Bây giờ tôi muốn đưa phần giải thích của chú giải về sự sanh và diệt này. Vì đây là phần về Niệm Hơi thở nên chú giải còn giải thích sự sanh và diệt do duyên chỉ cho phần Niệm hơi thở.

“Vị ấy sống quán các hiện tượng sanh trên thân”. Giống như không khí đi vào và đi ra dựa bệ và ống thổi lò đốt của người thợ rèn, và với nỗ lực thích hợp, cũng vậy, dựa vào thân được sinh ra đây (hay tác sanh thân), ống mũi và tâm của hành giả, thân hơi thở vào và ra chuyển động tới lui. Tác sanh thân, v.v.. này là nguồn gốc. Khi một hành giả khi quán như thế an trú vào việc quán các hiện tượng sanh trên thân.

Quý vị có thể không hiểu ý nghĩa, tôi đoán vậy. Tôi muốn giải thích thêm chút. Khi quý vị trực nhận tứ đại trong hơi thở của mình, sẽ thấy nhiều tổng hợp sắc. Nếu phân tích tiếp chúng, quý vị sẽ thấy có chín yếu tố sắc chân đế (hay còn gọi là sắc cùng tột). Do đâu chúng sinh khởi? Nếu quý vị bỏ thân mình đi, liệu các hơi thở có tự sinh lên được chăng? Nếu không có thân của quý vị, hơi thở của quý vị không thể tự sinh khởi. Nếu phân tích thân mình, quý vị sẽ thấy có bốn loại sắc: sắc do nghiệp sanh, sắc do tâm sanh, sắc do vật thực sanh và sắc do thời tiết sanh. Bốn loại sắc này được gọi là thân được sanh (hay tác sanh thân). Nếu không có tác sanh thân, thân hơi thở của quý vị không thể khởi sinh. Vì thế nó là một nhân để hơi thở sinh lên. Nếu không có tâm, hơi thở cũng không thể khởi sinh. Vì thế tâm là một nhân nữa. Tác sanh thân giống như bệ của lò đốt, ống mũi giống như ống thổi của lò; và tâm giống như nỗ lực thích hợp. Tác sanh thân, tâm và ống mũi là các nhân cho thân hơi thở vào và ra sinh khởi. Quý vị cũng nên trực nhận tánh sanh. Trong số các nhân này, tâm là quan trọng nhất. Nhưng tâm khởi sinh nương vào tác sanh thân. Nên tất nhiên tác sanh thân là một nhân nữa. Đây là quan hệ nhân quả với hơi thở vào, hơi thở ra.

Tuy nhiên trực nhận quan hệ nhân quả của hơi thở bằng cách này cũng chưa đủ. Quý vị cần phải trực nhận các nhân của năm uẩn, ấy là vô minh, tham ái, thủ, hành và nghiệp lực. Năm nhân này sản sinh ra năm thủ uẩn đời hiện tại. Theo cách tương tự năm nhân quá khứ trong đời quá khứ thứ nhì sản sinh ra năm thủ uẩn đời quá khứ thứ nhất. Năm nhân đời này sẽ sản sinh ra năm thủ uẩn trong đời sau. Quý vị nên trực nhận các nhân và các quả theo cách như thế này, quá khứ, hiện tại và tương lai.

Tiếp, chú giải có giải thích tánh diệt do duyên với hơi thở vào và hơi thở ra. “Hay vị ấy sống quán tánh diệt trong thân”. Dù cách gì đi nữa, không khí cũng không thể thổi vào được khi bệ lò thổi bị lấy đi, ống thổi bị hư bỏ và nỗ lực thích hợp không có mặt. Tương tự, khi tác sanh thân chấm dứt, ống mũi bị hư hoại, và tâm đã dừng hoạt động hẳn, hơi thở kết thúc. Do vầy, nhờ sự chấm dứt của tác sanh thân, ống mũi và tâm, mà có sự chấm dứt của việc thở.

Tiếp đến quý vị nên trực nhận rằng bởi có sự tận diệt không còn dư sót của năm nhân mà năm uẩn thủ cũng diệt tận hoàn toàn không còn dư sót trong tương lai. Nếu một người quán sát như vậy, chúng ta có thể nói rằng vị ấy sống quán tánh diệt hay quán sự diệt do duyên của thân. Quý vị cũng nên quán sát cả hai tánh sanh và tánh diệt trong thân. Rồi Đức Phật còn tiếp tục dạy giai đoạn thứ ba của thiền Vipassanā.

Giai Đoạn Thứ Ba Của Thiền Vipassanā

Chánh niệm về:”Chỉ có thân đây” được thiết lập trong vị ấy đến mức độ chỉ cần thiết dành cho chánh trí và chánh niệm xa hơn.

Niệm được thiết lập với hành giả nhờ sự suy xét thận trọng. Vị ấy nghĩ rằng: Chỉ có thân đây, ấy là, chỉ có danh-sắc, mà không có hữu tình, không có người, không có đàn bà, không có đàn ông, không có tự ngã, không có gì gắn liền với một tự ngã, không có “Tôi”, không có gì là của tôi, không có ai cả, và không có gì là thuộc về bất kỳ ai.”

Nó có nghĩa là gì? Đoạn kinh này liên hệ đến các tuệ minh sát cao hơn, từ Hoại diệt Trí cho đến Xả hành Trí. Nếu một hành giả quán sự sanh và tánh diệt của các hành như tôi đề cập phần trước, khi tuệ minh sát bén nhạy, vị ấy nên chỉ chú ý đến sự diệt. Dần dần hành giả không còn ghi nhận được giai đoạn sanh lên nữa, mà chỉ còn sự diệt đi. Lúc ấy, vị ấy sẽ không còn thấy các tổng hợp, mà chỉ còn là danh-sắc chân đế. Các pháp này luôn diệt đi. Lúc ấy vị ấy sẽ thấy không có hữu tình, không có người, không có đàn bà, không có đàn ông, không có tự ngã, không Tôi, không có gì là của Tôi, không ai và không có gì thuộc về một ai cả, là bởi vị ấy chỉ thấy toàn là sự diệt đi của danh-sắc chân đế. Vị ấy lúc này cũng không còn thấy danh-sắc dưới dạng các kalāpa.

Chánh niệm về: “Chỉ có thân đây” được thiết lập trong vị ấy đến mức độ chỉ cần thiết dành cho chánh trí và chánh niệm xa hơn.

Đoạn “đến mức độ chỉ cần thiết” ám chỉ mục đích. Điều này được nói đến: chánh niệm được thiết lập không phải vì mục đích nào khác. Gì là mục đích mà vì nó, chánh niệm được thiết lập? “Dành cho chánh trí và chánh niệm xa hơn” có nghĩa là nó chỉ để có được phương tiện chánh trí và chánh niệm ngày càng rộng hơn hay sâu hơn. Để gia tăng chánh niệm và trí tuệ thấu suốt là ý nghĩa.

Nếu một hành giả chỉ thấy sự diệt và quán cả danh và sắc cũng như minh sát tuệ này là Vô thường, Khổ và Vô ngã, từ từ minh sát tuệ của vị ấy sẽ trưởng thành. Kết quả là sự quân bình ngũ căn của vị ấy cũng trở nên chín mùi, lúc ấy vị ấy sẽ chứng đắc Đạo Quả Tuệ, vốn lấy Niết-bàn làm đối tượng. Nếu chứng ngộ Niết-bàn theo từng giai đoạn, cuối cùng vị ấy sẽ chứng đắc quả vị A-la-hán. Liên hệ Quả vị A-la-hán, Đức Phật giải thích như sau:

“Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước vật gì ở trên đời.”

“Và vị ấy sống không nương tựa” có nghĩa là vị ấy an trú tự do thoát khỏi sự nương tựa vào tham ái và tà kiến.

“Không chấp trước vật gì ở trên đời”: liên hệ về sắc, thọ, hành, hay thức, vị ấy không nghĩ: đây là tự ngã của tôi, hay đây thuộc về tự ngã của tôi. Tại sao? Vì các đạo tuệ của vị ấy đã tận diệt hoàn toàn cả tham ái và tà kiến.

Đây là vắn tắt lộ trình bắt đầu từ Niệm Hơi thở cho đến thành tựu đạo quả A-la-hán. Nếu thực hành theo cách này một cách hệ thống, và nếu có đủ ba-la-mật, quý vị có thể chứng ngộ Niết-bàn ngay trong kiếp sống này.

Để kết luận phần Niệm hơi thở Ānāpānasati, Đức Phật dạy:

“Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống quán thân trên thân”.

Bốn Thánh Đế

Trong phần niệm hơi thở, Chánh niệm vốn khảo sát việc thở là Sự thật về Khổ (hay Khổ đế). Các đối tượng của niệm, năm thủ uẩn cũng được gọi là Sự thật về Khổ. Năm nhân: vô minh, tham ái, thủ, hành và nghiệp là Sự thật về Nguyên nhân của Khổ (Khổ tập đế). Sự không xảy ra của cả hai là Sự Thật về Khổ Diệt (Khổ Diệt Đế). Đây muốn nói đến Niết-bàn, tức Thánh Đế về Khổ Diệt. Khi quý vị huân tập và làm cho sung mãn Sanh Diệt Trí, quý vị phân biệt rằng do bởi sự tận diệt năm nhân không còn dư sót mà năm uẩn sẽ diệt tận hoàn toàn không còn dư sót sau khi nhập đại Niết-bàn. Hai loại tận diệt này được gọi là Sự thật về Khổ diệt, nhưng chỉ là Khổ diệt Đế hiệp thế. Nếu quý vị chứng ngộ Niết-bàn bằng Đạo Trí và Quả Trí, quý vị biết rõ về Thánh đế về Khổ diệt. Quý vị nên phân định hai loại Sự thật về Khổ Diệt này.

Thánh Đạo, vốn hiểu rõ Khổ, từ bỏ nhân sanh Khổ và lấy Niết-bàn làm đối tượng, là Sự Thật về Con đường (Đạo Đế). Ở đây, quý vị nên phân định rõ giữa Hiệp thế Đạo Trí và Xuất Thế Đạo Trí. Hiệp thế Đạo Trí vốn thấy rõ năm uẩn là tuệ minh sát về Khổ đế. Hiệp thế Đạo Trí vốn thấy nguyên nhân của Khổ là tuệ minh sát về Khổ tập. Hiệp thế Đạo Trí vốn thấy được rằng do nhờ sự tận diệt không còn dư sót của năm nhân mà năm uẩn sẽ diệt tận hoàn toàn không còn dư sót sau khi đại Niết-bàn là tuệ minh sát về Khổ diệt. Hiệp thế Đạo vốn là các chi phần của các tuệ minh sát vừa mới được đề cập. Chánh kiến là tuệ minh sát, Chánh tư duy, Chánh Tinh Tấn, Chánh niệm, và Chánh Định là đồng hành cùng Chánh Kiến.Trước khi hành thiền, quý vị cũng đã thọ trì Giới luật bao gồm Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng. Vì thế có cả thẩy tám chi phần của Hiệp thế Đạo. Có lúc, hành giả cần phải quán tuệ minh sát này là Vô thường, Khổ và Vô ngã. Lúc ấy, vị ấy cũng hiểu rõ hiệp thế đạo. Vậy nên Chánh Kiến Hiệp thế biết rõ Bốn Thánh Đạo Hiệp Thế.

Thánh Đạo Siêu thế lấy Niết-bàn làm đối tượng khởi sinh cùng Đạo Trí và Quả Trí. Lúc ấy, Chánh Kiến siêu thế biết rõ Niết-bàn, Chánh Tư Duy hướng tâm đến Niết-bàn, Chánh Niệm an trú trên Niết-bàn, Chánh Tinh tấn là nỗ lực chứng ngộ Niết-bàn, Chánh Định là sự tập trung vào Niết-bàn và Chánh ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng đều cùng có mặt. Khi một hành giả chứng ngộ Niết-bàn, tại sao Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng đều có mặt? Thánh Đạo Tuệ triệt tiêu các phiền não vốn có thể sinh ra tà ngữ, tà nghiệp và tà mạng, vì thế mà Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng là tự động có mặt.

Do vậy mà sau khi nỗ lực theo con đường Bốn Thánh Đế, một hành giả đoạn tận khổ đau và đạt đến bờ kia (tức Niết-bàn). Đây là lối vào Con đường giải thoát cho hành giả cống hiến mình cho việc thực hành Niệm hơi thở Ānāpānasati. Con đường hình thành và hoàn chỉnh Vipassanā dựa vào những đề mục thiền Định khác nên được hiểu theo cách tương tự.

Chính vì vậy, để đoạn tận khổ đau, chúng ta phải chứng ngộ Bốn Thánh Đế. Để chứng ngộ Bốn Thánh Đế, chúng ta phải hình thành và hoàn chỉnh thiền Định và Vipassanā một cách hệ thống theo lời dạy của Đức Phật.

Cầu chúc tất cả quý vị chứng ngộ Bốn Thánh Đế và đoạn tận khổ đau càng sớm càng tốt!

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw

Trung Tâm Thiền Pa-Auk Tawya

Mawlamyine, tiểu bang Mon, Myanmar

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

III. PHÁP THÀNH TỰU VÀ PHI THÀNH TỰU

Để giải thích về vận hành của Nghiệp và Quả, chúng ta bắt đầu nói về bài kinh “Dây Trói buộc” Gaddula – Baddha như sau.

Ở đây, Đức Phật giải thích nguyên nhân vì sao chúng sanh không thể tìm được con đường thoát ra khỏi khổ đau. Bởi, ngũ thủ uẩn chính là cái chấp ngã, chấp ngã này lại tiếp tục tạo ra ngũ thủ uẩn cho đời sống mới. Thủ uẩn của đời sống mới chính là sự tái sanh khởi lên ngay tại giây phút lâm chung của người ấy bằng nghiệp của kiếp sống vừa chấm dứt, đã chín mùi, cứ như thế chúng sanh cứ trôi lăn mãi từ kiếp này sang kiếp khác không dứt.

Trong bài kinh thứ hai của Gaddula-Baddha Sutta, Đức Phật nói về tính chất đa dạng của Nghiệp và Quả đã tạo ra các loại tái sanh khác nhau trong các cõi. Chính sự đa dạng của nghiệp còn tạo ra quả tái sanh khác nhau trong các cõi. Với Trí Tuệ này mà bởi Đức Phật gọi là Tathāgata thứ hai, Như Lai lực, thứ hai. Vậy chúng ta hãy nghe Ngài giải thích như sau:

“Lại nữa, này Xá-lợi-phất, Như Lai như thật Tuệ tri Quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các hành Nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại (tri tam thế Nghiệp báo lực)

“Này, Xá-lợi-phất, Như Lai như thật Tuệ tri Quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các hành Nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại. Này, Xá-lợi-phất, Như Lai có đủ Như Lai lực. Chính nhờ thành tựu lực này Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng và Chuyển Pháp Luân.

Đức Phật thuyết giảng về Duyên sanh khởi (thanāso) và cái gốc (hetusa) của quả (vipāka). Cái gốc của quả chính là nghiệp hoàn thành. Nhân đây, chúng tôi nói về sự đa dạng của nghiệp và đa dạng của quả (vipāka) theo mười hai loại nghiệp. Bây giờ chúng ta thảo luận về duyên sanh khởi của nghiệp: dựa vào duyên khởi mà nghiệp sẽ trổ quả. Vậy điều đó có nghĩa gì?

Như chúng tôi đã nói, căn bản sự vận hành của nghiệp là, ví dụ như nghiệp bất thiện (do vô minh, ái và thủ) đã tạo ra quả khổ đau. Trong khi đó, nghiệp thiện (cũng do vô minh, ái và thủ) nhưng lại tạo ra quả an vui. Nhưng, không phải bất thiện nghiệp hay thiện nghiệp nào cũng cho ra quả trong mỗi trường hợp, nó tuỳ thuộc vào duyên sanh khởi. Duyên sanh khởi chính là sự trợ duyên cho nghiệp trổ quả. Do đó nghiệp trổ là do đủ duyên sanh. Nghiệp không thể trổ, nếu duyên không đủ chín muồi. Vì vậy Đức Phật đã nói rõ rằng, ta chính là chủ nhân nghiệp của ta, dù cho tốt xấu tạo ra tự mình. Sự trưởng thành của nghiệp tùy theo điều kiện nuôi dưỡng. Với một số điều kiện cần thiết nghiệp tốt và xấu sẽ được hoàn tất để cho nó trổ quả, đó là những điều kiện cần và đủ cho sự chín mùi của nghiệp.

Để giải thích về Như Lai Lực Thứ hai, trong kinh Tạng gọi là bốn Pháp Thành tựu (Sampatti) và bốn Pháp Phi thành tựu (Vipatti). Pháp thành tựu vô hiệu lực nghiệp đen (xấu) không cho nó sanh nhưng lại trợ duyên cho nghiệp thiện (trắng) trổ sanh. Ngược lại, Pháp phi thành tựu vô hiệu lực nghiệp thiện thì nó lại làm duyên cho nghiệp bất thiện trổ sanh.

Pháp Thành Tựu

Bốn Pháp thành tựu là (sampatti):

1. Nơi tái sanh thành tựu (Gati sampatti): tái sanh vào nơi chốn cõi người hoặc Chư Thiên.

2. Diện mạo tái sanh thành tựu (Upadhi sampatti): diện mạo đẹp đẽ, thân hình đẹp đẽ không có khuyết tật.

3. Thời điểm tái sanh thành tựu (kāla sampatti): tái sanh vào thời điểm tốt đất nước có nhà nước và người dân tốt.

4. Phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti): Đức Phật gọi là nỗ lực thành tựu về thiện nghiệp (kammanta sampatti) đối với thân, khẩu, ý. Chúng ta đã đề cập ở trên, không sát sanh (có lòng từ bi), không trộm cắp, không tà dâm, không uống rượu và các chất say, không nói dối, không nói hai lời, không nói vô lễ, không nói lời vô ích, không nói lời dèm pha, không nói lời đâm thọc, luôn có Chánh Kiến

Bốn Pháp thành tựu này có thể vô hiệu lực các nghiệp bất thiện, không cho nó trổ sanh đồng thời trợ duyên cho thiện nghiệp trổ sanh. Nói cách khác, nhờ duyên sanh khởi của các Pháp thành tựu, các thiện nghiệp trổ sanh, và ngăn cản không cho nghiệp xấu trổ sanh.

Pháp Phi Thành Tựu

Bốn Pháp phi thành tựu (vipatti) đó là:

1. Nơi tái sanh phi thành tựu (Gati vipatti): tái sanh cảnh khổ, địa ngục, bàng sanh, phi nhơn và ngạ quỷ.

2. Diện mạo tái sanh phi thành tựu (Upadhi vipatti): làm người xấu xí khuyết tật.

3. Thời điểm tái sanh phi thành tựu (kāla vipatti): sanh ra trong thời khó khăn, chính phủ không thuận, con người không tốt.

4. Phương tiện nỗ lực tái sanh phi thành tựu (payoga vipatti): nghĩa là mọi sự đều mang tính bất thiện. Vì thế Đức Phật gọi là phi thành tựu hay còn gọi là sai lầm do hành nghiệp (kammanta-san-dosa-yāpatti) tạo ra từ thân, khẩu, ý như là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, uống rượu và các chất say, nói dối, nói lời hai lưỡi, nói lời khó nghe, nói lời vô ích, chấp thủ tà kiến.

Bốn Pháp phi thành tựu có thể vô hiệu lực nghiệp thiện và ngăn không cho nó trổ quả mà lại trợ duyên cho nghiệp bất thiện trổ sanh. Nói cách khác, do duyên khởi của Pháp phi thành tựu, nghiệp bất thiện trổ sanh, nhưng nghiệp thiện lại bị ngăn cản không thể trổ quả được.

Vận Hành Của Pháp Thành Tựu Và Pháp Phi Thành Tựu

Bây giờ chúng ta sẽ giải thích về bốn Pháp thành tựu (sampatti) và bốn Pháp phi thành tựu (vipatti) theo từng loại một như sau: nơi tái sanh, diện mạo tái sanh, thời điểm tái sanh, phương tiện nỗ lực. Làm thế nào để các Pháp thành tựu có thể vô hiệu hóa nghiệp bất thiện ngăn không cho nó trổ quả, nhưng ngược lại bốn Pháp phi thành tựu sẽ trợ duyên cho nghiệp bất thiện trổ quả.

Pháp Thành Tựu Vô Hiệu Lực Nghiệp Bất Thiện.

1) Nơi tái sanh của Pháp thành tựu đã vô hiệu lực nghiệp bất thiện.

– Một số nghiệp bất thiện chưa chín mùi đã bị Pháp Nơi sanh thành tựu (Gati sampatti) chặn đứng không cho nó tăng trưởng.

– Khi một Bất thiện nghiệp có thể trở thành Sanh nghiệp thì sẽ đưa người ấy tái sanh về cõi địa ngục, súc sanh hay ngạ quỷ. Đây là Pháp về Nơi tái sanh phi thành tựu (gati-vipatti), do đó các Bất thiện nghiệp khác của người đó cũng trổ sanh theo. Nhưng, do bởi một (sát-na) Thiện nghiệp (lúc cận tử được bắt làm đối tượng), người ấy có thể được tái sanh vào nơi chốn tốt đẹp như cõi người và cõi trời: đó là Pháp Nơi tái sanh thành tựu (gati sampatti). Do duyên sanh khởi của Pháp thành tựu, các Bất thiện nghiệp sẽ bị ngăn cản không thể trổ quả được, mà thay vào đó Thiện nghiệp lại phát sanh.

Tambadāṭhika, Đao phủ thủ

Như đã nói ở trên, một ví dụ điển hình về đao phủ thủ Tambadāṭhika, trong suốt năm mươi lăm năm làm công việc chém đầu các tội phạm, đó là ác nghiệp. Khi chết, ông ta sẽ bị đọa vào cõi thấp như địa ngục, vì là Pháp Nơi chốn tái sanh phi thành tựu nên nó sẽ trợ duyên cho các Bất thiện nghiệp của ông ta cùng trổ sanh. Nhưng, thay vào đó, lúc chết, nhờ một nghiệp thiện chứng đắc Tuệ Hành Xả (Sankhārupekkhā-Ñāṇa) làm Sanh Nghiệp nên ông ta được tái sanh về cõi trời dục giới, đó là pháp về nơi tái sanh thành tựu. Do duyên sanh khởi của Pháp thành tựu này, nghiệp thiện được trợ duyên để trổ sanh và ngăn chặn không cho nghiệp bất thiện của ông ta trổ quả tái sanh vào địa ngục.

2) Thành tựu về Diện mạo tái sanh đã vô hiệu hoá nghiệp bất thiện.

Một số nghiệp bất thiện bị Pháp Diện mạo tái sanh thành tựu ngăn chặn không cho nó trưởng thành.

Một người có thể tái sanh với tay chân khuyết tật và hình dạng xấu xí, đó là Pháp về diện mạo tái sanh phi thành tựu (upadhi-vipatti). Do duyên của Pháp phi thành tựu nghiệp xấu của người ấy liền trổ quả. Nhưng, nhờ một sát-na nghiệp thiện vị ấy được tái sanh với diện mạo lành lặn, xinh đẹp, duyên dáng, rạng rỡ như Phạm Thiên. Đó là Pháp Diện mạo tái sanh thành tựu. Do duyên của Pháp thành tựu, nghiệp bất thiện không trổ thể quả và nhường chổ cho nghiệp thiện trổ sanh.

Chú giải giải thích rằng nếu người đó sanh ra làm nô lệ, thì với diện mạo tốt đẹp anh ta sẽ không bị làm các công việc quá thấp kém như giữ voi, chăn bò, nô dịch. Bởi nhờ anh ta có sắc diện sáng sủa nên người chủ nghĩ rằng, “Người như vậy thì không nên cho làm những công việc dơ bẩn. Hãy cho cậu ta ăn mặc đẹp để giữ kho hay làm công việc tương tự. Nếu là phụ nữ thì cho cô ta làm việc nhẹ nhàng, chứ không nên phân làm việc chuẩn bị thức ăn cho voi. Họ cho cô ấy ăn mặc đẹp và trang sức lịch sự, chu cấp giường đẹp và luôn cưng chiều cô ta”.

Chú giải có kể về trường hợp hoàng hậu Samā thời vua Bhātiya. Một lần nọ một số người bị bắt quả tang ăn cắp thịt bò và được giải đến cho nhà vua phân xử. Nhưng vì không có tiền nộp phạt, nên họ bị bắt làm việc lau chùi trong cung. Trong số đó có một cô gái vô cùng xinh đẹp và cuốn hút, nên nhà vua đã thâu nhận vào làm phi tần và rất sủng ái cô ta. Vì ảnh hưởng của nghiệp thiện, cô gái và người thân của mình đã được hưởng một cuộc đời vinh hoa phú quí.

3) Thời điểm tái sanh Thành tựu có thể vô hiệu lực Nghiệp bất thiện.

Pháp Thời điểm tái sanh thành tựu (kāla-sampatti) ngăn chặn không cho Nghiệp xấu trổ sanh

Ví dụ, con người có thể tái sanh vào thời kỳ khó khăn hay khủng hoảng của đất nước đó, và dân chúng không tốt. Do duyên khởi của Pháp phi thành tựu một số nghiệp bất thiện của người ấy sẽ cùng trổ sanh, nhưng, nhờ một sát-na nghiệp thiện, người ấy được tái sanh vào thời điểm thành tựu là nơi có chính phủ tốt đẹp, dân chúng tử tế. Như chúng ta nghe con người xuất hiện lúc bắt đầu đại kiếp trái đất. Khi đó có vị vua Chuyển Pháp luân hoặc Đức Phật ra đời. Đó là Pháp thời điểm tái sanh thành tựu. Nhờ duyên sanh khởi của Pháp thành tựu, Bất thiện nghiệp không thể trổ quả mà phải nhường chỗ cho nghiệp thiện trổ sanh.

Chúng ta hãy bàn về vấn đề được sanh ra trong thời kỳ tốt hay xấu của đất nước, dân chúng có tử tế hay không, và tìm hiểu xem tại sao một người khác lại có thể ảnh hưởng lớn đối với việc rèn luyện giới đức của mình nhất là: người bạn, người đồng hành, và đặc biệt là người thầy và người dẫn đầu.

Thiện hoặc Bất thiện bằng hữu

Vào một thời Đại Đức A-nan-đa đã quán chiếu làm thế nào một người có thể thành tựu đời sống của một Thánh nhân (brahma-cariya). Ngài cho rằng việc thành tựu một đời sống Phạm Hạnh của Thánh nhân, phân nửa là nhờ vào thiện bằng hữu và phân nửa là nhờ vào sự nỗ lực cá nhân.

Đại Đức đã đến gặp Đức Phật, Đức Phật đã điều chỉnh lại như sau, “Chớ có nói vậy, này Ānanda! Chớ có nói vậy, này Ānanda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ānanda, là thiện bằng hữu (kalyāna-mittatī), thiện đồng môn (kalyāna-sahāyata), và thiện đồng hành (kalyāna-sampavankatā).

Với Tỷ-kheo thiện bằng hữu (kalyāna-mittatī), thiện đồng môn (kalyāna-sahāyata), và thiện đồng hành (kalyāna-sampavankatā), này Ānanda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn.”

Đây là nguyên lý cơ bản về thiện bằng hữu. Là thiện bạn hữu, thiện đồng môn, thiện đồng hành thì biết giúp chúng ta thực hành Bát Chánh Đạo (Ariya Aṭṭhangika Magga), thực hành bố thí, Giới-Định-Tuệ, phát triển Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa) tốt hơn v.v… Do duyên khởi của thiện bạn hữu sẽ giúp chúng ta luôn thực hành những phước nghiệp sự, thành tựu viên mãn các nghiệp thiện.

Ngược lại, duyên khởi của ác bằng hữu sẽ làm cho chúng ta không thể thực hành những điều thiện. Với bạn xấu, chúng ta sẽ không thực hiện được những điều thiện và thúc đẩy hoàn tất nghiệp bất thiện. Nguyên lý này áp dụng cho những nhà cai trị quốc gia. Nếu người đó có đức hạnh của bậc Thánh thì sẽ điều hành đất nước thuận theo Pháp dựa trên Chánh kiến, sẽ là nhà cai trị tốt, chính phủ tốt. Được sanh ra trong thời điểm này được gọi là Thời điểm tái sanh thành tựu (kāla-sampatti).

Đức Vua Chuyển Pháp Luân

Một trường hợp đơn cử về Pháp Thời điểm tái sanh thành tựu là người sẽ được tái sanh vào lúc có chính phủ tốt và nhờ vậy ác nghiệp đã bị vô hiệu hoá không thể sanh khởi.

Có một thời, nhà cai trị một đất nước chính là đức vua Chuyển luân trong Kinh Đại Thiện Kiến Vương (Mahā Sudassana Sutta). Đức Phật đã miêu tả lại lúc Ngài đã từng làm vua Chuyển luân gọi là Đại Thiện Kiến Vương. Tuổi thọ của vị ấy là ba trăm ba mươi sáu ngàn năm. Vào thời vị ấy, Thiên luân báu đã xuất hiện, thấy vậy Vua Đại Thiện Kiến suy nghĩ, “Ta nghe như vầy, khi một vị vua có Thiên luân báu hiện ra, thời vị ấy là Chuyển luân vương, như vậy ta có thể là vị Chuyển luân vương, thiết lập một nền tảng cai trị theo Pháp”. Vì sao lại có Thiên luân báu xuất hiện với một vị vua như thế. Đó là do nghiệp quá khứ và hiện tại của vị ấy. Đức Phật đã giải thích rằng Thiên luân báu hiện ra với vị Đại Thiện Kiến Vương bởi vì,

– Nghiệp thiện trong quá khứ và hiện tại của vị vua ấy là Bố thí

– Nghiệp thiện trong quá khứ và hiện tại của vị vua ấy giữ gìn năm Giới

– Nghiệp thiện trong quá khứ và hiện tại của vị vua ấy giữ gìn tám Giới trong ngày rằm và cuối tháng.

Cũng như vị ấy luôn trị vì đất nước theo Pháp.

Với Nghiệp thiện trong quá khứ Ngài còn được thêm phước báu có oai nghi đẹp đẽ, sống lâu, sức khoẻ và sự tận tuỵ phục vụ của tất cả những người cấp dưới hoặc những người đi theo Ngài. Vào phần tư cuối cùng của đời mình, Ngài đã thực hành thiền Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả). Vào khoảng cuối cuộc đời còn được tám mươi bốn ngàn năm, do thực hành các pháp ấy, Ngài đã được tái sanh vào cõi Phạm Thiên ngay khi thọ mạng chấm dứt trong cõi người.

Một Nhà Cai Trị Gương Mẫu

Về gương điển hình của một nhà trị vì đất nước tốt. Đức Phật đã giảng cho đức vua Ba-tư-nặc về cách thức để trở thành một thiện bằng hữu, thiện đồng hành và thiện đồng môn. Đức vua cần phải thực hành siêng năng và rốt ráo các Phước nghiệp sự (appamādo kusalesu dhammesu) như hành hạnh Bố Thí (Dāna), Trì Giới (Sīla) và Tham Thiền (Bhāvanā). Đức Phật giải thích rằng nếu một vị vua tốt biết hành theo các pháp nói trên sẽ là tấm gương tốt cho mọi người trong hoàng tộc noi theo, những người từ dòng dõi vua chúa, quân lính cho đến thần dân trong thành thị cho đến nông thôn. Họ rất hăng hái cổ vũ nhau thực hành các Phước nghiệp sự nói trên, Bố Thí (Dāna), Trì Giới (Sīla) và Tham Thiền (Bhāvanā).

Đức Phật cũng nhấn mạnh thêm rằng nếu tất cả mọi người đều siêng năng thực hành các pháp ấy thì từ nhà vua, các bà vợ của nhà vua cho đến những gì trên lãnh địa của mình đều được giữ gìn bảo vệ tốt đẹp.

Được sinh ra trong một thời kỳ có những nhà trị vì đạo đức như thế đều là do nghiệp thiện của Pháp thời điểm tái sanh thành tựu (kāla sampatti) của người đó. Bởi vì vào thời đó, con người được giáo dục tốt về các hành vi cư xử đạo đức như không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, và đặc biệt là được dạy tiết chế ăn uống. Và vì vậy người dân luôn sống và làm theo gương đạo đức của nhà trị vì. Khi nhà trị vì làm gì thì họ đều bắt chước làm theo từ sự bố thí, cúng dường, đến lối sống và hành xử đạo đức theo Giới luật của Pháp. Họ đều nhất nhất tuân theo một cách tự nguyện.Do duyên sanh của Pháp thời điểm tái sanh thành tựu, khiến cho phương tiện nỗ lực thực hiện cũng thành tựu (payoga sampatti) và do đó nghiệp bất thiện hoàn toàn không thể trổ sanh được.

Sự Suy Giảm Về Đời Sống Con Người

Trong Kinh Tiếng Rống sư tử, Chuyển luân. Đức Phật mô tả tại sao Pháp thời điểm tái sanh thành tựu có thể thay đổi và trở thành Pháp thời điểm phi thành tựu, bởi vì nhà vua đã không còn trị vì đất nước theo đúng Chánh Pháp nữa. Đức Phật giải thích thêm rằng, Vì những người kế thừa ngôi vị của vua Chuyển luân đã đi theo đường lối của vị ấy trong suốt nhiều thế hệ và giữ cho đất nước được phồn thịnh và ấm no hạnh phúc. Tuy nhiên sau bảy thế hệ nó đã thay đổi. Vị vua thứ bảy đã không còn tham vấn ý kiến việc triều chính với các nhà thông thái mà làm theo ý kiến cá nhân của mình. Và không còn quan tâm giúp đỡ những người cần giúp đỡ trong xã hội thời bấy giờ. Cái nghèo đã dần xuất hiện trong vương quốc đó. Kết quả là càng ngày càng nhiều điều tệ hại phát sanh như trộm cắp, sử dụng vũ khí, tranh giành bon chen trong cuộc sống, nói dối, nói lời thô tục, lời vô ích, lời nói với dụng ý xấu, hay ham muốn tà kiến, loạn luân vô độ, gian dâm hỗn xược, bất kính với cha mẹ, tu theo khổ hạnh, bà-la-môn tà đạo … và phân chia tông phái, nhóm, tộc trưởng v.v…

Tất cả những điều xấu này phát sanh từ vị vua không biết siêng năng thực hành các Phước Nghiệp sự và ông ta không phải là người bạn tốt của dân nữa. Vì vậy trong chú giải của Vi Diệu Pháp có đề cập nó như một thời điểm được sanh ra trong một thời kỳ chính phủ xấu, con người cáu kỉnh và yếu đuối về mọi mặt. Đó là thời điểm Pháp phi thành tựu (kāla-vipatti).

Việc suy sụp đời sống này vẫn tiếp tục với những điều xấu xuất hiện và tồn tại đã làm cho tuổi thọ con người sẽ giảm đi ngắn hơn và ngắn hơn. Con người ngày càng trở nên kém đẹp đẽ xinh tươi và chất lượng thực phẩm tốt ngày càng thở nên khó tìm hơn. Sự suy giảm đã diễn ra trong nhiều ngàn năm. Đức Phật giải thích rằng sự suy giảm này sẽ tiếp tục kéo dài cho đến khi Đạo Đức con người trở về KHÔNG và tuổi thọ con người chỉ còn lại mười tuổi. Vào thời điểm đó con người xem nhau như kẻ thù và chém giết lẫn nhau không biết chán. Nhưng chỉ còn một số ít muốn thoát khỏi sự man rợ của loài người lúc bấy giờ và ẩn sống nơi khác với rễ cây và trái cây. Dần dần nhận thấy rằng những điều xấu xa tệ hại dẫn đến do sự thiếu Đạo Đức, con người chợt quay về việc thực hành giữ gìn Giới đức trở lại. Vì thế dần dần tuổi thọ con người và vẻ đẹp trở lại tăng lên đến nhiều ngàn năm.

Theo cách này hành xứ tác động trên Đạo Đức, Giới Hạnh…, Pháp thời điểm phi thành tựu đã biến đổi nhường chỗ cho Pháp thời điểm thành tựu thay thế. Sau đó tuổi thọ con người lại suy giảm. Và khi tuổi thọ là tám mươi ngàn năm thì vị Chuyển luân vương lại xuất hiện và vị Phật cuối cùng của đại kiếp trái đất ra đời. Đó là Đức Phật Metteya (Phật Di Lặc). Một vị Phật luôn là Thiện Bằng hữu tối thắng.

Thiện Bằng hữu thù thắng

Đức Phật giải thích cho Ngài Ānanda rằng, “Cũng theo cách này có thể hiểu rằng, này Ānanda một đời sống Thánh nhân được gọi là thiện bằng hữu, thiện đồng môn, thiện đồng hành. Này Ānanda nó có nghĩa là Ta là một thiện bằng hữu, nó còn đồng nghĩa với sự giải thoát khỏi sanh, thoát khỏi lão, thoát khỏi tử, thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não, thất vọng. Bằng cách này, này Ānanda, đời sống Thánh nhân được hiểu như là thiện bằng hữu, thiện đồng môn, thiện đồng hành có thể tạo sự đồng lợi ích cho người khác giống như vậy nếu như họ cũng cùng tu theo con đường Thánh nhân đó”.

Khi có một vị Phật Giác Ngộ Tối Thượng ra đời sẽ có các đệ tử của vị ấy có thể thực hành Giáo Pháp của Ngài. Nếu họ có đủ Ba-la-mật thì có thể chứng đắc Đạo và Quả trong thời kỳ vị Phật đó. Và họ cũng có thể thoát khỏi sanh lão, bệnh, tử ngay trong kiếp sống đó. Ngay trong thời Đức Phật của chúng ta đây đã có rất nhiều vị đã được lợi lạc tối thượng, và số lượng Chư Thiên và Phạm Thiên chứng đắc thì không sao kể xiết. Vì vậy Đức Phật đã giải thích rằng, sự ra đời của một vị Phật sẽ tạo ra bao nhiều lợi ích lớn lao(bahujana hitāya) là đem đến hạnh phúc an lạc (bahujana sukhāya) cũng như lòng từ bi vô lượng cho các cõi (lokānukampāya), cho sự lợi lạc (atthāya), chúng sanh (hitāya), và an lạc (sukhāya) cõi trời và cõi người (deva-manussānaṃ.).

Không có vị Phật nào ra đời, không ai có thể giải thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử. Ngay cả những người có đủ Ba-la-mật đã hoàn thành các Nghiệp thiện để chứng đắc Tuệ Đạo và Quả, nhưng họ cũng không thể tự mình làm được mà họ cần phải được giáo huấn bởi bậc Giác Ngộ Tối Thượng là một vị Phật hoặc là vị đệ tử của một vị Phật được học và đầy đủ điều kiện, để chứng đắc đạo Quả.

Tôn Giả Kiều Trần Như.

Ngài vẫn còn trẻ khi Đức Phật Gotama vừa mới ra đời và Ngài là người đầu tiên chứng đắc Tuệ Đạo, Quả và nhập vào dòng Thánh trong thời kỳ Giáo Pháp (Buddha-Sāsana) của Đức Phật khi Đức Thế Tôn dạy cho Ngài bài Kinh Chuyển Pháp Luân (Cakka Pavattana). Tôn giả Kiều Trần Như đã thực hành khổ hạnh trong nhiều năm trước đó nhưng vẫn không thể nào chứng đắc được Tuệ đạo và Quả. Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi có sự giúp đỡ của một vị Phật.

Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-Kiền-Liên.

Lại nữa, ví dụ như Tôn giả Xá-lợi-phất và Ngài Mục-kiền-liên đã thực hành rất nhiều năm, nhưng vẫn không đạt được một Quả vị nào. Tôn giả Xá-lợi-phất lập tức chứng đắc và nhập vào dòng Thánh chỉ ngay khi Ngài Asaji (A-xà-chí) thuyết Pháp cho Ngài. Và Đại đức Mục-Kiền-Liên cũng liền chứng đắc ngay vào bậc Thánh khi được Ngài Xá-lợi-phất giảng lại bài Pháp đó cho Ngài Mục-kiền-liên nghe. Nguyên lý này đã được áp dụng cho tất cả những đệ tử của Đức Phật, nghĩa là họ không thể học Pháp, hành Pháp và đạt được Tuệ đạo và Quả nếu không có sự giúp đỡ của một thiện bằng hữu (kalyāna-mitta).

Vua A-xà-thế (Ajātasattu)

Lại nữa, ở đây ta nói trường hợp của vua A-xà-thế như một ví dụ điển hình. Khi ông ta liên kết với Đại Đức Đề-bà-đạt-đa (Devadatta). A-xà-thế đã phát triển tâm tham của mình đến cực độ, rồi đi đến giết hại vua cha của mình là vua Tần-bà-sa để chiếm đoạt ngôi vua. Và rồi Đức vua Tần-bà-sa (Bimbisāra) cũng đã trao vương quyền lại cho A-xà-thế làm vua. Nhưng rồi với ảnh hưởng nặng nề của Đề-bà-đạt-đa, vua A-xà-thế đã tống giam cha mình, tra tấn và giết hại cha mình. Cũng dưới sự ảnh hưởng của Đề-bà-đạt-đa vua A-xà-thế đã sai lính đi giết Đức Phật và sau đó là đến voi dữ hại Đức Phật. Với vua A-xà-thế, Đề-bà-đạt-đa không phải là thiện bạn hữu.

Tuy nhiên về sau, vua A-xà-thế đã làm được rất nhiều việc thiện dưới sự ảnh hưởng của Đức Phật. Làm thế nào được như vậy? Đó là nhờ sự hỗ trợ của Jīvaka Komārabhacca, là một quan ngự y cho hoàng cung, cho Đức Phật và Chư Tăng. Ông ta là một vị thánh Nhập Lưu (Sotāpanna). Vào một đêm nọ, theo lệnh của vua A-xà-thế, ông dẫn nhà vua đến khu vườn xoài (Amba-Vana) của ông. Tại đó, Đức Phật đang ngự cùng với đông đảo Chư Tăng Tỷ-khưu. Và, tại đây Đức Phật đã thuyết giảng cho vua A-xà-thế bài kinh Sa-môn Quả (Sāmañña-Phala) Sutta. Sau bài thuyết pháp đó, vua A-xà-thế đã có niềm tin Chánh tín nơi Đức Phật và xin được quy y với Đức Phật, với Pháp bảo và Tăng bảo. Nhà vua đã thực sự sám hối với Đức Phật về tội giết cha của mình. Từ đó vua A-xà-thế trở thành một đệ tử sùng tín (upāsaka) của Tam Bảo. Rồi, cũng chính từ đó Đại hội Kết tập Tam Tạng lần thứ nhất đã được triệu tập tại Thành Vương Xá (Rājagaha) –Vương quốc Ma-kiệt-đà dưới sự chỉ đạo của vua A-xà-thế. Từ đó về sau, Jīvaka Komārabhacca đã trở thành người bạn tốt của vua A-xà-thế và cũng nhờ qua vị này, vua A-xà-thế mới có dịp gặp được bậc thiện bạn hữu tối thắng, đó chính là Đức Phật của chúng ta.

Câu chuyện Người thiện tín Gavesī

Gavesī là một thiện tín thời Đức Phật Ca Diếp, ông còn là lãnh đạo của một nhóm năm trăm người bạn. Vì ông không theo ngũ giới, mà chỉ nương dựa Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo, nên năm người bạn của ông cũng chỉ nương dựa Tam Bảo mà thôi.

Một ngày nọ, Gavesī quyết định phải làm gì hơn hẳn những người bạn của mình nên ông tuyên bố sẽ thực hành ngũ giới. Việc làm này của ông đã khiến cho năm trăm người bạn của ông cũng bắt chước làm theo. Nhưng rồi ông lại quyết định sống một đời trong sạch cao thượng (Brahma-cārī), các bạn của ông cũng làm theo, rồi ông lại quyết định thực hành giới không ăn sái giờ (virataṃ-vikālabhojana). Họ cũng làm theo. Sau đó ông đã đến gặp Đức Phật Ca-diếp để xin được xuất gia Tỷ-kheo (upasampadā). Những người bạn của ông cũng đều làm theo. Cuối cùng với nỗ lực tinh tấn, ông cùng các bạn của ông sau cùng đều chứng đắc quả vị A-la-hán. Tất cả đều đã thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử.

Điều này cho chúng ta thấy rằng Gavesī là người bạn tốt (kalyāna-mitta) của năm trăm người bạn. Và sự thành tựu chứng đắc của các vị ấy chỉ có thể xảy ra khi có sự hiện diện của người thiện bạn hữu tối thắng là Đức Phật Ca-diếp: là nơi họ bắt đầu nương dựa Tam Bảo (tisarana).

Kết luận rằng, làm thế nào mà một người khác lại có thể tạo sự ảnh hưởng lớn đối với Đức Hạnh của chúng ta như thế: đó chính là người bạn hoặc người đồng hành của chúng ta, đặc biệt là vai trò của người thầy dạy và người trưởng nhóm / dẫn đầu của mình. Mọi lúc mọi nơi, Đức Phật giải thích rằng có những người bạn tốt như thế thì chúng ta mới có thể hoàn thành được các Nghiệp thiện của mình, và cũng chính nhờ các người bạn tốt này mà một số Nghiệp bất thiện đã bị vô hiệu hóa không cho nó sanh khởi.

Sau đây chúng tôi sẽ giải thích, làm thế nào Nghiệp bất thiện đã bị Pháp phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga-sampatti) vô hiệu lực.

4) Pháp phương tiện nỗ lực thành tựu đã vô hiệu hóa Nghiệp bất thiện

Có một số Nghiệp bất thiện chưa kịp trưởng thành đã bị phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga-sampatti) ngăn chặn không cho nó trổ sanh.

Một người đức hạnh kém trong kiếp hiện tại, anh ta hoặc cô ta có thể phạm tội sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời dèm pha, chửi rủa mắng nhiếc, lời vô ích, nói lời tà mạng, nói lời chia rẽ, chấp thủ tà kiến. Đó là mười loại Bất thiện Nghiệp đã được đề cập vài lần trước đây: cũng chính là Pháp Nỗ lực phi thành tựu (payoga vipatti). Với duyên sanh khởi của Pháp Nỗ lực phi thành tựu, một số nghiệp bất thiện trong quá khứ trổ quả. Nhưng, nhờ được làm bạn với các thiện bạn hữu như Đức Phật và các Đệ tử Ngài, người đó đã thay đổi tâm tính của mình có được Chánh tín vào Tam Bảo, tin tưởng vào Nghiệp và Quả, và ra sức tạo nghiệp thiện. Bằng cách này, hạnh của người đó trở nên tốt hơn. Và nhờ đó Pháp nỗ lực phi thành tựu cũng chuyển sang Pháp nỗ lực thành tựu (payoga sampatti).

Nhờ vào các Pháp thiện được làm bạn với các bậc thiện hữu, có niềm tin nơi Tam Bảo và thực hành Giới Hạnh tốt hơn, đã tác động rõ rệt tạo ra Pháp nỗ lực thành tựu, các nghiệp bất thiện không có dịp trổ quả và phải nhường chỗ cho nghiệp thiện phát sanh.

Người ấy có thể ngăn ngừa nghiệp sát sanh, để làm trong sạch Giới Đức. Và dựa vào sự thành tựu này mà vị hành giả ấy có thể tiến hành thành công thiền Định và thiền Minh Sát.

Ví dụ con của một gia đình tốt (kalaputta) đã tạo nhiều nghiệp thiện trong đời trước. Và, bây giờ muốn hoàn thành các nghiệp thiện của mình trong kiếp hiện tại này, bằng cách vị ấy giữ Giới trong sạch, và với Giới Hạnh trong sạch, vị ấy sẽ tịến hành thiền Định và thiền Minh Sát thành công với một vị thầy thiện xảo cho đến khi chứng đắc Tuệ Đạo Tu-Đà-Hoàn (Sotāpatti-Magga-Ñāna) và tiếp tục cho đến khi đắc Tuệ Đạo Bất lai (Anāgami-Magga-Ñāna).

Việc thực hành này được gọi là Phương tiện nỗ lực thành tựu và nó có thể vô hiệu hóa các nghiệp bất thiện mà đáng lý nó còn tạo ra Nơi tái Sanh Phi thành tựu (gati-vipatti). Nghĩa là việc thực hành này cũng đã vô hiệu quá nghiệp tái sanh vào bốn đường ác đạo. Nghiệp duy nhất có thể làm cho con người tái sanh chính là Nghiệp thiện: Phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti) tạo ra hạnh phúc, như là có được Nơi tái sanh tốt (gati-sampatti). Và khi chết lại được tái sanh vào cõi trời dục giới do nghiệp thiện tạo ra trong cõi dục giới hoặc tái sanh cõi Phạm thiên do nghiệp hành thiền Định chứng đắc vào các tầng thiền, giống như trường hợp của Pukkusāti.

Pukkusāti

Pukkusāti vô cùng thiện xảo trong thiền chứng. Đó là nhờ có yếu tố Phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti), với Chánh tinh tấn (Sammā vāyāma), Chánh niệm (Sammā-sati), và Chánh định (Sammā-samādhi). Khi nghe Đức Phật thuyết dạy cho ông bài kinh Phân tích các Đại (Dhātu Vibhanga) của Kinh Trung bộ (Majjhima-Nikāya), ông đã chứng đắc Tuệ Đạo và Quả Bất Lai: Tuệ Đạo Bất Lai chính là Pháp nỗ lực thành tựu bậc thượng.

Sau đó ông đi tìm y bát để xin được xuất gia Tỷ-kheo nơi Đức Phật. Nhưng ông lại bị con bò húc chết bởi do oan trái với một ngạ quỷ, nó chui dưới lốt con bò để giết hại ông. Ngay giây phút chết, nhờ Tuệ Đạo Bất lai của ông, lấy tứ thiền làm căn bản, Pukusāti đã được các nghiệp thiện này giúp ông tái sanh vào cõi Phạm thiên Avihā, là tầng thấp nhất của Phạm Thiên – Phước Sanh Thiên (suddhāvāsa). Thực vậy, Tuệ Đạo Bất lai (Anāgami-Magga-Ñāna) của ông đã vô hiệu hóa vô số nghiệp bất thiện mà đáng lý đẩy ông tái sanh vào cõi dục giới: nghĩa là chính nhờ Tuệ Đạo Bất Lai này mà ông sẽ không bị tái sanh vào bốn đường ác đạo, hoặc làm người hoặc làm trời mà giờ đây, mãi mãi không bao giờ ông bị rơi trở vào đó nữa. Đó là quả của Pháp Phương tiện nỗ lực thành tựu đã trổ (payoga-sampatti).

Tambadāṭhikā, đao phủ thủ

Câu chuyện kể về Tambadāṭhikā, người đao phủ (chúng ta đã đề cập phần đầu) là một ví dụ điển hình. Ông ta có năm mươi lăm năm tạo Thường Nghiệp là Nghiệp ác xử trảm tội phạm. Đó là Pháp phương tiện Nỗ lực phi thành tựu (payoga vipatti). Nếu Nghiệp này trổ lúc lâm chung thì chắc chắn ông ta sẽ đọa vào địa ngục.Nhưng vì, Đại Đức Xá-lợi-phất đi ngang qua nhà ông. Ông đã cung thỉnh Đại Đức vào nhà ông để cúng dường cơm nấu sữa và kính cẩn nghe Ngài thuyết Pháp, sau khi nghe Pháp, ông đã chứng đắc Tuệ Hành xã (Saṅkhārupekkhā-Ñāṇa). Những hành động này chính là Pháp phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti). Và nhờ chứng đắc Tuệ Hành Xã, mà các nghiệp bất thiện khác của ông đã bị vô hiệu hóa, và nó còn cho ra quả nơi tái sanh vào cõi trời dục giới, đó là Quả Nơi tái sanh tốt (gati-sampatti).

Đại Đức Aṅgulimāla

Một ví dụ khác về Đại Đức Aṅgulimāla, như đã nói ở trên. Ngài không chỉ thực hiện vô số nghiệp bất thiện trong các kiếp quá khứ của mình, mà trong kiếp cuối, là kẻ cướp ngài đã giết hại rất nhiều người. Nhưng rồi ngài đã xuất gia dưới thời Đức Phật, (trong kinh Người Hướng dẫn Tối Thắng – Bậc Vô Thượng sĩ – Điều Ngự Trượng Phu (Anuttaro Purisa- Dhamma-Sārathi). Dưới sự hướng dẫn của Đức Phật, ông là người giữ gìn Giới đức trong sạch của vị Tỷ-kheo: đó là Pháp phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti). Dựa vào Giới đức trong sạch, ông đã tiến hành thiền Định và thiền Tuệ: đó cũng là Pháp nỗ lực thành tựu. Và ông cũng đã hành trì nỗ lực và chứng đắc Tuệ Đạo A-la-hán (Arahatta-Magga-Ñāna), đó cũng là Pháp phương tiện Nỗ lực thành tựu tối thượng.

Phương Tiện Nỗ Lực Thành Tựu Tối Thượng

Tại sao Tuệ Đạo A-la-hán (Arahatta-Magga-Ñāna) là Pháp phương tiện Nỗ lực thành tựu (payoga sampatti) tối thượng? Là bởi vì, trong dòng thánh A-la-hán, các nghiệp bất thiện và thiện về trọng nghiệp, sân nghiệp, đoạn nghiệp trước đây, không có nghiệp thiện hay nghiệp bất thiện cho dù dưới hình thức nào đi nữa không có đủ năng lực để tạo ra nghiệp tái sanh, ra ngũ thủ uẩn của đời sống kế tiếp sau tâm tử của vị đó. Tuệ đạo A-la-hán đã hoàn toàn vô hiệu hóa tất cả nghiệp tạo ra sự tái sanh của đời sống kế tiếp: chẳng hạn như Nơi tái sanh xấu (gati vipatti), cũng như Nơi tái sanh tốt (gati sampatti). Với sự khởi sanh Tuệ Đạo A-la-hán, tất cả Nghiệp đều bị chìm trôi hết. Trong giai đoạn tận diệt của Vô Dư Niết-bàn (Parinibbāna) tất cả các Nghiệp dù dưới hình thức nào đi nữa cũng đều chìm trôi hết, tức là các nghiệp đó dù thiện hay bất thiện đều không còn đủ khả năng để tạo tác ra sự tái sanh đời sống kế tiếp nữa. Một vị A-la-hán sẽ không bao giờ tái sanh trong bất kỳ dạng thức nào, nghĩa là mãi mãi thoát khỏi mọi đau khổ. Đó chính là lí do tại sao Tuệ Đạo A-la-hán là phương tiện Nỗ lực thành tựu tối thượng.

Nếu Tuệ Đạo của vị đó là một trong ba bậc thấp hơn, thì nguyên lý vẫn được áp dụng đúng như vậy theo bậc tương ứng của nó. Mặc dù trong đời sống của các vị Thánh nhân (Ariya Puggala) vẫn có một số thiện nghiệp và bất thiện nghiệp như trọng nghiệp, sân nghiệp, đoạn nghiệp còn thực hiện chức năng của nó, không có bất thiện nghiệp nào thực hiện chức năng tái sanh ngũ thủ uẩn ngay sau tâm tử của vị ấy. Các Thánh Đạo Tuệ (Ariya-Magga-Ñāna) đều vô hiệu hóa tất cả các bất thiện nghiệp có thể tạo ra sự tái sanh nghĩa là nó đều bị chìm trôi hết. Với các vị Thánh nhân, không có sự tái sanh bất hạnh trong nơi xấu (gati-vipattti) như là không bao giờ bị tái sanh vào cõi ngạ quỷ, súc sanh, hoặc địa ngục. Đối với các bậc Thánh, chỉ còn phải tái sanh một vài kiếp trong cảnh giới tốt (gati-sampatti) nghĩa là chỉ có nghiệp thiện cho ra quả tái sanh như cõi người, cõi Chư thiên, và cõi Phạm thiên mà thôi. Và chắc chắn là các bậc Thánh trong ba Quả vị Thánh này sẽ thành tựu Quả vị A-la-hán trong vòng vài kiếp chót của mình nữa thôi.

Đại Đức Mục-kiền-liên (Mahāmoggallāna)

Một ví dụ điển hình về vị Đại Đức Mục-kiền-liên. Trong một kiếp quá khứ, vị ấy đã cố giết cha mẹ mình. Vào kiếp cuối cùng (là Đại Đức Mục-kiền-liên), nghiệp của ngài đã trổ quả, bọn cướp được thuê mướn đã băm thân ngài ra thành các mảnh nhỏ. Sau đó ngài đã nhập vào Vô dư Niết-bàn. Với Vô dư Niết-bàn, nghiệp giết cha mẹ của ngài và tất cả các nghiệp bất thiện khác của ngài trong vô lượng quá khứ và kể cả nghiệp thiện trong vô lượng quá khứ cũng chìm trôi hết: đó là nhờ Tuệ Đạo A-la-hán đã diệt trừ tất cả.

Phương tiện nỗ lực thành tựu chỉ cho Quả an lạc

Từ sự giải thích của chúng tôi, quí vị có thể hiểu là phương tiện nỗ lực thành tựu chỉ cho quả an lạc. Điều này đã được giải thích trong bài kinh Như Lai Lực Thứ nhất:

1) Này Tỷ-kheo, không thể nào, một hành động thiện của Thân lại cho Quả bất an, bất toại nguyện, phiền não: biết rằng không thể có như vậy được. Này Tỷ-kheo, chỉ có thể biết chắc rằng, Thân hành thiện luôn cho Quả an lạc, toại nguyện, hoan hỷ: là điều có thể biết chắc như vậy.

2) Này Tỷ-kheo, không thể nào, một hành động thiện của Khẩu lại tạo ra nghiệp bất an, bất toại nguyện, phiền não: không thể có như vậy được. Này Tỷ-kheo, chỉ có thể biết chắc rằng, Khẩu hành thiện luôn cho Quả an lạc, toại nguyện, hoan hỷ: là điều có thể biết chắc như vậy.

3) Này Tỷ-kheo, không thể nào, một hành động thiện của Tâm (ý) lại tạo ra nghiệp bất an, bất toại nguyện, phiền não: không thể có như vậy được. Này Tỷ-kheo, chỉ có thể biết chắc rằng, Tâm (ý) hành thiện luôn cho Quả an lạc, toại nguyện, hoan hỷ: là điều có thể biết chắc như vậy.

Chúng tôi đã kết luận phần giải thích là làm thế nào mà Nghiệp bất thiện lại bị vô hiệu hóa bởi do bốn thành tựu: Nơi tái sanh, Diện mạo tái sanh, Thời điểm, Phương tiện nỗ lực thực hiện.

Pháp Phi Thành Tựu Đã Trợ Duyên Cho Nghiệp Bất Thiện Trổ Sanh

Chúng ta hãy nói về các Nghiệp bất thiện đã trổ quả do bốn nghịch duyên của Pháp Phi thành tựu

1) Nơi Tái Sanh Phi Thành Tựu Trợ Duyên Cho Nghiệp Xấu Trổ Sanh

Các Nghiệp bất thiện chưa sanh được Pháp Nơi tái sanh phi thành tựu – sanh thú (gati vipatti) trợ duyên cho nó trổ sanh

Khi Thiện nghiệp có thể trở thành Sanh nghiệp thì người ấy sẽ tái sanh ở nơi tốt đẹp như: cõi người, cõi trời. Đó là Nơi tái sanh thành tựu (gati sampatti). Nhờ Nơi tái sanh thành tựu mà bất thiện nghiệp bị ngăn chặn không kịp trổ quả. Nhưng bất chợt chỉ một Bất thiện nghiệp khởi sanh, anh ta hay cô ta có thể bị tái sanh trong khổ cảnh như: địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ…..Đó là Nơi tái sanh phi thành tựu (gati vipatti). Do duyên sanh của phi thành tựu này, các nghiệp bất thiện có dịp trổ sanh hết cái này tới cái khác.

Có thời sẽ tái sanh vào địa ngục, thời khác thì vào cõi súc sanh, lúc thì cõi quỷ, lúc thì cõi A-tu-la. Một thời gian dài, nghiệp bất thiện đã không cho phép người đó ngẩng đầu ra khỏi nơi sanh thấp kém. Một ví dụ cho ta thấy Đại Đức Losaka Tissa. Bởi do tham lam quá độ, ông đã đổ bỏ thức ăn của vị A-la-hán, tội này cộng với nghiệp hối hận trong nhiều năm, đã khiến ông tái sanh rất lâu trong địa ngục, nhiều lần làm A-tu-la, và nhiều kiếp làm chó.

2) Diện Mạo Tái Sanh Phi Thành Tựu Trợ Duyên Cho Nghiệp Bất Thiện Trổ Sanh

Có nhiều Nghiệp bất thiện chưa kịp sanh đã được Diện mạo tái sanh phi thành tựu (upadhi vipatti) trợ duyên cho nó trổ sanh.

Người có thể sanh ra tay chân lành lặn và đẹp đẽ, duyên dáng, mặt mày sáng rỡ như Phạm Thiên: đó là nhờ Diện mạo tái sanh thành tựu (upadhi – sampatti). Nhờ Pháp thành tựu này mà nghiệp bất thiện không thể trổ quả được. Nhưng một sát-na Bất thiện Chướng nghiệp nhảy vào, thì lập tức anh ta hay cô ta liền bị tái sanh tay chân xấu xí, và ngoại hình khó coi, xấu xí: đó là Diện mạo tái sanh phi thành tựu (upadhi-vipatti). Vì duyên sanh khởi của Diện mạo tái sanh phi thành tựu mà các Nghiệp thiện đã bị ngăn chặn không thể trổ sanh.

Chú giải có nói rằng nếu như người được tái sanh làm nô lệ, thì anh ta cũng bị làm những công việc dơ dáy như vệ sinh hốt rác. Bởi do xấu xí, người chủ nghĩ rằng: “loại người này mới thích hợp với mấy công việc dơ dáy như vậy”. Nếu là phụ nữ thì bị giao cho việc lo thức ăn cho đàn voi…Và ngay cả phụ nữ sanh ra trong gia đình có thân thế, thì người thâu thuế của nhà vua lại nghĩ lầm rằng đây là một gia nô, nên đến bắt cô ta đem đi. Chú giải có kể ví dụ về thời Srilanka xưa, nơi chuyện này xảy ra với ông chủ đất rất lớn có người vợ rất xấu xí.

3) Thời Điểm Tái Sanh Phi Thành Tựu Trợ Duyên Cho Nghiệp Bất Thiện Trổ Sanh

Khi Nghiệp bất thiện chưa kịp sanh thì thời điểm phi thành tựu (kāla vipatti) xuất hiện sẽ trợ duyên cho nó trổ sanh:

Một người nào đó có thể sanh ra trong thời điểm đất nước có chính phủ tốt, con người tốt, ví dụ như thời kỳ mà con người bắt đầu xuất hiện vào đầu đại kiếp trái đất, lúc bấy giờ có vị Chuyển Luân vương hoặc Đức Phật ra đời, nên thời ấy được gọi là Thời điểm thành tựu (kāla sampatti), và do đó các nghiệp xấu của người đó không thể trổ quả được. Nhưng, chỉ vì một Chướng nghiệp nhảy vào người đó bị tái sanh vào Thời điểm phi thành tựu là chính phủ không tốt, dân tộc không tốt, xấu xa….. lại nữa, cô ta hay anh ta còn có thể bị tái sanh vào thời điểm tuổi thọ con người chỉ còn mười tuổi, và lúc mà sản phẩm sữa không còn tồn tại trên thế gian này nữa và các loại hạt giống kudrūsaka là loại thực phẩm tốt nhất vào thời bấy giờ. Cho dù được sanh ra làm người trong cõi người, nhưng lúc bấy giờ con người chẳng khác chi loài cầm thú. Thời kỳ đó được gọi là Thời điểm phi thành tựu (kāla vipatti). Vì duyên sanh khởi của Pháp phi thành tựu này mà các nghiệp bất thiện được trợ duyên đua nhau trổ quả.

4) Phương tiện nỗ lực phi thành tựu đã thúc đẩy Nghiệp xấu trổ sanh

Khi nghiệp xấu chưa kịp sanh thì được Phương tiện nỗ lực phi thành tựu trợ duyên cho nó trổ sanh:

Khi phẩm chất con người có thể tốt đẹp. Anh ta hay cô ta biết giữ gìn giới đức trong sạch, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm….thì mười điều của nghiệp thiện mà chúng tôi đã đề cập ở trên là Phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti). Nhờ Phương tiện nỗ lực thành tựu mà các Bất thiện nghiệp không có cơ hội trổ sanh. Nhưng, nếu anh ta hay cô ta thực hiện những hành vi như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, ….theo mười điều của bất thiện nghiệp thì Phương tiện nỗ lực phi thành tựu (payoga vipatti) này sẽ trợ duyên cho bất thiện nghiệp trổ quả. Chú giải có nói rằng đó là loại người bị bắt tội giải lên cho nhà vua trừng trị, bị đánh đập, hành hạ và sau cùng là xử trảm.

Trường hợp của Đại Đức Đề-bà-đạt-đa là một điển hình mà chúng tôi đã đề cập trước.

Người được vua sủng ái

Kết luận của chú giải cho ta thấy có bốn loại thànhh tựu: Nơi tái sanh, diện mạo tái sanh, thời điểm và phương tiện nỗ lực. Nếu là Pháp thành tựu thì sẽ ngăn chặn không cho các nghiệp bất thiện trổ sanh, nhưng ngược lại các Pháp phi thành tựu sẽ trợ duyên cho các pháp bất thiện trổ sanh.

Để giải thích điều này chú giải có kể câu chuyện về một người đàn ông. Là người biết cách làm đẹp lòng vua, ông ta được vua ban thưởng chức tước với một vùng đất để cai quản. Với chức tước trong tay, ông ta dần dần làm những điều tệ hại nhũng nhiễu người dân trong vùng. Dựa vào thế lực của mình ông ta tiến hành chiếm đoạt tài sản, xe cộ, thú nuôi, gia nô, đất đai và đồng ruộng của người dân trong vùng. Nhưng vì được nhà vua yêu mến, nên không ai dám làm gì ông ta cả.

Rồi, một ngày nọ, ông đã phạm tội với một vị đại thần của triều đình. Vị này lại là người được nhà vua vô cùng quý mến, vị này ra lệnh bắt trói và đánh đập ông. Và rồi vị đại thần này tâu lên với nhà vua việc cậy quyền ức hiếp dân lành của ông ta. Lập tức ông quan này bị xiềng lại và bị giam vào nhà lao. Đồng thời nhà vua ra lệnh đánh trống toàn thành và hỏi rằng: “Có ai bị cướp đoạt tài sản gì không?”. Thế là hàng ngàn tiếng kêu khóc vang lên rằng: ‘Tài sản này của tôi đã bị cướp đi!’ ‘Tài sản kia của tôi đã bị cướp đi!’. Nhà vua vô cùng phẫn nộ và ra lệnh hành hạ ông ta vô cùng dã man rồi sai chém đầu, quăng thây ngoài bãi tha ma và chỉ mang cái xiềng xích về báo cáo mà thôi.

Ở đây, đầu tiên rõ ràng là người đàn ông đã dùng mọi cách để lấy lòng nhà vua, và để đổi lại ông ta được ban thưởng chức tước và quyền lợi một vùng đất để cai quản: điều này cũng giống như một người có nghiệp thiện và được tái sanh lên thiên đàng, không ai dám than phiền gì về Đức Hạnh kém cõi của ông ta cả vì ông ấy là người đang được nhà vua yêu mến: điều này cũng giống như nghiệp bất thiện không thể trổ sanh bởi vì kẻ phàm nhân đó đang ở trên thiên đàng. Và nếu người đó lại phạm tội với một người mà được vua yêu thích nhiều hơn, rồi bị thất sủng, bị xiềng xích hành hạ, tù tội, rồi dân chúng lại đồng kêu than: ‘Tài sản này của tôi đã bị cướp đi!’ ‘Tài sản kia của tôi đã bị cướp đi!’.Tất cả những duyên đó hợp lại giống như một người bị rơi từ trên thiên đàng xuống địa ngục và cùng một lúc các bất thiện nghiệp khác của ông ta cũng đua nhau trổ. Sau khi bị xử tử, thây của ông ta bị quăng vào bãi tha ma và họ chỉ mang sợi dây xiềng xích của ông ta về mà thôi. Điều đó có nghĩa là người ấy phải chịu đau khổ qua một đại kiếp trái đất trong địa ngục và không bao giờ ngẩng đầu ra khỏi địa ngục, và mỗi khi một nghiệp bất thiện này suy yếu thì lập tức có nghiệp bất thiện khác tới thay thế.

Chú giải có nói rằng không chỉ là một mà hai hoặc hàng trăm, hàng ngàn con người đã hoàn thành nghiệp bất thiện và có thể đang tiếp tục trả nghiệp trọn một đại kiếp trái đất trong địa ngục. Và chắc chắn số lượng người đang ở địa ngục đông không sao kể xiết. Vậy nếu ai duyên với bốn Pháp phi thành tựu thì sẽ gặp biết bao hiểm nguy đang chờ đón phía trước khi quả bất thiện trổ sanh.

Pháp Phi Thành Tựu Đã Làm Vô Hiệu Lực Thiện Nghiệp

Chúng ta hãy nói về bốn loại Pháp phi thành tựu đã làm vô hiệu lực nghiệp thiện.

1) Nơi chốn tái sanh phi thành tựu vô hiệu hóa thiện nghiệp

Khi nghiệp thiện chưa trưởng thành thì bị Pháp Nơi tái sanh phi thành tựu (gati vipatti) ngăn chặn không cho nó sanh khởi.

Khi Nghiệp thiện của một người nào đó có thể tạo ra quả tái sanh vào nơi chốn thích hợp: cõi người, hoặc cõi trời. Đó là nơi chốn tái sanh thành tựu (gati sampatti). Do nghiệp lực của thành tựu này đã trợ duyên cho nghiệp thiện của người đó trổ quả tốt. Nhưng chỉ cần một bất thiện nghiệp, anh ta hay chị ta bị tái sanh vào cõi xấu xa như địa ngục, súc sanh và A-tu-la. Là nơi chốn của Nơi tái sanh phi thành tựu (gativipatti). Vì duyên này của Pháp phi thành tựu mà các nghiệp thiện bị ngăn trở không thể trổ quả.

Vua A-xà-thế (Ajātasattu)

Một ví dụ của vua A-xà-thế về minh và hạnh (vijjā- caraṇa). Ông là con trai của vua Tần-bà-sa (Bimbisāra), là người đã nhập vào dòng Thánh và là một đại thí chủ của Phật Bảo và Tăng Bảo vào thời đó. Để soán đoạt ngôi, vua A-xà-thế đã nhẫn tâm giết hại cha mình. Rồi một đêm nọ, vua A-xà-thế đã đuợc diện kiến Đức Thế Tôn và được Đức Phật thuyết giảng bài kinh Sāmañña Phala (Sa-môn Quả). Sau khi nghe Đức Phật thuyết Pháp, đáng lý với Ba-la-mật (paramī) tròn đủ có thể nhập vào dòng Thánh giống như cha mình. Nhưng chỉ vì ác nghiệp giết cha quá nặng, là Pháp phương tiện nỗ lực phi thành tựu (payoga vipatti) mạnh mẽ nên dù vua A-xà-thế đã tạo nghiệp thiện khi nghe Đức Phật giảng Pháp nhưng quả thiện không thể trổ được nên ông đã không thể chứng đắc Đạo và Quả và vẫn còn là người phàm phu (puthujjana) thường tình. Vào lúc lâm chung, tất cả các nghiệp thiện ông ta làm đã không thể trổ quả vì ác nghiệp giết cha đã vận hành thành nghiệp tái sanh để cho quả tái sanh vào địa ngục. Một khi ông ta tái sanh vào địa ngục (là Pháp Nơi tái sanh phi thành tựu (gati vipatti)), tất cả các nghiệp thiện tiếp tục (và vẫn còn tiếp tục) bị ngăn chặn không cho sanh khởi.

2) Diện mạo tái sanh phi thành tựu đã vô hiệu hóa các Nghiệp thiện

Có Nghiệp thiện chưa kịp trổ sanh thì đã bị diện mạo tái sanh phi thành tựu (upadhi vipatti) ngăn chặn.

Từ ảnh hưởng của Diện mạo tái sanh thành tựu anh ta hay cô ta có vẻ đẹp thu hút, tay chân lành lặn, vẻ mặt sáng rực như Phạm Thiên vậy. Đó là Diện mạo tái sanh thành tựu (upadhi sampatti). Do duyên của diện mạo tái sanh thành tựu, một số thiện nghiệp đã trổ sanh theo. Nhưng chỉ vì một sân nghiệp, anh ta hay cô ta có thể chuyển tái sanh thành nghiệp xấu với tay chân có tật, gương mặt khó coi, xấu xí…đó chính là Diện mạo tái sanh phi thành tựu (upadhi vipatti). Duyên với Diện mạo tái sanh phi thành tựu (upadhi vipatti), các nghiệp thiện bị vô hiệu hóa không thể trổ sanh.

Ví dụ, nếu như, được sanh ra trong một gia đình hoàng tộc, anh ta không được phong làm vua bởi họ sẽ nghĩ rằng “Đất nước này sẽ đi về đâu nếu gặp một ông vua kém may mắn như thế…” Và nếu, anh ta sinh ra trong một gia đình một vị tướng, anh ta sẽ không được kế thừa vị trí của cha mình, và cứ thế.

Một vị vua trên đảo nhỏ

Trong chú giải có kể một câu chuyện về thời Srilanka cổ xưa. Có một vị vua nọ, hoàng hậu vừa hạ sanh cho ông ta một hoàng nam, nhà vua mừng vui ban cho hoàng hậu một ân huệ. Hoàng hậu liền cất giữ ân huệ riêng này cho mình về sau. Và rồi khi hoàng tử lên bảy hay tám tuổi thì cậu bé đã tổ chức đá gà, đó là Phương tiện nỗ lực phi thành tựu (payoga vipatti). Một con gà trống đã nhảy lên mổ mù một mắt của hoàng tử. Đến khi hoàng tử được mười lăm hay mười sáu tuổi, hoàng hậu muốn nắm quyền bính thông qua đứa con của mình. Bà bèn xin ân huệ nhà vua giao vương quyền lại cho hoàng tử. Nhưng nhà vua đã từ chối lời cầu xin này chỉ vì cậu bé bị chột mắt. Hoàng hậu bèn luôn miệng phiền trách nhà vua. Để làm vừa lòng hoàng hậu, nhà vua bèn cấp cho hoàng tử một hòn đảo nhỏ tên là Nāgadīpa để trị vì. Như vậy, trong trường hợp này, nếu như hoàng tử có đầy đủ hai mắt, không bị tàn tật, thì anh chàng đã có thể trở thành vua của cả nước Srilanka rồi.

3) Thời Điểm Tái Sanh Phi Thành Tựu Vô Hiệu Hóa Nghiệp Thiện

Có vài Nghiệp thiện chưa ra đã bị ngăn chặn bởi thời điểm phi thành tựu (kāla vipatti) không cho nó trổ.

Một người nào đó có thể sanh ra trong thời điểm đất nước có chính phủ tốt, con người tốt, ví dụ như thời kỳ mà con người bắt đầu xuất hiện vào đầu đại kiếp trái đất, lúc bấy giờ có vị Chuyển Luân vương hoặc Đức Phật ra đời, nên thời ấy được gọi là Thời điểm thành tựu (kāla sampatti), và do đó các nghiệp xấu của người đó không thể trổ quả được. Nhưng, chỉ một Chướng nghiệp, người đó liền bị tái sanh vào Thời điểm phi thành tựu là chính phủ không tốt, dân tộc không tốt, xấu xa….. lại nữa, cô ta hay anh ta còn có thể bị tái sanh vào thời điểm tuổi thọ con người chỉ còn mười tuổi, và lúc mà sản phẩm sữa không còn tồn tại trên thế gian này nữa và các loại hạt kudrūsaka là loại thực phẩm tốt nhất vào thời bấy giờ. Cho dù được sanh ra làm người trong cõi người, nhưng lúc bấy giờ con người chẳng khác chi loài cầm thú. Thời kỳ đó được gọi là Thời điểm phi thành tựu

Do duyên sanh của Pháp thời điểm phi thành tựu này mà các nghiệp thiện đều bị vô hiệu hóa.

4) Phương Tiện Nỗ Lực Tái Sanh Phi Thành Tựu Vô Hiệu Hóa Nghiệp Thiện

Nghiệp thiện chưa sanh đã bị phương tiện nỗ lực phi thành tựu (payoga vipatti) ngăn chặn không cho nó trổ sanh.

Khi phẩm chất con người có thể tốt đẹp. Anh ta hay cô ta biết giữ gìn giới đức trong sạch, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm….thì mười điều của nghiệp thiện mà chúng tôi đã đề cập ở trên là Phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti). Nhờ Phương tiện nỗ lực thành tựu mà các Bất thiện nghiệp không có cơ hội trổ sanh. Nhưng, nếu anh ta hay cô ta thực hiện những hành vi như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, ….theo mười điều của Bất thiện nghiệp thì Phương tiện nỗ lực phi thành tựu (payoga vipatti) này sẽ vô hiệu hoá Thiện nghiệp.

Trong Chú giải có nói rằng thời đó người ta không cho phép những người như vậy được kết hôn với người cùng tầng lớp với mình. Vì họ nghĩ rằng ‘Loại người này lỗ mãng với phụ nữ, ham mê rượu chè, cờ bạc’ và họ luôn tránh xa loại người như thế.

Con Trai Trưởng Giả Mahādhana

Con trai Trưởng giả Mahādhana. Chúng ta nói về Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa) (vijjā caraṇa) của anh ta. Anh ta được sinh ra trong một gia đình giàu sang tột bực của thành Ba-la-nại (Bārāṇasī), kết hôn với con gái của một gia đình cũng hết sức giàu có khác. Nhưng vì quá giàu, anh ta chỉ biết tiêu khiển thời gian vào việc chè chén say sưa, tiệc tùng, xức nước hoa, đàn hát và nhảy múa… hằng ngày trên chính gia sản của mình, đó là phương tiện nỗ lực phi thành tựu (payoga vipatti). Vì tác động của phương tiện nỗ lực phi thành tựu (payoga vipatti) nên các nghiệp bất thiện của anh ta đã trổ quả, và kết thúc cuộc đời bằng cái nghèo xơ xác và cuối cùng trở thành người ăn xin đói rách. Đức Phật nói với Đại Đức Ānanda rằng nếu như Mahādhana biết siêng năng chăm chỉ thời còn tuổi trẻ, ông ta đã có thể trở thành một người trưởng giả tầm cỡ tột bực của thành Ba-la-nại. Hoặc nếu như ông ta trở thành một người xuất gia trong thời trai trẻ đó, ông ta sẽ đắc quả A-la-hán, và vợ sẽ đắc quả Bất Lai. Trong cả hai trường hợp, đó là phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti), nó sẽ trợ duyên cho Nghiệp thiện trổ sanh. Đồng nghĩa như vậy, nếu thời trung niên, Mahādhana biết siêng năng chăm chỉ thì ông ta sẽ trở thành một người trưởng giả tầm cỡ hạng nhì của Thành Ba-la-nại. Hoặc nếu như ông ta trở thành một người xuất gia trong thời trung niên, ông ta sẽ chứng quả Bất Lai, và vợ sẽ chứng quả Nhất Lai. Trong cả hai trường hợp, một lần nữa phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti), nó sẽ trợ duyên cho Nghiệp thiện trổ sanh. Hoặc giả nếu như Mahādhana biết siêng năng chăm chỉ thời lão niên, ông ta sẽ trở thành một người trưởng giả tầm cỡ hạng ba của thành Ba-la-nại. Hoặc nếu như ông ta trở thành một người xuất gia trong thời lão niên, ông ta sẽ chứng quả Bất Lai, và vợ ông ta sẽ chứng quả Tu Đà Hoàn. Trong cả hai trường hợp, lại một lần nữa, phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti) sẽ trợ duyên cho nghiệp thiện trổ sanh. Nhưng vì phương tiện nỗ lực phi thành tựu (payoga vipatti) tác động nên các thiện nghiệp đã ngăn trở không cho nó trổ quả, và bấy giờ ông ta chẳng còn gì cả: nghĩa là ông chẳng có được quả báu của một người giàu sang tột bậc của một đời sống cư sĩ mà cũng chẳng đạt được quả báu cao thượng của một bậc xuất gia tu sĩ. Và do đó khi lâm chung, ông đã bị tái sanh vào địa ngục là Pháp Nơi chốn tái sanh phi thành tựu (gati-vipatti) phát sanh và vô hiệu hóa các thiện nghiệp khác không cho nó khởi sanh, đồng thời nó trợ duyên cho các nghiệp bất thiện khác trổ quả hết bất thiện nghiệp này tới bất thiện nghiệp khác.

Cả hai vợ chồng đều đã thực hiện tròn đầy các nghiệp thiện của mình trong các kiếp để từ đó giàu có hơn nữa hoặc trở thành một bậc Thánh nhân. Nhưng nghiệp thiện ở đây chỉ có thể trổ quả khi có sự trợ duyên của phương tiện nỗ lực thành tựu chứ không phải với phương tiện nỗ lực phi thành tựu.

Làm Thế Nào Để Tránh Các Pháp Phi Thành Tựu

Bây giờ chúng ta hãy giải thích làm thế nào mà bốn Pháp phi thành tựu lại có thể vô hiệu hóa các Nghiệp thiện không cho nó trổ sanh. Hãy ghi nhớ điều này trong tâm, quý vị có thể hiểu sự nguy hiểm của bốn Pháp phi thành tựu này như thế nào rồi. Vậy làm sao để phòng tránh được chúng? Chỉ có cách là phòng tránh các nghiệp bất thiện. Nghiệp bất thiện sẽ giúp cho quý vị sớm gặp bốn Pháp phi thành tựu này trong các kiếp sống vị lai: vì các Pháp phi thành tựu này luôn sẵn sàng chào đón quý vị vô cùng nồng hậu và cung cấp cho quý vị một mảnh đất hết sức màu mỡ cho các Quả bất thiện của quý vị trổ sanh: đó là quả về bất mãn, về khó chịu, về phiền não. Như thế thì, làm thế nào để có thể phòng tránh nghiệp bất thiện? Bằng cách tạo nghiệp thiện. Nghiệp thiện sẽ giúp cho quý vị sớm gặp bốn Pháp thành tựu trong các kiếp sống vị lai. Các Pháp thành tựu này cũng sẽ cung cấp mảnh đất màu mỡ cho các thiện nghiệp của quý vị trổ Quả. Đó là các quả về toại nguyện, vui vẻ, an lạc.

Trong bất kỳ kiếp sống nào, tất nhiên có ba loại Pháp thành tựu và Pháp phi thành tựu nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta.

1) Nơi chốn tái sanh thành tựu hoặc phi thành tựu

2) Diện mạo tái sanh thành tựu hoặc phi thành tựu

3) Thời điểm tái sanh thành tựu hoặc phi thành tựu

Trong bất kỳ kiếp sống nào, phương tiện nỗ lực thành tựu đều nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta. Tuy nhiên, trong trường hợp của quý vị thì cả ba Pháp nằm ngoài tầm kiểm soát là các Pháp thành tựu. Ngay trong đời này, quý vị đã đạt quả báu tái sanh làm người: đó là Pháp Nơi tái sanh thành tựu, Pháp thứ nhứt. Quý vị khi được làm người, mặc dù không có sắc diện đẹp đẽ và vẻ sáng rỡ như Phạm thiên, nhưng có tay chân lành lặn, các căn tròn đủ: mắt có thể thấy, tai có thể nghe…, đó là Pháp thứ hai, diện mạo tái sanh thành tựu. Sau cùng, ở đây và ngay bây giờ quý vị đã được sanh ra ở cõi người trong thời kỳ có Giáo Pháp của Đức Phật, đó là Pháp thứ ba, thời điểm thành tựu. Quý vị đã đạt được ba Pháp thành tựu này do nhờ Pháp phương tiện nỗ lực thành tựu từ kiếp quá khứ cho đến hiện tại. Đồng thời với ba Pháp thành tựu này, quý vị đã có đủ cơ hội để tiếp tục phát triển cùng với yếu tố phương tiện nỗ lực thành tựu. Có thể nói là quý vị tuân theo bốn Pháp thành tựu nói trên và các Pháp thành tựu này sẽ đón tiếp quý vị một cách hiếu khách tất cả các Nghiệp thiện mà quý vị đã làm trong vô lượng kiếp quá khứ cũng như trong kiếp hiện tại này. Quả của những nghiệp thiện này chỉ sẽ là toại nguyện, vui thích, dễ chịu. Vì vậy hãy cố tránh phương tiện nỗ lực phi thành tựu và chỉ thực hành Pháp phương tiện thành tựu. Làm thế nào để làm được như thế?

Hãy nhớ những gì Đức Phật đã dạy trong bài kinh Gaddula Baddha:

Vì thế, này Tỷ-kheo, mỗi người hãy luôn quán chiếu nhiều lần tâm của mình: “Đã từ rất lâu tâm của ta đã bị ô nhiễm bởi tham, sân, si..

Bởi tâm ô nhiễm, này Tỷ-kheo, con người bị ô nhiễm; bởi tâm trong sạch thì con người cũng sẽ trong sạch.”

Tham, sân, và si đã làm tâm ô nhiễm, nơi nào không có tham, sân và si thì tâm được trong sạch.Với tâm vô tham, vô sân, vô si thì tư của mỗi hành động sẽ là hành động thiện. Vì thế, quý vị cần trong sạch tâm bằng thực hành mười thiện Pháp của nghiệp (dasa-kusala-kamma patha). Chúng ta đã thảo luận phần này ở trên.

1) Ba thiện Pháp thuộc về Thân Nghiệp (kāya kamma): (1) Không sát sanh, mà là lòng từ, bi. (2) Không trộm cắp, (3) không tà dâm.

2) Bốn thiện Pháp của Khẩu Nghiệp (vacī kamma): (1) Không nói dối, (2) không nói lời đâm thọc, (3) không nói lời chửi rủa, mắng nhiếc mà nói lời lẽ lịch sự, (4) không nói lời vô ích.

3) Ba thiện Pháp của Ý Nghiệp (mano kamma): (1) không ý dèm pha, (2) không nuôi dưỡng ác tâm, (3) không chấp thủ tà kiến, nhưng có Chánh kiến. Đó điều quan trọng nhất là phải có tín tâm đối với Nghiệp và Quả.

Mười thiện Pháp này là Nghiệp thiện hiệp thế. Chúng ta có nhiều cách giải thích về cách thực hành. Ví dụ như cái mà Đức Phật gọi là những ba phước-nghiệp-sự (puñña-kiriya-vatthu):

1) Bố thí (Dāna)

2) Trì Giới (Sīla): Đối với tăng thì giữ Giới theo Giới luật, đối với tu nữ thì giữ tám hoặc mười giới, đối với cư sĩ thì giữ năm, tám, và mười giới.

3) Tham thiền (Bhāvanā): thiền Định thì thực hành đến cận định hoặc các tầng thiền, về thiền Tuệ, để biết và thấy được Vô thường, Khổ, Vô ngã…của các danh chơn đế (nāma paramattha) và sắc chơn đế (rūpa paramattha), của quá khứ, vị lai, hiện tại, thô và tế, hạ liệt, cao thượng, xa và gần.

Đức Phật giải thích về ba phước-nghiệp-sự trên cũng thuộc về Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa) (vijjā-caraṇa). Chúng tôi cũng đã đề cập ở trên:

1) Hạnh (caraṇa) là mười lăm điều: giới, thu thúc lục căn, tiết chế ăn uống, tỉnh giác, chánh tín (bao gồm việc thực hành bố thí hằng ngày), chánh niệm, tàm, quý, đa văn, tinh tấn, trí tuệ, và bốn tầng thiền.

2) Minh (vijjā) là các Tuệ Minh Sát (vipassanā ñāṇa) cho tới Tuệ Hành Xã (Saṅkhārupekkhā-Ñāṇa)

Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa) (vijjācaraṇa). cũng là nền tảng của Tam vô lậu học: Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Để rèn luyện giới đức thì có ba điểm chính là: Chánh Ngữ (Sammā Vācā), Chánh Nghiệp (Sammā Kamanta), Chánh Mạng (Sammā Ājīva). Khi rèn luyện Giới đức, giới ta sẽ được thanh tịnh (sīla visuddhi)

Và dựa vào Giới đức trong sạch, quý vị có thể tu tập định (samādhi). Đó là thiền Chỉ, trong thiền Chỉ phải thực hành ba điều: Chánh Tinh Tấn (Sammā vāyāma), Chánh Niệm (sammā sati), Chánh Định (Sammā Samādhi). Khi rèn luyện Định, nếu quý vị đạt được cận Định và tám bậc thiền chứng thì quý vị sẽ đạt được tâm thanh tịnh (citta visuddhi).

Rồi dựa vào giới đức trong sạch và tâm thanh tịnh, có thể thực hành về Tuệ. Đó là thiền Minh Sát, để rèn luyện hai điều: Chánh Kiến (Sammā Diṭṭhi), Chánh Tư Duy (Sammā Saṅkappa). Khi thực hành thiền Tuệ (tùy theo ba-la-mật của bạn) bạn có thể đạt được Kiến Thanh Tịnh (Diṭṭhi Visuddhi): đó là sự chứng đắc về Chánh Kiến (Sammā Diṭṭhi).

Chánh Kiến là gì? Đức Phật đã giải thích điều đó trong kinh Đại Niệm Xứ (Mahā-Sati-Paṭṭhāna) như sau:

Này Tỷ-khưu, cái gì gọi là Chánh Kiến (Sammā Diṭṭhi)? Đó là, này Tỷ-khưu

1. Tuệ tri về Khổ, (Dukkhe Ñāṇaṃ)

2. Tuệ tri về nguồn gốc của Khổ (Dukkha Samudaye Ñāṇaṃ)

3. Tuệ tri về sự diệt Khổ (Dukkha Nirodhe Ñāṇaṃ)

4. Tuệ tri về con đường dẫn đến đoạn diệt Khổ đau (Dukkha-Nirodha-Gāminīyā-Paṭipadāya Ñāṇaṃ). Này, Tỷ-khưu đó gọi là Chánh Kiến.

Điều đó có nghĩa là nếu quý vị liễu tri Tứ Thánh Đế, tâm của quý vị cũng hoàn toàn thanh tịnh và quý vị sẽ chứng đắc A-la-hán. Đó là vì Thánh Đạo Tuệ (Ariya-Magga-Ñāṇa) (tức liễu tri Tứ Thánh Đế) đã đoạn diệt phiền não từng bước một cho đến khi hoàn toàn diệt tận. Khi tâm quý vị hoàn toàn trong sạch thì có thể nói rằng quý vị đã thực hiện đầy đủ bốn Pháp thành tựu. Sau khi nhập diệt Niết-bàn sẽ không còn đất cho nghiệp thiện và nghiệp bất thiện trổ quả nữa.

Tuy nhiên, quý vị có thể không đạt được tâm thanh tịnh trong đời này. Nhưng dù sao đi nữa, nếu quý vị nỗ lực thực hành Tam vô lậu học Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā) miên mật và kiên trì càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, chúng ta có thể nói rằng quý vị đang thực hiện bốn Pháp thành tựu. Và vì thế, khi đó nghiệp thiện của quý vị sẽ trổ quả thật lợi lạc.

Các Pháp Thành Tựu Trợ Duyên Cho Nghiệp Thiện

Và bây giờ chúng ta sẽ thảo luận làm thế nào để bốn Pháp thành tựu trợ duyên cho nghiệp thiện trổ quả.

1) Nơi Chốn Tái Sanh Thành Tựu Trợ Duyên Cho Nghiệp Thiện

Nghiệp Thiện chưa kịp sanh thì Pháp Nơi chốn tái sanh thành tựu tạo duyên cho nó trổ sanh

Nghiệp bất thiện của người đó có thể tái sanh trong cõi xấu như địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Đó là nơi chốn tái sanh phi thành tựu (gati vipatti). Do duyên khởi của Pháp phi thành tựu, nghiệp thiện của anh ta hay cô ta đã bị ngăn trở không thể trổ sanh. Nhưng, do một nghiệp thiện, anh ta hay cô ta lại được tái sanh ra ở nơi chốn tốt đẹp là cõi người hoặc cõi trời. Đó là nơi chốn tái sanh thành tựu. Bởi duyên khởi của Pháp thành tựu, các nghiệp thiện có cơ hội trổ quả, hết nghiệp này đến nghiệp khác. Trong cùng một lúc tất cả nghiệp thiện này sẽ tạo ra sự tái sanh trong cõi người, hoặc vào lúc khác thì nó tạo ra sự tái sanh ở cõi trời. Trong một thời gian thật dài, các nghiệp thiện giữ cho người đó không bị rơi vào cõi tái sanh thấp hơn.

Đại Đức Pañca-Sīla Samādaniya

Một ví dụ điển hình về Đại Đức Pañca-Sīla Samādāniya. Trong thời Giáo Pháp Đức Phật Anomadassī vị ấy đã thực hành năm Giới trong suốt một trăm ngàn năm mà không hề vi phạm một Giới nào. Dựa vào Giới đức vị ấy đã phát triển thiền Định mạnh mẽ và vững chắc, tiến hành thiền Tuệ đạt đến Tuệ Hành Xả (Saṅkhārupekkhā Ñāṇa). Kết quả là vị ấy được tái sanh vào cõi Trời, chuyển đổi qua lại từ cõi Trời này đến cõi trời kia, lên xuống giữa cõi Trời và cõi Người.

2) Diện Mạo Tái Sanh Thành Tựu (Upadhi Sampatti) Trợ Duyên Cho Nghiệp Thiện

Có những nghiệp thiện chưa kịp trưởng thành thì được trổ sanh nhờ Diện mạo tái sanh thành tựu (upadhi sampatti).

Có người tay chân dị tật, ngoại hình xấu xí: đó là diện mạo tái sanh phi thành tựu (upadhi vipatti). Do duyên khởi của Pháp phi thành tựu một số nghiệp thiện đã bị ngăn chặn không thể trổ sanh. Nhưng vì một nghiệp thiện cho tái sanh, cô ta hay anh ta lại được tái sanh với sắc diện đẹp đẽ, sáng rực như Phạm Thiên, đó là Diện mạo tái sanh thành tựu. Do duyên khởi của Pháp thành tựu này mà các nghiệp thiện lại có dịp trổ quả.

Theo chú giải, nếu một người được tái sanh trong một gia đình hoàng tộc, ngay cả những người anh cả cũng sẽ nói về người em như sau “Cậu ấy chính là quả phúc và sự may mắn; nếu như chiếc dù của cậu ấy mà giương lên nơi nào, thì nơi đó chắc chắn sẽ có hạnh phúc”. Và cậu ta là người ai cũng mong đợi. Lại nữa, nếu sinh ra trong một gia đình phó vương hay là một vị tướng thì anh ta sẽ kế nghiệp cha mình.

Một ví dụ khác về một người có diện mạo tái sanh thành tựu, đó là vị Chuyển Luân vương như là Đại Thiện Kiến Vương (Mahāsudassana)

3) Thời Điểm Tái Sanh Thành Tựu Trợ Duyên Nghiệp Thiện

Những Nghiệp thiện chưa kịp trưởng thành đã được trổ sanh tại thời điểm thành tựu (kāla sampatti)

Có người sinh ra trong thời điểm chính phủ không tốt, con người xấu xa, ghê tởm và yếu đuối, đó là thời điểm phi thành tựu (kāla vipatti). Do duyên sanh của Pháp phi thành tựu nghiệp thiện của anh ta hay cô ta không thể trổ quả.

Nhưng, một nghiệp thiện, anh ta hay cô ta lại có thể được tái sanh vào thời điểm chính phủ tốt, con người tốt, ví dụ như chúng sanh được sanh ra trong thời kỳ đầu của đại kiếp Trái Đất. Lúc đó có vị Chuyển luân Vương hoặc Đức Phật ra đời: đó là thời điểm thành tựu (kāla sampatti). Do duyên của Pháp thành tựu, các nghiệp thiện có cơ hội trổ sanh.

Đại Đức Mahāsoṇa

Chú giải đã kể về một trường hợp của Pháp thời điểm tái sanh phi thành tựu sẽ vô hiệu lực nghiệp thiện, không cho nó trổ sanh và rồi khi Pháp phi thành tựu chuyển sang thành tựu, những nghiệp thiện được trợ duyên cho nó trổ sanh. Đó là trường hợp Đại Đức Mahāsoṇa xảy ra vào thời kỳ Sri Lanka cổ xưa, khi mà sự quấy nhiễu của kẻ cướp có tên gọi là Brahman Tissa. Lúc đó có nạn đói xâm chiếm và nhà vua đã chạy lánh nạn. Hầu hết các vị Tỷ-kheo đều chạy sang Ấn Độ lánh nạn, chỉ có một số vị Tỷ-kheo cao hạ đã ở lại: hai trong số họ là Đại Đức Isidatta và Đại Đức Mahāsoṇa.

Trên đường du cư, họ đã sống bằng vỏ trái cây và ngó sen được cúng dường. Tại một ngôi làng, con gái của một gia đình thiện tín đã mời họ đến đặt bát. Vì không có thực phẩm cô gái đã nghiền vỏ cây và lá cây và vò thành ba nắm. Một nắm cô đặt vào bát của ngài Isidatta, còn nắm kia cô đặt vào bát của ngài Mahāsoṇa. Sau đó, khi cô vươn tay ra để đặt vào bát của ngài Isidatta thì cô lại chuyển hướng để vào bát của ngài Mahāsoṇa. Khi đó Đại Đức Isidatta nói “Nghiệp của người mà nó trổ quả thiện với nắm lá và vỏ cây cúng dường hôm nay là kết quả trong thời kỳ cực kỳ khó khăn khi có kẻ cướp Brahma Tissa, chứng tỏ là một quả thiện mà nó không trổ vào thời điểm và nơi chốn thành tựu (desa-kāla-sampadāya) thì đủ hiểu thực sự là nó to lớn biết dường nào”. Sau đó gia đình người tín nữ này đã đưa hai vị Tỷ-kheo này đến một nơi ở và chăm sóc họ chu đáo trong suốt thời kỳ khó khăn kéo dài bằng với thời điểm phi thành tựu

Khi kẻ cướp Brahma Tissa chết, nhà vua quay trở về, Chư tăng cũng trở về từ nước ngoài và năm trăm vị Tỷ-kheo đã đưa Đại Đức Mahāsoṇa về tu viện Maṇḍalārāma.

Đêm đó chư thiên đã báo cho bảy trăm gia đình trong ngôi làng biết là ngày mai phải đặt bát cho Chư tăng: mỗi người phải mang phần ăn và miếng vải dài chín sải tay. Và ngày hôm sau khi các vị Tỷ-kheo đi bát và được mời ngồi và nhận cháo gạo. Vị Tỷ-kheo lớn hạ nhất của tu viện Maṇḍalārāma là Đại Đức Tissabhuti. Một người thiện tín đứng đầu trong làng đến đảnh lễ ngài và hỏi “Thưa ngài, ai là Đại Đức Mahāsoṇa?” Vào lúc đó, Đại Đức Mahāsoṇa còn là một Tỷ-kheo thấp hạ được xếp ngồi ở cuối dãy. Vị Tỷ-kheo lớn hạ chỉ ông ấy và nói “Này thiện nam, đấy là Mahāsoṇa”

Người thiện nam đảnh lễ Đại Đức Mahāsoṇa và mong muốn rước bát. Nhưng Đại Đức suy nghĩ: “Làm thế nào mà họ biết đến ta? Có lẽ do ai chỉ”. Và vị ấy không đưa bát, là một Tỷ-kheo thấp hạ vị ấy không muốn cho người ta xem trọng mình hơn người khác.

Tỷ-kheo cao hạ là Đại Đức Tissabhuti nói với vị ấy: “Này bạn hữu Soṇa vừa rồi ông không biết lý do tại sao, chính chúng tôi cũng không biết tại sao. Chư thiên tạo duyên lành cho Nghiệp thiện chín muồi được trổ quả và đến với ai có nghiệp thiện đó. Vậy ông hãy trao bát cho người ấy và giúp người bạn của mình có cuộc sống Thánh nhân tốt đẹp.”. Vì thế Đại Đức Mahāsoṇa đã giao bát của mình. Người thiện nam đã mang bát đi và đặt đầy thức ăn vào và buộc miếng vải vào chân bát, anh ta mang đến và đặt vào tay của Đại Đức. Và một người thiện nam khác cũng làm như vậy và tiếp tục như thế … Cho đến khi Đại Đức Mahāsoṇa một mình nhận bảy trăm phần thực phẩm. Ngài đã chia sẻ với các vị Tỷ-kheo khác.

Sau đó khi Đại Đức Mahāsoṇa trở về thủ đô Anurudhapura, Đại Đức đi bát cùng với chư tăng Tỷ-khưu và cũng nhận được nhiều bát và sự tôn kính của thí chủ.

Vì vậy, khi thời điểm phi thành tựu ngay cả vỏ trái cây madhuka và cọng sen trắng cũng rất khó tìm. Nhưng khi chuyển sang thời điểm thành tựu thì là sự gặt hái lớn.

Đại Đức Vattabbaka Nigrodha

Trong chú giải có kể về trường hợp khác của thời kỳ khó khăn của kẻ cướp Brahmam Tissa trong thời Sri Lanka cổ xưa. Đó là Đại Đức Vattabbaka Nigrodha, lúc đó còn là Sadi, cũng giống như Đại Đức Mahāsoṇa, ông ấy và vị thầy của mình đã không rời đất nước của mình. Trong khi du cư, họ sống bằng trái cây mà họ có được và cuối cùng họ đã tìm thấy được một tu viện bỏ trống trong xứ của những người chuyên ăn lá cây. Họ ở lại đó và được những thiện tín cúng dường với rễ, lá, thân, củ, trái cây. Khi thời kỳ khó khăn qua đi, vị sadi được thọ cụ túc giới và trở thành Đại Đức Vattabbaka. Vị ấy nhận được nhiều tứ vật dụng và sự kính trọng. Rồi thì đến thời điểm phi thành tựu (kāla vipatti) rễ, lá, thân, củ, trái cây trở nên khó tìm: tức nhiều nghiệp thiện đã bị ngăn chặn không thể trổ quả. Nhưng khi Thời điểm Phi thành tựu chuyển đổi sang Thời điểm Thành tựu (kāla sampatti), Đại Đức Vattabbaka nhận được nhiều tứ vật dụng và nhiều nghiệp thiện đã được trổ quả theo.

4) Phương Tiện Nỗ Lực Tái Sanh Thành Tựu Trợ Duyên Cho Nghiệp Thiện

Có vài nghiệp thiện chưa sanh được trưởng thành tại thời điểm phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti).

Đức Hạnh của con người có thể xấu. Anh ta hay cô ta có thể sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Mười bất thiện Pháp của nghiệp bất thiện đó là Phương tiện nỗ lực Phi thành tựu (payoga vipatti). Do duyên sanh của Pháp phi thành tựu, nghiệp thiện bị vô hiệu hóa không thể trổ sanh. Nhưng rồi cô ta hay anh ta có thể thực hiện một giới hạnh tốt. Cô ta hay anh ta thực hành năm giới, tám giới, mười giới. Cô ta và anh ta không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm…: đó là mười thiện Pháp. Là phương tiện nỗ lực thành tựu (payoga sampatti). Do duyên sanh khởi của Pháp thành tựu nghiệp thiện có thể trổ sanh quả.

Anh ta có thể tái sanh vào thời điểm chính phủ tốt và nhà vua có Đức Hạnh, đó là thời điểm thành tựu (kāla sampatti). Rồi nhờ Đức Hạnh đó, vị vua sẽ hài lòng và suy nghĩ về anh ta “có lẽ con gái ta xứng với hắn”. Nhà vua sai người đem tới chỗ anh ta các đồ trang sức và suy nghĩ “những đồ trang sức này có lẽ hợp với anh ta”, nhà vua còn sai mang nhiều loại quà đặc biệt như vương xa, thú, vàng bạc châu báu..để tặng anh ta. Và nếu anh ta trở thành một tu sĩ, anh ta sẽ nổi tiếng và dũng lược.

Đại Đức Cūlasudhamma

Lại nữa, chú giải kể về trường hợp ông vua tên Kūṭakaṇṇa trong thời Sri-Lanka cổ xưa.. Ông hết lòng tận tụy với Đại Đức Cūlasudhamma. Một lần nọ, ông đến gặp vị Tỷ-kheo đang sống trong tu viện gần đó. Nhà vua bèn hỏi mẹ vị ấy xem vị ấy thích món gì. Bà cho biết ngài chỉ thích ăn thân cây rau (kanda).

Nhà vua liền đích thân mang thức ăn đến và đi thẳng vào tu viện, nhưng khi cúng dường vị Tỷ-kheo, nhà vua không thể nhìn được mặt vị ấy (vì vị ấy luôn ngó xuống trong oai nghi đi đứng Chánh niệm). Khi ra ngoài, nhà vua liền hỏi hoàng hậu: “Trông Ngài Đại Đức ra sao?” Hoàng hậu bèn đáp “Thưa, Bệ hạ là đấng nam nhi mà còn không nhìn được vị ấy ra sao nữa thì làm sao thần thiếp biết được? Thần thiếp còn không biết mặt mũi vị ấy thế nào.” Nhà vua bèn bảo rằng “Trong vương quốc của ta, (không ai ngó nhìn lên, theo lời dạy của Đức Phật), ngay cả ta mà còn không dám nhìn lên mặt con trai của người nộp thuế (bali-kāra-gahapati-putta). Thật kỳ diệu thay, chỉ có Giáo Pháp Đức Phật mới có được như vậy”. Nhà vua vô cùng hoan hỷ và vỗ tay tán thán.

Vị đại thần vô tội

Điều này đã kết luận phần giải thích của chúng tôi là làm thế nào bốn Pháp phi thành tựu (nơi chốn, sắc diện, thời điểm và nỗ lực phi thành tựu) đã vô hiệu hóa các nghiệp thiện không thể trổ sanh, nhưng ngược lại bốn Pháp thành tựu thì trợ duyên cho nó trổ sanh.

Để giải thích, chú giải có cho một thí dụ sau. Giả dụ, một ông vua vì tức giận một vị đại thần nọ về việc gì đó, nhà vua liền cách chức và tống giam ông ta vào đại lao. Người thân của vị đại thần này biết ông ta bị hàm oan, nhưng không ai hé răng lời nào, vì biết nhà vua đang nổi cơn lôi đình. Khi cơn giận của nhà vua đã nguôi ngoai, họ bèn tâu cho nhà vua hay rằng vị quan ấy hoàn toàn vô tội. Nhà vua liền ra lệnh thả và phục hồi chức vụ cũ cho ông ta. Tiếp theo, vị quan này được mọi người từ các phương xa mang quà cáp đến để biếu tặng và chúc mừng. Số lượng quà biếu cho ông ta nhiều đến nổi không sao đếm xiết.

Ở đây, đầu tiên là nhà vua vô cùng phẫn nộ với vị quan. Vua bèn ra lệnh cách chức và tống giam ông ta: đó như là một nghiệp bất thiện khiến cho một người bình thường đoạ vào địa ngục. Người thân của vị quan này không can thiệp hay tuyên bố sự vô tội của ông quan vì nhà vua đang tức giận: điều đó có nghĩa là nghiệp thiện không thể trổ quả vì kẻ phàm nhân đang thọ quả tại địa ngục. Khi cơn giận nhà vua nguôi đi và người thân vị quan mới cho nhà vua hay rằng ông quan vô tội. Và vị đại thần nọ được thả và phục hồi chức vụ ngay sau đó: đó là kẻ phàm nhân đã thoát khỏi địa ngục và tái sanh vào cõi trời. Rồi thì tất cả nghiệp thiện tập hợp lại và đồng trổ quả. Chị ta hay anh ta rất sung sướng được tái sanh từ kiếp này sang kiếp khác, lên xuống giữa cõi trời và cõi người, mỗi lần đạt được bốn loại Pháp thành tựu. Và quả của thiện nghiệp này còn có thể kéo dài nhiều hơn thậm chí cả một trăm ngàn đại kiếp. Cuối cùng, nghiệp thiện sẽ trợ duyên trổ sanh nghiệp siêu thế và đạt đến Nỗ lực Thành tựu tối thượng, là chứng đắc Quả vị A-la-hán.

Sau cùng là phần kết luận các giải thích của chúng tôi về duyên sanh khởi của nghiệp, có nhiều loại duyên sanh khởi khác nhau đã làm cho nghiệp trổ sanh. Bốn yếu tố Pháp thành tựu của Nơi chốn tái sanh (Sanh thú), thời điểm, diện mạo tái sanh, và phương tiện nỗ lực thành tựu sẽ vô hiệu lực nghiệp xấu và trợ duyên cho nghiệp thiện trổ sanh. Nhưng đồng thời ta cũng hiểu rằng, ngược lại, Pháp phi thành tựu sẽ vô hiệu lực nghiệp thiện và trợ duyên cho bất thiện nghiệp trổ quả.

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw

Trung Tâm Thiền Pa-Auk Tawya

Mawlamyine, tiểu bang Mon, Myanmar

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

IV. THỪA TỰ PHÁP

Khi các Phật tử có tín tâm nơi Tam Bảo đến lúc làm cha mẹ, họ đều hy vọng rằng những đứa con mình sẽ thật sự thừa hưởng được gia tài Pháp Bảo. Để có thể biến mục đích này thành sự thực, ngay khi những đứa trẻ đến tuổi thành niên, chúng được cha mẹ khuyên đi xuất gia, trở thành Tỷ-kheo (hay Tu nữ), theo đúng Giới luật của Phật Giáo Nguyên Thủy. Khi điều này xảy ra, cha mẹ chúng cảm thấy hết sức hoan hỷ và mãn nguyện. Tuy nhiên, điều rất quan trọng là việc thừa tự Pháp này, phải đúng theo những điều Đức Phật đã chỉ dẫn và chấp thuận. Gia tài Pháp Bảo mà các Tỷ-kheo nên kế thừa từ Đức Thế Tôn đã được trình bày chi tiết trong bài Kinh Thừa Tự Pháp thuộc Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya Mūlapaṇṇāsapāli Dhammadāyāda Sutta).

Nguồn gốc của bài “Kinh Thừa Tự Pháp”(Dhammadāyāda Sutta)

Chú giải Kinh Trung Bộ đã giải thích về hoàn cảnh ra đời của bài Kinh Thừa Tự Pháp như sau:

Bài Kinh này được Đức Thế Tôn thuyết giảng nhân dịp có vô số các tài vật đã được cúng dường tới Tăng chúng. Hàng núi các tài vật được cung kính cúng dường như mưa tới Đức Toàn Giác. Sau khi được thọ ký, Đức Bồ Tát khao khát thành tựu quả vị Chánh Đẳng Giác và Ngài đã thực hành suốt cả bốn A-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp để viên mãn ba mươi Ba-la-mật sau:

(1) Mười Ba-la-mật bậc hạ: là bố thí và từ bỏ tất cả các vật ngoại thân (tài sản, vợ con….)

(2) Mười Ba-la-mật bậc trung: là bố thí và từ bỏ các chi phần cơ thể không tổn hại mạng sống.

(3) Mười Ba-la-mật bậc thượng: là bố thí sinh mạng của chính mình.

Trong kiếp sống cuối cùng của mình, ba mươi ba-la-mật trên đã viên mãn tới mức tất cả các tài vật đủ loại đã được cúng dường tới Đức Phật, nhiều như thác đổ. Từ tất cả các phương hướng, tất cả các loại đồ ăn, thức uống, tất cả các loại xe cộ, y áo, dầu thơm, hương hoa, đèn cầy, đèn dầu và vô số các loại tài vật khác được chở tới cúng dường bởi các hoàng gia, các Bà-la-môn giàu có và các Đại thí chủ. Họ hỏi nhau:

“Đức Thế Tôn hiện đang ở đâu? Chúng ta có thể tìm thấy Bậc Ứng cúng cao quý nhất ở đâu?”.

Họ đã chở tới chỗ Đức Phật hàng trăm cỗ xe được chất đầy tất cả các loại của cải vật chất đứng chờ cho tới lượt và tới giây phút được dâng cúng các phẩm vật này. Họ chờ đợi lần lượt từng người với hàng dãy dài những cỗ xe chất đầy phẩm vật trước tăng xá, vô cúng dường Đức Phật. Bất cứ nơi nào Đức Phật đặt chân tới, cũng có hàng đoàn người theo sau, để chờ dịp được cúng dường đến Ngài. Không phải chỉ riêng Đức Phật mà cả Tăng đoàn cũng tràn ngập trong các tài vật cúng dường. Mô tả về sự phong phú tới mức thừa thãi những phẩm vật này, một số đoạn kinh Pāli đã viết:

“Vào thời đó, Đức Thế Tôn đã nhận được sự trọng vọng, sùng kính, tôn thờ, yêu thương, cung kính cũng như các tứ vật dụng là vật thực, y, tự viện, thuốc men cúng dường nhiều không kể xiết”.

“Này Cunda, đây là thời kỳ đỉnh cao của hội chúng và Tăng Đoàn. Này Cunda, ta không thấy bất cứ Tăng đoàn nào trong giáo pháp của ta có thể đạt đến sự cực thịnh về tài vật cúng dường, về tiếng tăm và các tùy tùng nhiều như Tăng Đoàn hiện nay”.

Vô Số Các Vật Phẩm Cúng Dường Tới Tăng Đoàn

Bhikkhūnampi yebhuyyena kappasatasahassaṃ tatobhiyyopi pūritadānapāramisañjayattā tadā mahālābha-sakkāro uppajji. (MT. 1.180)

“Vào thời đó, không biết bao nhiêu quà biếu, vật dụng, tặng phẩm đã được cúng dường tới Tăng Đoàn, nhờ vào năng lực của ba-la-mật bố thí đã được tích trữ và phát triển suốt cả một trăm ngàn đại kiếp hoặc lâu hơn thế nữa”.

Ở đây, chúng tôi muốn bàn rõ thêm về ba-la-mật cần được phát triển bởi các vị đệ tử, cũng như thời gian cần thiết để thành tựu nó.

Ba-La-Mật (Pāramī)

Thời Gian Cần Thiết Để Phát Triển và Thành Tựu Ba-la-mật.

Tasmā paccekabuddhabuddhasāvakānaṃ sabbesaṃ patthanā ca abhinīhāro ca icchitabbo. (MA.1.180)

Theo chú giải, Đức Phật muốn tất cả các đệ tử phải:

(1) Phát Đại Thiện nguyện hướng tới Trí Tuệ giác ngộ

(2) Luôn có tâm khao khát mãnh liệt nhất để phát triển các ba-la-mật (được hiểu là sự viên mãn) dẫn đến thành tựu Trí Tuệ Giác ngộ.

Imesaṃ pana sabbesampi adhikāro ca chandatāti dvaṅgasamannāgatoyeva abhinīhāro hoti. (ApA.1.155) [p.7] (ApA.1.158)

Tất cả các đệ tử của Đức Phật cần có đầy đủ đặc tính sau:

(1) Đại Thiện nguyện (Adhikāra)

(2) Khao khát mạnh mẽ đạt tới Trí Tuệ Giác ngộ mà họ đã phát nguyện hướng đến.

Chỉ khi nào có đầy đủ được hai điều kiện này thì các vị Đệ Tử Phật mới có khả năng thành tựu các Ba-la-mật cần thiết để dẫn đến Trí Tuệ Giác ngộ.

Thế Nào Là Đại Thiện Nguyện (Adhikāra)

Chúng ta cần thiết phải giải thích về Đại Thiện Nguyện. Các vị Thánh Đệ Tử Phật có ba bậc như sau:

(1) Aggasāvaka: Thượng thủ Thanh Văn.

(2) Mahāsāvaka: Đại Thanh Văn.

(3) Pakatisāvaka: Thường Thanh Văn.

Trong số ba loại đệ tử này:

(1) Thượng thủ Thanh Văn (Aggasāvaka): ví dụ như Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên phải trải qua một A-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp để cuối cùng thành tựu được Trí Tuệ Giác ngộ.

(2) Đại Thanh Văn (Mahāsāvaka): như Tôn giả Đại-ca-diếp, Tôn giả Ānanda, Tôn giả Mahākaccī phải trải qua suốt một trăm ngàn đại kiếp để cuối cùng thành tựu Trí Tuệ Giác ngộ.

(3) Thường Thanh Văn (Pakatisāvaka): phải trải qua thời gian không hạn định, cho tới lúc nào thành tựu viên mãn các ba-la-mật, với khát khao mãnh liệt nhất.

Khi đã thành tựu được Trí Tuệ Giác ngộ theo như nguyện ước của mình, các Thượng thủ Thanh Văn, Đại Thanh Văn và một số bậc Thường Thanh Văn có được Vô Ngại Giải Trí. Những nhân để cho ra quả – là sự thanh tịnh của Vô Ngại Giải Trí (Paṭisambhidā ñāna) này, được giải thích trong bộ Thanh Tịnh ĐạoVisuddhi Magga và Chú Giải bộ Phân tích Tạng Vi Diệu Pháp Sammohavinodanī – như sau:

(1) Chứng đắc (Adhigama): do các ngài chứng ngộ Tuệ Đạo và Tuệ Quả A-la-hán.

(2) Tinh thông kinh điển (Pariyatti): do các ngài học Giáo Pháp của Đức Phật.

(3) Nghe (Savana): do các ngài nghe Pháp với lòng tôn kính.

(4) Hỏi (Paripucchā): do các ngài đã luận bàn đến từng tiểu tiết, tường tận những ý nghĩa khó hiểu hay hóc búa trong chú giải.

(5) Tiền nỗ lực (Pubbayoga): do có Nỗ lực Tiền Căn – tức là do các ngài đã gieo trồng và thành tựu việc tu tập từ những kiếp quá khứ.

Trên đây là năm nhân tố quyết định, được thành tựu nhờ có tâm khao khát mãnh liệt nhất.

Pubbayogo nāma pubbabuddhānaṃ sāsane gatapaccāgatikabhāvena yāva anulomaṃ gotrabhusamīpaṃ, tāva vipassanānuyogo. (VsM. 2.72)

Yāva anulomagotrabhusamīpanti saṅkhārupekkhāñāṇamāha. (MT.2.84)

Pubbayoga = Nỗ Lực Tiền Căn (Tiền nỗ lực) là các thiện Nghiệp mà các vị Tỷ-kheo đã phát triển trong rất nhiều kiếp quá khứ trong thời kỳ Giáo Pháp của các Đức Phật quá khứ, nó được thành tựu viên mãn nhờ:

(1) Họ đã thực hành Thiền Vipassanā trong suốt thời gian đi vào làng khất thực.

(2) Họ đã thực hành Thiền Vipassanā trong suốt thời gian từ làng về Tịnh xá.

Những vị Đệ Tử đã viên mãn những phẩm chất đặc biệt của yếu tố thứ năm là Nỗ Lực Tiền Căn (Pubbayoga) này sẽ đạt được Trí Tuệ sau:

(1) Tuệ Phân biệt Danh Sắc (hay gọi là Danh Sắc Phân Định Trí nāma-rūpa-pariccheda-ñāna).

(2) Tuệ Phân biệt Nhân Duyên (hay gọi là Duyên Xác Định Trí paccaya-parigaha-ñāna).

(3) Tuệ Minh Sát (Vipassanā)

Ba Tuệ này đã được phát triển suốt các thời kỳ Giáo Pháp của các Đức Phật quá khứ. Điều này chứng tỏ họ đã có Ba-la-mật Xuất Gia (vì đã từng là Tỷ-kheo) và đã hành thiền trong suốt thời gian đi bát.

Năm nhân tố quyết định trên chính là điều kiện cần được phát triển để thanh tịnh hóa Vô Ngại Giải Trí. Trong năm nhân trên thì:

– Nhân (1) Chứng ngộ (Adhigama) cần được viên mãn trong kiếp cuối cùng.

– Nhân (2) Tinh thông kinh điển (Pariyatti), nhân (3) Nghe (Savana), nhân (4) Hỏi (Paripucchā) cần được phát triển viên mãn trong các kiếp quá khứ và trong kiếp cuối cùng khi thành tựu Vô Ngại Giải Trí.

– Nhân (5) Nỗ lực Tiền căn (Pubbayoga) cần được thành tựu trong thời kỳ Giáo Pháp của các Đức Phật trước hoặc từ các kiếp quá khứ.

Tất cả bốn nhân tố là: Tinh thông kinh điển (Pariyatti), Nghe (Savana), Hỏi (Paripucchā), Nỗ lực Tiền căn (Pubbayoga) được gọi là Đại Thiện Nguyện (Adhikāra), là hạt giống Ba-la-mật cần được học, phát triển và thành tựu nếu chúng ta muốn có Trí Tuệ Giác Ngộ. Muốn được vậy, mỗi người cần có một khát vọng cực kỳ mãnh liệt và sự kiên trì miên mật trong việc phát triển Đại Thiện Nguyện trên, cho tới lúc viên mãn Trí Tuệ Giác Ngộ. Một người chỉ khi thành tựu đủ hai yêu cầu sau thì mới tạo thành ba-la-mật trí tuệ của một vị Thanh Văn:

(1) Phát Đại Thiện Nguyện (Adhikāra) hướng tới Trí Tuệ giác ngộ

(2) Luôn duy trì một khát vọng cực kỳ mãnh liệt và cháy bỏng nhằm thành tựu Đại Thiện Nguyện.

Giải Thích của Chú Giải Bộ Phân Tích Tạng Vi Diệu Pháp

Pariyattisavanaparipucchā hi pubbe hontu vā mā vā, pubbayogena pubbe ceva etarahi ca saṅkhārasammasanaṃ vinā paṭisambhidā nāma natthi. Ime pana dvepi ekato hutvā paṭisambhidā upatthambhetvā visadā karontīti. (AbA.2.373)

Trong năm nhân kể trên, Tinh thông kinh điển (Pariyatti), Nghe (Savana), Hỏi (Paripucchā) là yếu tố quyết định để thành tựu Vô Ngại Giải Trí (Paṭisambhidāñāna) và nhân Nỗ lực Tiền Căn (Pubbayoga) ảnh hưởng đến việc Chứng ngộ Đạo và Quả vị A-la-hán (Adhigama). Cũng chính nhân tố tiền căn này khiến Vô Ngại Giải Trí khác đặc biệt hơn hẳn so với các tuệ khác.

Dù các nhân Tinh thông kinh điển (Pariyatti), Nghe (Savana) và Hỏi (Paripucchā) có được phát triển hay không trong các kiếp thuộc thời Giáo Pháp của các Đức Phật quá khứ trước Phật Gotama cũng như các kiếp quá khứ thuộc thời đức Phật Gotama, “Vô Ngại Giải Trí” (Paṭisambhidāñāna) dường như khó có thể thành tựu trừ phi nhân tố Nỗ Lực Tiền Căn (Pubbayoga) được phát triển với Tuệ Vipassanā thấu rõ được Khổ Đế và Khổ Tập Đế dưới ánh sáng của Vô thường, Khổ, Vô ngã suốt trong các khoảng thời gian sau:

– Hoặc trong thời kỳ Giáo Pháp của các vị Phật quá khứ

– Hoặc trong các kiếp quá khứ thuộc thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật hiện tại

– Hoặc trong kiếp sống hiện tại thuộc thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật hiện tại.

Vô Ngại Giải Trí (Paṭisambhidāñāna) được thanh tịnh chỉ khi nó được củng cố bằng sự trợ giúp phối hợp của Nỗ lực Tiền Căn (Pubbayoga) và sự chứng ngộ Đạo và Quả Nibbāna (Adhigama)

Tuy nhiên, có phải tất cả các vị Thánh Đệ Tử đều có Vô Ngại Giải Trí (Paṭisambhidāñāna) không?

Hãy xem phần chú giải như sau:

“Ariyasāvako no paṭisambhidāpatto nāma natthi (AbA.2.372)

“Dường như rất hiếm khả năng là có vị Thánh Đệ tử nào mà lại không thành tựu Vô Ngại Giải Trí”

Tứ Tuệ Phân Tích Trong Vô Ngại Giải Trí (Paṭisambhidāñāna)

–  Trong chú giải nói về phần “Thuyết giảng về từng Thánh Đế” (Saccavāra desanā), Đức Phật có nói về Vô Ngại Giải Trí (Paṭisambhidāñāna) như sau:

Dukkhe ñāṇaṃ atthapaṭisambhidā, dukkhasamudaye ñāṇaṃ dhammapaṭisambhidā, dukkhanirodhe ñāṇaṃ atthapaṭisambhidā, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ dhammapaṭisambhidā, tatra dhammaniruttābhilāpe ñāṇaṃ niruttipaṭisambhidā, ñāṇesu ñāṇaṃ paṭibhānapaṭisambhidā.(Vbh.2.307)

(1) Trí Tuệ Phân Tích được Khổ Thánh Đế gọi là Nghĩa Vô Ngại Giải (atthapaṭisambhidāñāna)

(2) Trí Tuệ Phân Tích được về Tập Thánh Đế (Nguồn gốc của Khổ) được gọi là Pháp Vô Ngại Giải (Dhammapaṭisambhidāñāna)

(3) Trí Tuệ Phân Tích được Diệt Khổ Thánh Đế được gọi là Nghĩa Vô Ngại Giải (atthapaṭisambhidāñāna)

(4) Trí Tuệ thấu triệt được Đạo Thánh Đế (tức Bát Chánh Đạo dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn) là Pháp Vô Ngại Giải (Dhammapaṭisambhidāñāna).

Trí Tuệ phân biệt được sự khác nhau giữa hai yếu tố Nghĩa (atthapaṭisambhidāñāna) và Pháp (Dhammapaṭisambhidāñāna) kể trên, tức là Trí Tuệ phân tích về từ ngữ được gọi là Từ Vô Ngại Giải (niruttipaṭisambhidāñāna).

Trí Tuệ phân tích được cả ba trí tuệ Nghĩa Vô Ngại Giải (atthapaṭisambhidāñāna), Pháp Vô Ngại Giải (Dhammapaṭisambhidāñāna), Từ Vô Ngại Giải (niruttipaṭisambhidāñāna) được gọi là Biện Vô Ngại Giải (patibhānapaṭisambhidāñāna). (Ab. 2.307)

Cần lưu ý rằng trong Vô Ngại Giải Trí (paṭisambhidāñāna) trên chính nhờ Nghĩa Vô Ngại Giải (atthapaṭisambhidāñāna) và Pháp Vô Ngại Giải (Dhammapaṭisambhidāñāna) mà Tứ Thánh Đế mới có thể được phân tích thấu suốt và liễu ngộ.

Luân Đế (Vaṭṭasacca) và Ly Luân Đế (Vivaṭṭasacca)

Tattha purimāni dve saccāni vaṭṭaṃ, pacchimāni vivaṭṭaṃ. Tesu bhikkhuno vaṭṭe kammaṭṭhānābhiniveso hoti, vivaṭṭe natthi abhiniveso.  (AbA.2.109)

Ý nghĩa của câu kệ Pāli trên là trong Tứ Thánh Đế:

Khổ Thánh Đế (Dukkhasacca) và Tập Thánh Đế (Samudayasacca) (tức nguyên nhân của Khổ) thuộc về Luân Đế (Vaṭṭasacca) (tức là Sự thật về vòng luân hồi) (saṃsāra)

Diệt Khổ Thánh Đế (Nirodhasacca) là Pháp Vô Vi Niết-bàn và A-la-hán Tuệ được thành tựu nhờ Bát Thánh Đạo (Đạo Thánh Đế), dẫn đến việc giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử được gọi là Ly Luân Đế (Vivaṭṭasacca).

Hành giả thực tập thiền Vipassanā (Vipassanā bhāvāna) cần phải thấu hiểu và có Tuệ Minh Sát về Khổ Thánh Đế và Tập Thánh Đế thuộc Luân Đế (Vaṭṭasacca).

Còn hai Đế sau là Diệt Thánh Đế và Đạo Thánh Đế thuộc Ly Luân Đế (Vivaṭṭasacca) thì không có Tuệ Minh Sát.

Đối Tượng Của Tuệ Vipassanā

Như trong đoạn kinh Pāli và chú giải ở trên, hành thiền Vipassanā bao gồm việc liễu ngộ được về Khổ Đế và Tập Đế. Hai Luân Đế này chính là đối tượng Pháp của tuệ Vipassanā.

Aniccādivasena vividhehi ākārehi dhamme passatīti vipassanā. (AbA.1.175)

Câu kinh Pāli có nghĩa là: Nó được gọi là Vipassanā bởi các Pháp thuộc Khổ Thánh Đế và Khổ Tập Thánh Đế được quán chiếu, liễu ngộ dưới ánh sáng của Tam Tướng – tức là ba đặc tính Vô thường (anicca), Khổ (dukkha), Vô ngã (anatta).

Saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.  (S.3.369; M1.82)

Theo bài kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta) và Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta) giải thích về vấn đề trên, mười một tính chất của Pháp Hữu Vi là quá khứ, hiện tại, vị lai, trong, ngoài, thô, tế, cao thượng, hạ liệt, xa, gần. Trong những trạng thái kể trên hàm chứa tư tưởng ô nhiễm của Tham Ái – tức Chấp thủ Ngũ Uẩn – chính là Danh và Sắc. Đây là Khổ Thánh Đế.

Theo bài kinh Ngoại Đạo Xứ (Titthāyatana Sutta A.1.178) của Tăng Chi bộ kinh, mắt xích nối kết trong Thập Nhị Nhân Duyên chính là tiến trình Nhân – Quả. Nói cách khác, năm nhân trong mười hai Duyên khởi là vô minh, tham ái, thủ, hành và nghiệp, chính là những Pháp thuộc Tập Thánh Đế (tức Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ)

Việc đầu tiên và quan trọng nhất là một hành giả cần quán xét làm sao mà các Nhân của Khổ (thuộc Tập Thánh Đế) là Vô Minh, Ái, Thủ, Hành và Nghiệp trổ ra các quả như Thức (viññāna), Danh Sắc (nāma rūpa), Lục Nhập (saḷāyatana), Xúc (phassa), Thọ (vedanā) là các pháp thuộc Khổ Thánh Đế.

Các Pháp về Khổ Thánh Đế và Khổ Tập Thánh Đế là các Pháp của Luân Đế (vaṭṭasacca), và chúng cần phải được phân biệt bằng Tuệ Minh Sát (Vipassanā) dưới ánh sáng của tam tướng là Vô thường, Khổ, Vô ngã.

Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. (M.1.71)

Theo chỉ dẫn của Đức Phật trong kinh Đại Niệm Xứ, vẫn chưa thể gọi là đủ, nếu một hành giả bằng Tuệ Minh Sát quán chiếu sự vận hành của năm Nhân của khổ là vô minh, tham ái, thủ, hành và nghiệp và các quả của nó trên ngũ uẩn này. Điều cần thiết là hành giả phải phân biệt và khám phá ra như thế nào A-la-hán Tuệ Đạo diệt tận gốc rễ, không còn dư sót năm nhân của Tập Đế là: Vô Minh, Tham Ái, Thủ, Hành, Nghiệp. Họ cũng hiểu được quả tương ứng sẽ ra sao khi ngũ uẩn bị diệt tận sau Vô Dư Niết-bàn. Đây là tính chất Vô Sanh (anuppāda).

Trong kinh Ngoại Đạo Xứ (Titthāyatana Sutta A.1.178), Đức Phật dạy rằng ngay sau khi nhân tái sanh bị tận diệt không còn dư sót, do tính chất vô sanh (không còn sanh trở lại nữa), thì quả cũng bị tận diệt không còn dư sót, không còn tái sanh. Chính bằng cách này mà Diệt Khổ Thánh Đế đã được quán chiếu bằng Tuệ Vipassanā Hiệp thế. Chú giải và Đại Sớ Giải của Thanh Tịnh Đạo cũng giải thích như vậy.

Trong chú giải của Thanh Tịnh Đạo còn giải thích thêm rằng Đạo Đế xuất hiện khi sự sanh diệt (udayabbaya) của các hành được quán chiếu bằng Tuệ Vipassanā là Thánh Đạo Hiệp Thế.

Điều cần thiết đối với các hành giả là đầu tiên, họ phải nhận thức thấu đáo bằng Tuệ Minh Sát Hiệp Thế, để sau đó có thể đạt được Tuệ Đạo A-la-hán (thuộc Đạo Đế Siêu Thế), nhờ đó chứng ngộ được trạng thái vô vi Niết-bàn.

Nếu Tuệ Minh Sát Hiệp Thế kể trên đã phần nào được phát triển trong các kiếp thuộc Giáo Pháp của các Đức Phật quá khứ hoặc trong các kiếp quá khứ thuộc Giáo Pháp Đức Phật hiện tại thì Tuệ Minh Sát ấy được gọi là Pubbayoga – Nỗ Lực Tiền Căn. Sự tu tập này cũng được gọi là Đại Thiện Nguyện. Chú giải kinh Bổn Sự (Apadāna) (ApA. 1.158) có giải thích là cần thành tựu hai điều là phát Đại Thiện Nguyện và luôn duy trì tâm khao khát mãnh liệt chứng ngộ Niết-bàn là để phát triển các Ba-la-mật cần thiết cho Trí Tuệ Giác Ngộ.

Tuy nhiên, trong phần giới thiệu về các phẩm chất của Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa) trong chú giải kinh Xiển Minh Ba-la-mật của Ngài Thiền sư Ledi Sayadaw, Ngài có dạy rằng trong Ba-la-mật Đại Thiện Nguyện của một bậc Thanh Văn có cả hai yếu tố là (1) hạt giống Minh (Vijjā) và (2) hạt giống Hạnh(Caraṇa).

Hạt giống Minh (Vijjā) và Hạnh (Caraṇa)

Tattha vijjāsampadā bhagavato sabbaññutaṃ pūretvā ṭhitā. Caraṇasampadā mahākāruṇikataṃ. So sabbaññutāya sabbasattānaṃ atthānatthaṃ ñatvā mahākāruṇikatāya anatthaṃ parivajjetvā atthe niyojeti. Yathā taṃ vijjācaraṇasampanno. Tenassa sāvakā suppaṭipannā honti, no duppaṭipannā vijjācaraṇavipannānaṃ sāvakā attantapādayo viya. (VsM.1.197)

Tattha yathā saṅkhārā hetunibbattā, evaṃ avijjāpi kāmāsavādinā sahetukā evāti āha ‘‘ubhopete hetusamuppannā’’ti. Paccayapariggaheti nāmarūpassa paccayānaṃ avijjādīnaṃ paricchijja gahaṇe, nipphādetabbe bhummaṃ. Paññāti kaṅkhāvitaraṇavisuddhisaṅkhātā pakārato jānanā. Dhammaṭṭhitiñāṇanti paṭiccasamuppādāvabodho. Idañca dhammaṭṭhitiñāṇaṃ yasmā addhāttaye kaṅkhāmalavitaraṇavasena pavattati, tasmā ‘‘atītampi addhāna’’ntiādi vuttaṃ (VsMT.1.223)

Câu Pāli trên trong chú giải và phụ chú giải có ngụ ý:

“Đức Phật đã viên mãn tám Thắng Trí tức là tám Minh (vijjā), cũng như mười lăm Hạnh Pháp. Trong hai yếu tố trên, viên mãn về hạt giống Minh (vijjā) giúp Đức Phật thành tựu Trí Tuệ của một bậc Chánh Đẳng Giác. Hạt giống Hạnh (caraṇa) làm hoàn thiện lòng Đại Bi (mahākaruṇā ) của Đức Phật”

“Nhờ có Toàn Giác Trí mà Đức Phật biết được tất cả những điều lợi lạc cho chúng sinh, cũng như biết tất cả những điều không mang lại ích lợi. Với lòng Đại Bi (mahākaruṇā), Ngài đã dạy chúng sanh hãy làm tất cả những điều có lợi và tránh xa những điều bất lợi cho chúng sanh.”

“Đức Phật Gotama cũng giống như những Đức Phật trước trong quá khứ, đều viên mãn cả Minh lẫn Hạnh và đều dạy chúng sinh làm lành, tránh ác.”

“Các Thánh Đệ Tử của Đức Phật đã thực hành miên mật theo đúng chỉ dẫn của Ngài để hành theo những điều lợi lạc, tránh xa những điều vô ích, thành tựu viên mãn những giới đức của Minh (vijjā) vàHạnh (caraṇa). Họ hoàn toàn bước trên con đường Chánh Hạnh (suppaṭipanna).”

Các Thánh Đệ Tử của Đức Phật Chánh Đẳng Giác đã thực hành miên mật để thành tựu các giới đức của Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa) và họ hoàn toàn bước trên con đường Chánh Hạnh (suppaṭipanna). Con đường này hoàn toàn không giống chút nào với lối tu khổ hạnh tự hành xác của các đệ tử ngoại đạo, những người hoàn toàn thiếu các giới đức của Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa), vì họ đang đi trên con đường Tà Hạnh (duppaṭipanna) (VsM. 1.197).

Chú giải đã giải thích như trên để cho thấy viên mãn Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa) là phương cách rõ ràng để thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử (VsMT 1.233)

Ba Minh (Vijjās) Và Năm Minh (Vijjās)

Trong kinh “Sợ hãi và Khiếp đảm” (Bhayabherava Sutta) có giải thích Tam Minh (vijjās) là: Túc Mạng Minh (Pubbenivāsānussati), Thiên Nhãn Minh (Dibbacakkhu) và Lậu Tận Minh (Āsavakhaya) (M. 1.26).

Trong kinh A-ma-trú (Ambaṭṭha Sutta) (D.1.94) khai triển chi tiết tam Minh thành bát Minh như sau:

(1) Minh Sát Minh: Trí Tuệ biết về Khổ Thánh Đế chính là Chấp Thủ Ngũ Uẩn đưa đến tái sanh (upādānakkhandā) là Tuệ Minh Sát biết rõ về các bản chất Vô thường, Khổ, Vô ngã của Vô Minh, Ái, Thủ, Hành, Nghiệp (Tập Thánh Đế), của Danh và Sắc và Nguồn Gốc của Khổ Thánh Đế.

(2) Ý Hóa Minh (Manomayiddhi): là năng lực thần thông biến một thân hóa hiện thành nhiều thân hoặc ngược lại.

(3) Biến Hóa Minh (Idhividha): là năng lực thần thông giúp bay lên được trên không hay độn thổ.

(4) Thiên Nhĩ Minh (Dibbasota): năng lực trí tuệ giúp nghe được xa gần tùy ý.

(5) Tha Tâm Minh (Cetopariya): trí tuệ đọc được tâm người khác.

(6) Túc Mạng Minh (Pubbenivāsānussati): trí tuệ biết về kiếp quá khứ của một người

(7) Thiên Nhãn Minh (Dibbacakkhu): là Trí Tuệ nhìn được bất cứ vật hay người nào, bất cứ nơi nào gần xa khi muốn

(8) Lậu Tận Minh (Āsavakhaya): Tuệ Đạo của một bậc A-la-hán (A-la-hán Thánh Đạo Tuệ) giúp tận diệt được tất cả những ô nhiễm, nhờ liễu ngộ được Sự Thật Tột Cùng của Tứ Thánh Đế.

Trong bát Minh, Lậu Tận Minh (Āsavakhaya) hay là Thánh Đạo Tuệ (Ariyamagga) là nhân thứ nhất trong năm nhân giúp thanh tịnh hoá Tứ Tuệ Phân Tích (Paṭisambhidāñāna) giúp cho thành tựu được Đạo và Quả. Trí tuệ đầu tiên của bát Minh (vijjā), Minh Sát Minh là sự thực hành nỗ lực tiền căn (pubbayoga) của các kiếp quá khứ. Tuệ này là một yếu tố vô cùng quan trọng trong Đại Thiện Nguyện.

Mười Lăm Hạnh Pháp

Trong Kinh Hữu học (Sekkha Sutta) (M.2.17-19) thuộc Trung Bộ Kinh có nói về mười lăm Hạnh pháp như sau:

(1) Giữ Giới trong sạch (sīlasaṃvara)

(2) Thu Thúc Lục Căn (Indriyesu guttadvāratā): Chánh Niệm luôn giữ tâm trên các đối tượng của Thiền Chỉ – Thiền Quán để phòng hộ các ô nhiễm có thể khởi sanh, khi sáu Căn (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý) tiếp xúc sáu Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp)

(3) Tiết độ ăn uống (Bhojannemattaññutā): thực hành tiết chế, vừa đủ trong việc ăn uống.

(4) Tỉnh thức (Jāgariyānuyoga): Tu hành siêng năng và miên mật; ngủ ít và dành nhiều thời gian để học và hành Pháp.

(5) (5) – (11) (Satta saddhamma): bảy phẩm hạnh của người có đức hạnh

(6) (12) – (15) (Rūpāvacara jhānas): Bốn tầng thiền sắc giới từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.

Bảy Phẩm Hạnh Của Người Có Đức Hạnh

(7)  Tín (saddhā): có đức tin vào Tam Bảo, vào Nghiệp và Quả của Nghiệp

(8)  Tàm (Hirī): cảm thấy hổ thẹn đối với tội lỗi hay điều bất thiện.

(9)  Quí (Ottapa): ghê sợ hậu quả tội lỗi và những điều bất thiện.

(10) Đa văn (Bahussuta): ham học và có nhiều kiến thức.

(11) Tinh Tấn (Āraddhavīriya): Nỗ lực hết sức mình trong việc loại bỏ bất thiện pháp đã sanh, ngăn ngừa bất thiện pháp chưa sạch, khơi dậy các thiện pháp chưa sanh và tăng trưởng các thiện pháp đã sanh bằng cách chuyên cần thực hành thiền Chỉ – Quán (Samatha-Vipassanā)

(12) Chánh niệm (Satimā): Luôn rất cẩn thận và thận trọng trong thân, khẩu, ý

(13) Trí Tuệ (Paññā): hoàn thiện Tuệ Minh Sát để hiểu thấu đáo về Vô thường, Khổ, Vô ngã của Khổ Thánh Đế và Khổ Tập Thánh Đế.

– Trong bảy Pháp Hạnh của người có đức hạnh kể trên, kinh Hữu Học Sekha Sutta (M.2.18-19) có giải thích về Đa Văn (Bahussuta) như sau:

Tính chất Đa Văn Bahussuta

Về Tính chất Đa Văn (Bahussuta) là ham học và có nhiều kiến thức, Đức Phật nói:

Bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo. Ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthā sabyañjanā kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ abhivadanti tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā. (M.219)

Diṭṭhiyā suppaṭividdhāti atthato ca kāraṇato ca paññāya suppaṭividdhā. (MA.2.154)

Diṭṭhiyā suppaṭividdhāti atthato ca kāraṇato ca paññāya suṭṭhu paṭividdhā paccakkhaṃ katā.(AA.2.364)

Giải Thích

–  Giáo Pháp của Đức Thế Tôn rõ ràng, minh bạch ở đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối và hoàn toàn được khéo thuyết giảng để có thể hiểu đầy đủ cả về ngữ và nghĩa. Giáo Pháp đã giảng dạy chi tiết và hoàn hảo về con đường tu tập, phạm hạnh thanh tịnh và các đệ tử của Ngài thuộc lòng những lời dạy này. Các đệ tử được nghe thuyết giảng, học Giáo Pháp kinh điển trực tiếp từ chính vị Đạo sư của mình và bản thân mình chứng nghiệm điều đó. Theo chú giải của Trung Bộ Kinh và Tăng Chi Bộ Kinh, Khổ Thánh Đế – tức Chấp Thủ Ngũ Uẩn được gọi là quả và Tập Thánh Đế được gọi là nhân (kāraṇa). Hai Đế này được quán chiếu rất nhiều lần, lặp đi lặp lại. Với Chánh Kiến (sammadiṭṭhi) thấu suốt, trí tuệ được chứng nghiệm bởi mỗi cá nhân. Sự chứng ngộ cá nhân theo cách này đã được gọi là Tuệ Chứng Ngộ (adhigamasuta). Và các đệ tử của Phật đều có Trí Tuệ này.

Về thuật ngữ “Đa Văn” (Bahussuta) ở đây đặc biệt ám chỉ đến sự hiểu biết sâu sắc sự thực về Danh và Sắc Chân Đế nhờ Danh Sắc Phân Định Trí (nāma rūpa pariccheda ñāṇa). Sự hiểu biết rõ về nguyên nhân sanh khởi ra Danh và Sắc nhờ Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (Duyên Xác Định Trí (paccaya pariggaha ñāṇa)). Chỉ khi nào hành giả có khả năng hiểu về Khổ Thánh Đế và Tập Thánh Đế với Chánh Kiến mới thành tựu được “Đa Văn” (Bahussuta)

Chú giải Năm Mươi Kinh Giữa của Trung Bộ nói về đối tượng của Chánh niệm như sau:

Iti ime rūpārūpadhammā evaṃ uppajjitvā evaṃ niruddhā’’ti sarati ceva anussarati ca, satisambojjhaṅgaṃ samuṭṭhāpetīti attho. (MA. 3.21)

“Chánh Niệm trong bảy Hạnh Pháp của người đức hạnh được sinh ra do (và cùng với) Danh Sắc thì nó cũng diệt bởi (và cùng với) Danh Sắc”. Vậy đối tượng của Chánh niệm chính là Danh và Sắc này, và đây là cách giải thích về đối tượng của Chánh niệm.

Bảy phẩm Hạnh của người đức hạnh này cũng bao gồm cả Tuệ Minh Sát. Tuệ Vipassanā xuyên thấu được bản chất Vô thường, Khổ, Vô ngã của các hành chính là ngũ thủ uẩn (Khổ Thánh Đế) cùng với Tập Thánh Đế, tất cả điều này đều được bao gồm trong đặc tính Đa Văn (Bahussuta). Chú giảiMajjhimapaṇṇāsa (MA. 3.22) có giải thích thêm rằng loại Trí Tuệ sâu sắc này không chỉ ở Tuệ Vipassanā mà còn ở Tuệ Đạo A-la-hán. Trong quá trình thanh tịnh hóa Tứ Tuệ Phân Tích (Paṭisambhidāñāna), tuệ Vipassanā nằm trong nhân là Nỗ Lực Tiền Căn (Pubbayoga) và Tuệ Đạo A-la-hán có trong nhân tố Chứng ngộ (Adhigama).

Mục đích của sự giảng nghĩa này cho thấy rằng trong phạm vi Ba-la-mật, Tuệ Minh Sát Vipassanā là một trong các Hạnh Pháp. Cho nên cũng cần nhớ rằng Tuệ Minh Sát có trong cả mười lăm Hạnh Pháp lẫn trong tám Minh.

Minh (Vijjā) và Hạnh (Caraṇa)

Các Hạnh Pháp (Caraṇa) được phát triển với mục đích và tác ý là chứng ngộ Niết-bàn, giống như đôi tay và chân vậy. Giống như một người có đầy đủ tay chân sẽ có thể đi bất cứ đâu hay lấy được bất cứ thứ gì anh ta muốn. Các Hạnh Pháp (Caraṇa) cần được phát triển cho đến khi chứng ngộ Niết-bàn. Nó giúp cho một người có cơ hội gặp được Đức Phật hoặc các vị Thánh nhân khác, người có thể giảng dạy cách tu tập của bậc Thánh; hoặc gặp được những vị thầy, bạn bè, người lớn tuổi hoặc cha mẹ có giới đức.

Nhờ cơ hội gặp gỡ các vị Phật hoặc những bậc Thánh để được thuyết giảng về Tứ Thánh Đế, những hạt giống Minh này (có thể gọi là Ba-la-mật) chính là “Nhân Dẫn Xuất” đưa tới Tuệ Giác Ngộ Tối Thượng. Chính hạt giống của Minh này làm một người có khả năng đạt được Trí Tuệ liễu ngộ Tứ Thánh Đế.

Ngài Ledi Sayadaw giải thích là thậm chí dù là hạt giống của Minh có thể đã được gieo trồng và phát triển, nhưng nếu hạt giống Hạnh chưa được phát triển thì Đạo – Quả – Niết-bàn không thể đạt được. Có thể lấy ví dụ về con trai của nhà Đại Phú Mahādhāna và vợ của anh ta (được đề cập trong Chú Giải Kinh Pháp Cú (DhPA.2.81)) để minh chứng điều này. Tương tự vậy thí dụ của Du sĩ Saccaka trong Tiểu Kinh (M. 1.289-299) và Đại Kinh Saccaka (M. 1.299-317), Đạo – Quả – Niết-bàn cũng không thể đạt tới nếu chỉ có Hạnh (Caraṇa) mà không có Minh (Vijjā).

Nếu con của nhà triệu phú Mahādhāna và vợ ông ta nhận thức được ý nghĩa cấp bách trong độ tuổi thanh niên và bước vào con đường tu tập có hệ thống tuần tự thì người chồng có thể đắc tới quả vị A-la-hán và người vợ có thể đắc tới quả vị A-na-hàm (Anāgāmi) (Bất Lai). Nếu họ bắt đầu tu tập trong thời kỳ trung niên thì người chồng có thể đắc A-na-hàm (Anāgāmi) và người vợ đắc được Tư-đà-hàm (Sakadāgāmi)(tức Nhất Lai). Nếu họ bắt đầu tu tập trong thời kỳ lão niên thì người chồng có thể đắc quả Nhất Lai(Sakadāgāmī) và người vợ đắc quả Dự Lưu (Sotāpanna). Họ đã phát trển hạt giống Minh (Vijjā), nhưng lại thiếu hạt giống Hạnh (Caraṇa), vì thế khi có cơ hội gặp Đức Phật thì họ lại quá già yếu, lúc mà đã quá trễ để có thể thấm nhuần và tu tập Giáo Pháp của Đức Như Lai về Tứ Thánh Đế. Vì lý do này mà Đức Phật không thuyết Pháp cho họ nghe. Họ đã bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng trong thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật Thích Ca, vì chỉ có hạt giống Minh được phát triển, còn hạt giống Hạnh thì không.

Đối với trường hợp Du sĩ Saccaka, hạt giống Hạnh (Caraṇa) đã được phát triển và ông cũng có cơ hội để nghe thuyết giảng về Tứ Thánh Đế trực tiếp từ Đức Phật. Tuy nhiên, do thiếu phát triển hạt giống Minh nên mặc dầu gặp được Đức Phật để nghe giảng về tính chất Vô ngã của ngũ uẩn, nhưng Du sĩ khăng khăng là ngũ uẩn có ngã. Vị ấy đã không thể tiếp thu Giáo Pháp. Tuy nhiên, để có thể truyền đạt và thấm nhuần hạt giống Minh liên tục vào trong tâm của Du sĩ Saccaka, Đức Phật phải giảng rộng thêm ra cho vị ấy nghe trong hai bài Tiểu Kinh Saccaka (M. 1.289-299) và Đại Kinh Saccaka (M. 1.299-317). Nhưng du sĩ đã không thể giải thoát khỏi vòng luân hồi ngay lúc đó, thậm chí vị ấy không chịu quy y Tam Bảo. Tuy nhiên, sau khi có cơ hội nghe Pháp từ Đức Phật, từ sâu thẳm trong tâm, vị ấy đã chấp nhận ngũ uẩn thực sự là Vô ngã. Nhưng do sự có mặt của các hoàng tử xứ Lichavi nên du sĩ đã không thú nhận sự đồng ý ra lời của mình. Chính nhờ chấp nhận tính Vô ngã của ngũ uẩn trong tâm mà vị ấy làm viên mãn ba-la-mật của mình về hạt giống Minh, giúp vị đó thành tựu Đạo – Quả – Niết-bàn (MA.2.114. MA.2.194) trong kiếp sau.

Khoảng hai trăm đến ba trăm năm sau khi Đức Phật Đại bát Niết-bàn (Parinibbāna) vào thời kỳ đầu khi Giáo Pháp có tại Ceylon, du sĩ Siccaka đã học thuộc lòng Tam Tạng (Tipitaka), thực hành thành công thiền Vipassanā và được biết đến với danh hiệu Mahākāḷabudharakhita, chứng đắc quả vị A-la-hán với Tứ Tuệ Phân Tích (Paṭisambhidāñāṇa).

Hai ứng dụng của Tuệ Vipassanā

Như chúng ta đã thấy Tuệ Vipassanā có trong cả hai hạt giống Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa). Trong Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga) (PsM. 60) có nói là nếu một hành giả còn dính mắc vào các Tuệ Vipassanā, thậm chí ngay cả trường hợp dính mắc Tuệ Hành xả (Saṅkhārupekkhā-Ñāṇa), thì chính Tuệ Hành xả (Saṅkhārupekkhā-Ñāṇa) này sẽ cho quả tái sanh kiếp sau. Chú giải từ Vô Ngại Giải Đạo(Paṭisambhidāmagga) có giải thích là:

Vì trong lộ trình tâm của Tuệ Hành xả vẫn còn tâm sở đồng sanh Sở Hữu Tư (Cetanā) tức vẫn còn tạo tác Nghiệp. Do tác động của Nghiệp lực (tức Sở Hữu Tư) rất mạnh mẽ, đã cho quả tái sinh trong cõi dục giới. Lúc đó ô nhiễm của tâm tham – tức là sự dính mắc vào Tứ Tuệ Phân tích, đóng vai trò hỗ trợ và trở thành nguyên nhân cho sự tái sanh trong cõi dục giới ở kiếp sống kế tiếp. Vì vậy, sự tạo Nghiệp của Sở Hữu Tư trong Tuệ Hành xả (Sankhārupekkhā-Ñāṇa), chính là nguyên nhân trực tiếp cho ra Quả của Nghiệp (vipāka).

Trong trường hợp những hành giả nào chưa đắc các tầng Thiền, thì ô nhiễm của tâm Tham, giống như ví dụ trên, chính là nhân gần cho ra Quả là sự tái sanh trong cõi dục. Trong trường hợp một vị Thánh nhập lưu, vị Thánh Nhất Lai và vị Thánh Bất Lai đã đắc Thiền, kiếp tái sanh tới của họ là ở cõi Phạm Thiên và do đó, Nghiệp Quả của ô nhiễm tham này bị vô hiệu hoá. Cần lưu ý rằng sự tạo Nghiệp của Sở Hữu Tư (trong Tuệ Thuận Thứ và Tuệ Chuyển Tánh) là nhân để cho Quả tái sanh trong kiếp tới, do có sự hỗ trợ của ô nhiễm Tham.

Như được đề cập trong Chú giải và Bản Pāli, cần hiểu rằng khi Tuệ Vipassanā cho quả tái sanh thì Tuệ Vipassanā đó có hạt giống của cả Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa). Còn nếu Tuệ Vipassanā không cho quả tái sanh, lúc đó, nó chỉ có hạt giống Minh (vijjā) mà không có hạt giống Hạnh (caraṇa).

Các đạo sĩ ngoại đạo không thể chứng ngộ Đạo – Quả – Niết-bàn là do họ thiếu các ba-la-mật – là hạt giống của Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa). Do đó, chính hạt giống Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa) là Pháp Nguyện, dẫn đến Tuệ Giác Ngộ Giải Thoát đã mong ước. Những Pháp ba-la-mật này được gọi là Đại Thiện nguyện và các Pháp này cần phải được phát triển đến viên mãn – nếu các đệ tử muốn chứng ngộ Niết-bàn. Trong quá trình nỗ lực đạt được mục đích ấy, chắc chắn cần phải luôn duy trì một ý chí, khát vọng cực kỳ mãnh liệt, để làm viên mãn Thiện Nguyện trên. Vì vậy rõ ràng cần phải có hai điều kiện là:

1. Phát Đại Thiện Nguyện (Adhikāra) để đạt tới Tuệ Giác ngộ Giải thoát.

2. Luôn nuôi dưỡng một ý chí, khao khát cực kỳ mạnh mẽ nhằm thành tựu Thiện Nguyện trên (ApA.1.158).

Nói cách khác để gieo trồng và phát triển hạt giống Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa), trên thực tế chính là phải phát triển, tích lũy và thực hành viên mãn Bát Chánh Đạo. Để thành tựu điều này, cần phải tu tập hành trì ngay từ các kiếp quá khứ – thuộc thời kỳ Giáo Pháp của các Đức Phật quá khứ, hoặc trong các kiếp quá khứ – thuộc thời kỳ Giáo Pháp Đức Phật hiện tại, giống như trường hợp Du sĩ Saccaka đã phát triển các Ba-la-mật của mình. Tiếp tục ngay trong thời kỳ Giáo Pháp Đức Phật hiện tại, cũng cần thiết phải tiếp tục thực hành Bát Chánh Đạo – bằng cách tu tập phát triển Tam vô lậu học là Giới- Định – Tuệ – cho đến lúc chứng đắc Đạo và Quả. Thời gian cần thiết để thành tựu các ba-la-mật là:

1. Đối với một vị Thượng thủ Thanh Văn: suốt một a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp

2. Đối với một vị Đại Thanh Văn: trong suốt một trăm ngàn đại kiếp

3. Đối với một vị Thường Thanh Văn: không có một thời hạn nhất định cho đến lúc viên mãn các ba-la-mật.

Ngài Ledi Sayadaw cũng dạy rằng qua kinh nghiệm thành tựu của Du sĩ Saccaka cũng như các vị thánh Đệ tử khác, các ba-la-mật đầy đủ Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa), cần thiết để thành tựu Đạo – Quả – Niết-bàn có thể được làm viên mãn chỉ trong vài kiếp.

1. Vậy điều kiện lý tưởng thứ nhất cần có trong kiếp sống này để đạt được Đạo – Quả – Niết-bàn là phải thành tựu được hạt giống Minh Sát Minh, để có thể hiểu thấu suốt Khổ đế và Tập đế, dưới ánh sáng của tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã. Đây chính là quả của các ba-la-mật đã được gieo trồng từ nhiều đời kiếp trong quá khứ.

2. Điều kiện lý tưởng thứ nhì là phải đạt được hạt giống Minh (vijjā) là Danh sắc Phân định Trí và Duyên xác định Trí.

3. Điều kiện lý tướng thứ ba là có được Danh sắc Phân định Trí.

Và giờ đây, việc phấn đấu đạt Đạo – Quả – Niết-bàn nhờ tu tập Bát Chánh Đạo được hiểu là phải thực hành đúng theo những gì các bậc Thánh đã làm. Bằng cách đó, nếu một người tu tập với Nguyện lực và khao khát mãnh liệt nhất để đạt tới Đạo – Quả – Niết-bàn – thì chính là họ đang nỗ lực tinh tấn, xứng đáng để trở thành một người Thừa Tự Pháp.

Một Trích Đoạn Trong Kinh Hữu Học.

– Trong tám Minh (vijjā) và mười lăm Hạnh (caraṇa), điều giải thích ở trên đã nhấn mạnh về tầm quan trọng Tuệ Vipassanā. Để một bậc Thường Thanh Văn có thể đạt được Đạo- Quả – Niết-bàn thì điều kiện tiên quyết trong tám Minh (vijjā) là phải có các Tuệ Vipassanā. Nếu như vị đó có cả các Minh khác thì càng tốt, nhưng nếu trường hợp không có các Minh khác thì cũng không có vấn đề gì cho một bậc Thường Thanh Văn để chứng ngộ được Đạo – Quả – Niết-bàn. Một đoạn trích từ Kinh Hữu Học trong Kinh Trung Bộ đã xác nhận điều trên (M. 2.19-20) và nói rằng các Thánh Đệ tử Phật là những người:

1. Viên mãn về Giới.

2. Luôn luôn thu thúc lục căn.

3. Thực hành tiết độ trong ăn uống.

4. Luôn tỉnh thức, miên mật tu tập, ngủ ít và dành nhiều thời gian cho Giáo Pháp.

5-11: Viên mãn bảy Hạnh Pháp của một người có đức hạnh.

12-15: Có khả năng đắc bốn tầng thiền sắc giới là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền dễ dàng và bất cứ lúc nào muốn

Vì các bậc Thánh Đệ tử đã thành tựu mười lăm Hạnh Pháp (caraṇa), có thể nói họ đã tròn đầy Phạm Hạnh của một bậc Thánh Hữu học đang trên con đường tiến tới giải thoát viên mãn. Giống như một quả trứng không thể bị hư hoại, Tuệ Vipassanā không thể bị ô nhiễm, vì vậy nó có thể đâm thủng màn vô minh (avijjā), có khả năng liễu ngộ Tứ Thánh Đế, và do đó xứng đáng đạt tới trạng thái vô song của quả vị A-la-hán, của Niết-bàn tối thượng (M. 2.19-20).

Hai Câu Hỏi

i. Bài kinh trên được thuyết giảng vì sự lợi lạc của dòng dõi hoàng tộc Thích Ca đứng đầu là hoàng tử Mahānāma. Nó được thuyết bởi Tôn giả Ānanda khi Ngài đã đắc Quả Thánh Dự Lưu và đang trên con đường tiến tới giải thoát viên mãn. Ngài đã có được Trí Tuệ và kinh nghiệm thực chứng của một bậc Thánh Hữu học (sekha). Cho nên bài Pháp của Ngài không thể bị coi nhẹ, tuy bài Pháp này đã không trực tiếp được Đức Phật thuyết giảng. Đây là bài kinh mà chính Đức Phật đã xác nhận ở cuối bài kinh bằng cách thốt lên câu “Sādhu”, và với những câu khen ngợi sau:

“Sādhu sādhu Ānanda, sādhu kho tvaṃ Ānanda Kapilavatthāvanaṃ sakyānaṃ sekhaṃ paṭipadaṃ akāsi”

Có nghĩa là:

“Lành thay, lành thay Ānanda! Thật lành thay, này Ānanda. Con đã thuyết giảng rất hay cho các hoàng tử và công chúa của xứ Kapilavathu về Giới Hạnh và cách hành trì cần thiết, để trở thành một bậc Hữu học, một người đang trên con đường tiến tới giải thoát viên mãn.”

ii. Có một câu hỏi khác là tại sao nói rằng chỉ cần thành tựu Tuệ Vipassanā đã là viên mãn mười lăm Hạnh Pháp? Cần hiểu rằng Tuệ Vipassanā có trong bảy phẩm hạnh của người có giới hạnh, mà bảy phẩm hạnh này cũng nằm trong mười lăm Hạnh (caraṇa). Vì vậy, năng lực thực hành và thành tựu viên mãn mười lăm Hạnh (caraṇa) cùng với Tuệ Vipassanā, có thể giúp trở thành một bậc “Hữu học” (sekha),người đang trên con đường tiến tới giải thoát viên mãn.

Tu Tập Hạnh Bố Thí (Dāna)

– Trong quá trình các bậc Thanh Văn phát triển và thành tựu viên mãn các ba-la-mật, vượt qua được bờ bên kia của sinh tử là Niết-bàn, họ cũng đã phát triển ba-la-mật bố thí, một trong mười lăm hạt giống Hạnh (caraṇa) dẫn đến việc trở thành một bậc Hữu học (sekha). Đến đây là đủ đối với việc giải thích về các ba-la-mật. Chúng ta sẽ tiếp tục những giải thích trong chú giải về bài kinh Thừa Tự Pháp.

Phần Cuối Của Kinh Thừa Tự Pháp

Năng Lực Của Bố Thí Ba-la-mật.

Các Đệ tử của Đức Phật đã gieo trồng, phát triển hạt giống Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa) trong các kiếp quá khứ. Do năng lực Ba-la-mật Bố thí có trong Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa), họ đã tràn ngập tài vật cúng dường.

Và khi vô số các tài vật được cúng dường đến Đức Phật cũng như đến toàn thể Tăng đoàn cùng lúc như mưa đổ xuống nhiều không kể xiết. Các Tỳ-kheo dần trở nên quá chú tâm đến tứ vật dụng. Họ bắt đầu nỗ lực tích trữ ngày một nhiều hơn. Sau buổi trưa và suốt buổi tối, khi thí chủ đến cúng dường mật ong, kẹo đường và các tứ sự khác, các vị Tỳ-kheo này đã đánh cồng và la lớn “Xin hãy cúng dường đến thầy tế độ của chúng tôi Xin hãy cúng dường đến thầy giáo thọ của chúng tôi” và những việc thế này đã diễn ra ngay cả lúc có mặt Đức Thế Tôn. Và do đó, với ý nghĩ là “Những hành xử này hoàn toàn không thích hợp và không đúng đắn chút nào trong Giáo Pháp” cho nên Đức Phật đã cân nhắc:

“Nếu tuyên bố rằng ‘Các vật dụng là hoàn toàn không có lợi cho với các Tỳ-kheo’, thì điều không đúng, thay vào đó Đức Phật đã đặt ra Giới luật trong trường hợp nào được cho phép chấp nhận hoặc cấm nhận tài vật. Đối với những Cận sự nam/Cận sự nữ, hàng cư sĩ, tứ vật dụng là điều cần thiết cho họ nỗ lực thực hành con đường thánh thiện như các Tỳ-kheo. Không sống nhờ vào tứ vật dụng, không thề thực hành đúng theo Giới đức cần có ở một vị Tỳ-kheo. Vì thế, Ta, Đức Thế Tôn sẽ thuyết giảng một bài Pháp về phương cách hành xử đúng đắn (những Pháp thuộc Siêu thế) để có thể trở thành những người Thừa tự Pháp. Đối với những người có phẩm hạnh đang ước nguyện hành trì miên mật theo con đường Tam vô lậu học (Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā)), bài Pháp này đóng vai trò giống như một chiếc gương soi rọi toàn thân, được đặt ở ngay cổng vào thành phố nhờ đó mà những Cận sự nam, Cận sự nữ, Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni có thể phát hiện ra những lỗi lầm và thiếu sót của mình được phản chiếu trong đó. Do đó, họ sẽ tắm rửa sạch sẽ và tô điểm mình bằng thứ trang sức của Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā), được thực hành tinh tấn và miên mật. Điều này luôn quán chiếu trong tâm, những người có phẩm hạnh sẽ có thể tránh không trở thành kẻ thừa tự tài vật, mà trở thành người thừa tự chín Pháp Siêu thế; do đó, họ sẽ có khả năng rút ngắn tiến trình khổ đau của sinh, già, bệnh, chết trong những kiếp sống tới.”. Đó là điều Đức Thế Tôn đã cân nhắc.

Vì lý do và bối cảnh trên mà Ngài đã thuyết bài kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta). Chúng ta hãy cùng xem bài kinh này:

Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) (M.1.15-19)

“Một thời, Đức Thế Tôn ở Xá-vệ (Savatthi), tại Kỳ-đà Lâm (Jetavana), vườn ông Cấp-cô-độc (Anāthapiṇḍika). Khi tại chỗ ấy Thế Tôn triệu tập các vị Tỳ-kheo và thuyết”

“Này các Tỳ-kheo, hãy là những kẻ Thừa tự Pháp của ta, chứ đừng là những kẻ thừa tự tài vật”.

Chú Giải Giải Thích

– Ở đây đối với Pháp, có hai loại: Pháp Bất biến (Nippariyāya dhamma) tức Pháp không còn phân biệt, đối đãi, so sánh và Pháp biến đổi (Pariyāya dhamma). Và tương tự đối với tài vật (āmisa) cũng có hai loại.

– Pháp bất biến (Nippariyāya dhamma) là chín Pháp Siêu Thế gồm bốn Đạo, bốn Quả và Niết-bàn là Pháp Chân Đế. Những Pháp này không còn sự phân biệt, đối đãi, so sánh.

– Tương tự, việc tu tập Bố thí, Giới, thiền Chỉ và Quán và các Pháp thiện khác để giải thoát luân hồi sanh tử sẽ dẫn các Tỳ-kheo đến trạng thái bất tử của Niết-bàn thuộc về Pháp biến đổi (Pariyāya dhamma).

Đức Phật khuyến khích các Tỳ-kheo hành trì với ước nguyện là Thừa tự của cả hai loại Pháp này.

* Tứ vật dụng thuộc Tài vật bất biến (Nippariyāya āmisa) vì không còn nghi ngờ gì nữa nó là thiết yếu.

* Cũng vậy tu tập Bố thí, Trì Giới, Tham Thiền và các thiện pháp khác nhằm được tái sanh trong cõi người, cõi Chư Thiên hay Phạm Thiên, tất cả những cõi này vẫn còn trong vòng luân hồi cho nên nó vẫn thuộc về Tài vật biến đổi (Pariyāya āmisa).

– Về mặt tài vật, Đức Phật khuyến khích rằng các Tỳ-kheo không nên thừa tự cả hai loại tài vật này. (MA. 1.92)

– Về mặt Pháp, Đức Phật, sở hữu cả hai loại là Pháp bất biến (Nippariyāya dhamma) và Pháp biến đổi(Pariyāya dhamma). Nó chỉ thực sự đúng theo những lời dạy, hướng dẫn và giáo huấn của Đức Phật – khi mà các đệ tử được ban cho cơ hội duy nhất để học theo cách tu tập của các bậc Thánh, dẫn đến Đạo – Quả – Niết-bàn. Cũng chính vì họ đã thực hành như vậy mà họ đã chứng ngộ Đạo – Quả – Niết-bàn.

Đại Đức Ānanda có lần nói với Bà La Môn Gaṇaka Mogallāna:

“Này Bà La Môn, sự thực là từ lúc kết thúc thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật Ca-diếp cho tới lúc có Giáo Pháp của Đức Phật Gotama, không có bất cứ vị đệ tử nào có thể thấy và biết rõ con đường dẫn tới Niết-bàn”. Cho nên Đức Phật thuyết giảng để chỉ cho đệ tử thấy cách hành trì cao thượng đạt tới Niết-bàn. Cho nên, họ đã đi đến chỗ chứng ngộ các Pháp thuộc Thánh Đạo và trở nên thuần thục, có Trí Tuệ trong việc thực hành miên mật các Pháp này. Hiện tại bây giờ, trong thời kỳ Giáo Pháp hiện tại, có những người đã thực hành miên mật đúng theo lời dạy này và đã thành tựu viên mãn các Pháp thuộc Thánh Đạo (Pháp Siêu Thế).

Cũng vậy trong bài kinh Mật Hoàn (Madupiṇḍika Sutta (M. 1.157)), Trưởng lão Đại-ca-chiên-diên đã dạy các Tỳ-kheo là:

“Đúng vậy, thưa các Đại Đức, Đức Phật biết những điều cần biết, thấy những điều cần thấy. Ngài đã thấy với ­Tuệ nhãn. Ngài thành tựu được Thắng Trí (Trí Tuệ tối thượng). Ngài đã hoàn toàn giác ngộ Giáo Pháp. Ngài đã thành tựu Đạo dẫn tới Tăng Thượng Trí. Ngài xiển dương Tứ Thánh Đế nhằm làm thấm nhuần những lời giảng dạy ý nghĩa này trong tâm các đệ tử của mình. Bằng lòng Đại Bi, Ngài hướng dẫn họ đi theo con đường của các bậc Thánh, dẫn đến trạng thái Bất Tử Niết-bàn. Đức Phật là chủ nhân duy nhất của Giáo Pháp – giống như các Đức Phật quá khứ đi trước, Ngài thuyết giảng về con đường của các bậc Thánh dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn“.

– Cũng theo bài Kinh trên, Pháp Bất biến và Pháp biến đổi là tài sản cá nhân mà Đức Phật sở hữu. Các đệ tử đã nhận thức rõ điều này chỉ khi Đức Phật nói bài Pháp và lời Giáo huấn này. Họ có cơ hội nhận thức này – khi được chỉ cho thấy sự thật là: “Trạng thái Bất tử của Niết-bàn chỉ có thể thành tựu được bằng nguyện ước giải thoát khỏi khổ đau trong vòng luân hồi – nếu người đó bố thí, trì Giới (tuân thủ tám giới), cúng dường hương hoa và nhang đèn, nghe giảng Pháp, dạy Pháp, chứng đắc các tầng Thiền và đặc biệt là khi Thiền Vipassanā được thực hành một cách có hệ thống“. Đây chính là lý do tại sao Pháp biến đổi cũng được gọi là tài sản cá nhân của Đức Phật.

Tương tự như thế, các tứ vật dụng hay còn gọi là Tài vật Bất biến (Nippariyāya āmisa) cũng gọi là tài sản cá nhân của Đức Thế Tôn. Chính do Đức Phật cho phép mà các vị Tỳ-kheo mới được nhận những loại y áo được cúng dường.

Trong kinh ‘Thiên Đại Phẩm’ (Luật Tạng), Đức Phật tuyên bố:

“Ta cho phép các vị mặc những y được cúng dường bởi Phật tử. Còn những vị nào muốn mặc y phấn tảo thì ta cho phép cứ việc làm như vậy. Vị nào muốn nhận y từ các vị Phật tử, thì cũng có thể làm như thế. Còn riêng ta, ta sẽ luôn cảm thấy biết ơn và hài lòng với bất cứ những gì mà ta có được, dù tốt hay xấu’’

* Vật Thực

Trong suốt một thời gian dài trước khi Đức Phật cho phép, các Tỳ-kheo đã không được thưởng thức đồ ăn ngon. Họ phải sống nhờ vào đồ cúng dường có được khi đi bộ khất thực từng nhà một. Khi ở thành Vương Xá (Rājagaha), Đức Phật đã nói với các Tỳ-kheo:

“Này các Tỳ-kheo. Bằng cách này, Ta cho phép chia sẻ những thức ăn cúng dường đến Tăng đoàn, những vật thực mà Tăng Đoàn có ý định cúng dường, vật thực do thí chủ thỉnh mời cúng dường, đồ ăn thừa đã được vứt bỏ, vật thực được cúng dường vào sáng ngày sau lễ Bố-tát (nửa tháng một lần tụng lại Giới bổn). Ta cho phép năm loại cúng dường vật thực đến Tăng đoàn. Và chỉ sau khi Đức Phật đồng ý như vậy thì các Tỳ-kheo mới được dùng đồ ăn ngon mà thôi.

* Trú Xứ

Cũng vậy, Đức Phật cho phép các Tỳ-kheo được sử dụng những chỗ ở sau để nương thân. Trước khi Đức Phật ra luật này, các Tỳ-kheo phải trú trong các thung lũng, dưới các phần đất lộ thiên và các tán cây. Nhưng một lần nọ, Đức Phật tuyên bố:

“Này các Tỳ-kheo, từ nay trở đi ta cho phép sử dụng năm loại hang động: Đó là cốc có mái đôi, cốc có một mái, cốc có mái tầng hay cốc không có mái, hay hang động là nơi các Tỳ-kheo được phép sử dụng”.

* Dược Phẩm

– Tương tự, trước khi có luật này, các Tỳ-kheo phải tự làm thuốc và phần lớn chỉ nhờ vào một loại thuốc được làm từ trái cây trộn với nước tiểu bò. Tuy nhiên sau đó Đức Phật tuyên bố “Bằng cách này, ta cho phép sử dụng năm loại sau: bơ đặc, bơ tươi, dầu mè, mật ong, nước đường để làm thuốc”. Và sau đó cũng rất nhiều các loại thuốc khác dần dần được Đức Phật chấp thuận vì lợi ích về sức khoẻ của các Tỳ-kheo. Do đó có thể thấy rằng tất cả tứ vật dụng gọi là tài vật bất biến cũng được gọi là tài sản cá nhân của Đức Phật.

Về tài vật biến đổi như các thiện Nghiệp còn mục đích hướng đến việc kéo dài tái sanh trong luân hồi cũng là tài sản cá nhân của Đức Phật. Đúng vậy, trong các bài kinh hay những lời giáo huấn của Đức Thế Tôn, loài người và chư thiên đã được học là những ai muốn được hưởng sự an lạc trong cõi Chư Thiên và Phạm Thiên đều phải thực hành bố thí, trì giới và đắc các tầng thiền. Miên mật hành trì ba việc trên sẽ dẫn đến tái sanh trong cõi người, cõi trời và Phạm thiên.

Theo định nghĩa trên,

Pháp Bất Biến được hiểu là Đạo – Quả – Niết-bàn.

Pháp Biến Đổi là các thiện Nghiệp liên quan đến sự giải thoát luân hồi sanh tử.

Tài vật Bất Biến là tứ vật dụng.

Tài vật Biến đổi là các thiện Nghiệp vẫn còn liên quan đến mục đích duy trì các kiếp tái sanh luân hồi.

Tất cả bốn loại này đều là tài sản cá nhân của Đức Phật. Vì thế, để nhấn mạnh về việc sở hữu hai loại Pháp và Tài vật nói trên, Đức Phật dạy là:

“Này các Tỳ-kheo, hãy là những kẻ Thừa tự Pháp của ta, chứ đừng là những kẻ thừa tự tài vật”.

Giải thích

– “Cả hai loại Pháp: Pháp và Tài vật đều thuộc về Ta – Đức Thế Tôn. Hãy trở thành người thừa tự Pháp của ta. Đừng trở thành kẻ thừa tự tài vật thuộc về ta. Hãy chia sẻ và hưởng gia tài Pháp chứ đừng chia sẻ và hưởng tài vật (āmisa)”.

Một lần dưới thời của Đức Thế Tôn, có một Tỳ-kheo đã tốn hết thời gian của mình chỉ để cố gắng tìm cầu Tứ vật dụng. Tất nhiên vị ấy đã gác sang một bên nhiệm vụ chính của mình là tham thiền và hành trì đúng Giới Hạnh nhằm thoát khỏi dục lạc thế gian. Loại người này chỉ trú trong Giáo Pháp nhằm thừa tự tài vật của Đức Phật mà thôi, và họ được gọi là kẻ thừa tự tài vật (āmisadāyada). Đức Phật đã nhấn mạnh với các Tỳ-kheo cố gắng đừng trở thành những loại người này.

Nhưng một Tỳ-kheo khác, người đã sống cực kỳ tri túc về Tứ vật dụng được cho phép bởi Đức Phật và luôn thực hành sự quán tưởng sâu sắc về việc làm sao có thể ít sống phụ thuộc vào người khác nhất. Vị ấy cũng hành trì Tam vô lậu hoặc Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā) của các bậc Thánh nhân. Vị ấy sống:

1. Tri túc, biết đủ với Tứ vật dụng (1) y, (2) vật thực), (3) chỗ ở, (4) dược phẩm có được.

2. Luôn sống thanh thản, tự tại thực hành Thiền chỉ và quán (Vipassanā)

Những điều này được gọi là truyền thống của bậc Thánh (ariyavaṃsa). Những ai sống và luôn giữ được tâm như vậy, người đó được gọi là Thừa tự Pháp (dhammadāyāda). Các Tỳ-kheo được cảnh tỉnh mạnh mẽ để nỗ lực hết sức mình, trở thành một bậc Thánh Thừa tự Pháp.

Nhưng cũng có Tỳ-kheo có thể khởi lên hoài nghi là “Có phải Đức Phật dạy chúng ta như vậy vì Ngài không muốn chúng ta nhận quà cúng dường không?”. Và về sau, cũng có thể có những Tỳ-kheo nghi ngờ như vậy. Đức Thế Tôn vì muốn họ nhận thức ra là Ngài muốn họ được dồi dào những vật phẩm thực sự có giá trị, nên đã giảng một bài Pháp gồm nhiều đoạn.

Đức Phật Có Tác Ý Luôn Quan Tâm Tới Các Tỳ-Kheo Với Lòng Cảm Thông, Trắc Ẩn.

“Tại sao đệ tử của ta phải Thừa tự Pháp chứ không thừa tự tài vật (āmisa)?” Trong con tim và tâm ý của ta, điều trước tiên là luôn luôn quan tâm và thương tưởng đến các đệ tử của mình”.

Chú giải đã giải thích về đoạn kinh trên như sau:

– “Tâm ta luôn tràn ngập các suy nghĩ và tác ý là quan tâm chăm sóc đến lợi ích và những điều tốt đẹp cho các đệ tử. Bằng cách nào để các đệ tử có thể trở thành người Thừa tự Pháp chứ không thừa tự tài vật (āmisa)?”

Đã lâu lắm rồi, từ thời Đức Phật Ca-diếp, đã có những Tỳ-kheo giống như vị Kapila – những người chỉ thích hưởng thụ vật chất (āmisa) và đã phạm rất nhiều Giới và trở thành một kẻ đồi bại. Có vô số các Tỳ-kheo, Tu nữ, Tỳ-kheo-ni đã bị đọa thành ngạ quỷ. Tâm chính tham khao khát tài vật của họ đã thiêu rụi thành tro tất cả hàng núi y áo và ngọn lửa tham này ngùn ngụt cháy trong bốn khổ cảnh (Ngạ quỷ, Địa ngục, Súc sanh, A-tu-la). Đức Phật đã nhìn thấy rõ những dạng người Đạo Đức giả phản trắc không xứng danh được gọi là Tỳ-kheo, giống như Đề-bà-đạt-đa dưới thời của Ngài. Mặt khác, Ngài cũng thấy rõ những vị Tỳ-kheo Giới đức như Đại Đức Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Kassapa và các Thánh Đệ tử khác, những người chỉ quan tâm đến Giáo Pháp và luôn đầy đủ phẩm chất của Tứ Tuệ Phân tích và các Tăng Thượng Trí. Vì thấy rõ và biết rõ tất cả điều trên, Đức Thế Tôn luôn mong đệ tử của Ngài hãy viên mãn các phạm hạnh của một bậc Tỳ-kheo, để có thể tránh đi xuống bốn đường ác đạo, chính vì vậy Ngài dạy rằng “hãy là những kẻ Thừa tự Pháp của ta, chứ đừng là những kẻ thừa tự tài vật (āmisa)”.

Hơn thế nữa, trong tứ chúng đồng tu là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Cận sự nam và Cận sự nữ, bất cứ ai chỉ quan tâm đến Tứ vật dụng và thiếu các phẩm chất của Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā), sẽ trở nên mê mờ và u tối, được ví như một đồng tiền giả, hay giống như một đống tro tàn nguội lạnh. Cho nên trong trường hợp của một bậc Thánh, người không màng vật chất mà chỉ an trú trong Pháp. Họ tỏa sáng giữa tứ chúng với phẩm chất cao quý của Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Lực thu hút mãnh liệt từ những phẩm hạnh cao quí này khiến các Ngài trở nên vô úy (không sợ hãi) như sư tử, chế ngự và quy phục tất cả những người xung quanh. Đây là lí do tại sao Đức Phật giáo huấn hãy thành người Thừa tự Pháp, không phải thừa tự tài vật (āmisa). Lời giảng dạy đầy lòng từ bi của Đức Phật đối với các đệ tử xuất phát từ lòng quan tâm vô lượng mà Ngài luôn dành cho họ. Cũng chính vì lòng mong ước nhân từ, Ngài mong họ nuôi dưỡng và nhận lãnh được những loại tặng phẩm có giá trị và thánh thiện hơn nhiều so với tài vật. Vì thế tiếp sau lời dạy, Đức Phật đã nói thêm một bài Pháp về những sự chê cười, trách cứ có thể sẽ xảy ra, nếu không có những lời giảng dạy trên của Ngài (MA. 1.95.).

Những hạng người bị chê trách

Đức Phật nói “Này các Tỳ-kheo, nếu người ta nói đệ tử của ta chỉ sống trong Giáo Pháp như những kẻ thừa tự tài vật (āmisa), không phải những kẻ thừa tự Pháp (Dhamma), đó là họ đang trách cứ chúng ta. Và điều đó cũng giống như đang chê trách chính vị thầy – là ta, Đức Phật” (M.1.15.)

Những lời này Đức Phật nói với các Tỷ-kheo vì muốn giảm nhẹ đi sự việc. Thực ra Ngài có ý là:

“Này các Tỳ-kheo, nếu các ngươi coi trọng vật chất (āmisa) với thái độ lố lăng, sai lầm, thì những người Trí và các bậc giới hạnh sẽ quở trách rằng: “Tại sao mà một bậc Toàn Giác lại không thể ngăn ngừa đệ tử của Ngài trở thành thừa tự tài vật (āmisa) thay vì thừa tự Pháp (Dhamma)?”

Và đến lúc họ bất chợt bắt gặp những người tu mà chẳng giống chút nào với bậc chân tu. Thời họ sẽ trách cứ bằng những câu hỏi kỳ cục kiểu như:

“Bạn đồng tu của những người này là ai?”, “Ai là thầy của những học trò này?”

Giống như cha mẹ của những đứa con vô Đạo Đức bị người đời khiển trách về cách cư xử sai trái của đứa con này, với lời lẽ khinh bỉ: “Đây là con cái nhà nào vậy?”

Cũng thế họ sẽ hỏi ta, Đức Phật, là:

“Tại sao mà một bậc Toàn Giác lại không có khả năng ngăn ngừa đệ tử mình trở thành một kẻ thừa tự tài vật?”

Do đó mà Đức Phật giảng một bài Pháp giải thích về những hậu quả không thể tránh khỏi nếu Ngài không dạy dỗ các đệ tử của mình. Để giải thích rõ về những lợi lạc từ những lời giáo huấn trên, còn nói thêm một bài Pháp sau.

Những Vị Tỳ-Kheo Đáng Được Tuyên Dương

“Này các Tỳ-kheo, thật đáng khen nếu các Ngươi là những người thừa tự Pháp của ta chứ không thừa tự tài vật. Các đệ tử Phật sống trong Pháp để thừa tự Pháp chứ không để thừa tự tài vật.

Ta – Đức Phật, cũng có thể được người khác khiển trách và ca ngợi. Do đó, ta luôn nhắc nhở các ngươi. Hãy thừa tự Pháp, đừng thừa tự tài vật. Chính từ lòng quan tâm chân thành và lòng từ bi, thương xót đối với các Tỷ-kheo mà ta sách tấn họ như vậy.”

Khi người ta thấy các vị Tỳ-kheo trẻ hành trì đúng theo lời Phật dạy như trong Chú giải và các bản dịch Pāli, họ sẽ hỏi như sau:

“Bạn đồng tu của những người này là ai?Ai là thầy của những học trò này?”

Và khi đó họ được trả lời là:

“Họ là đệ tử của vị Trưởng lão này hay vị Đại Trưởng lão kia”

Thì những người này sẽ hoan hỷ ngợi khen như sau:

“Học trò của Ngài thực sự đã trung thành dâng hiến thân mạng mình cho vị thầy – người đã có năng lực giáo huấn và rèn luyện miên mật cho những học trò này.”. Theo cách này mà vị thầy không bị khiển trách.

Tương tự vậy, này các Tỳ-kheo, bởi các ngươi đã thừa tự Pháp chứ không thừa tự tài vật và đã chân chính quan sát và thực hành nghiêm ngặt từng điều nhỏ nhặt nhất trong Giới luật của các bậc Thánh như những Giới đức trong các Kinh – “Nālaka”, “Con đường mau chóng”, “Nguyệt Dụ”, “Ngưu Giác Lâm Đại Kinh”, “Kinh huấn luyện ngựa”, “Kinh Đại Không”. Bởi các ngươi hài lòng, vui thích trong việc thực hành Thiền chỉ và Quán, đến mức hành thiền là máu thịt của mình, đó là bằng chứng cho thấy các ngươi là những đệ tử chân chính (những người không tầm cầu Tứ vật dụng), mà an trú và hưởng được lợi ích thật sự từ Giáo Pháp, giống như mặt trăng đã thoát ra khỏi mây đen. Do vậy, ta – Đức Phật, sẽ không còn bị quở trách nữa. Khi họ hỏi: “Những vị này là đệ tử của ai vậy?”. Và được trả lời rằng: “Họ là đệ tử Đức Phật Gotama”. Thì những người khác sẽ ca ngợi: “Bậc Chánh Biến Tri, tự giác ngộ – Bậc Thế Gian Giải Tối Thượng đúng đắn, thành công, các vị đệ tử của mình, những ai có Đạo Đức, thực sự có năng lực để không thừa tự tài vật mà chỉ thừa tự Pháp.”. Bằng cách này ta, Ta, Đức Phật không còn bị chê trách nữa.

Tiếp theo lời dạy trên, Ngài đã giảng dạy kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) khen ngợi những ai hành trì đầy đủ và nghiêm khắc đúng theo Giới luật để trở thành người thừa tự Pháp.

Hai Vị Tỳ-kheo

(Trích Kinh Thừa Tự Pháp)

“Này các Tỳ-kheo, ở đây một thời ta ăn đã xong, thoả mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thấy thoả thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn thừa của ta đáng được quăng bỏ”. Khi ấy có hai vị Tỳ-kheo đến, đói lả và kiệt sức. Ta có thể nói với hai vị ấy: Nếu các ngươi muốn, hãy ăn đi. Nếu các ngươi không muốn ăn ta sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, ta sẽ bỏ xuống nước chỗ không có chúng sanh trong ấy.”

Rồi vị Tỳ-kheo thứ nhất nghĩ như sau: “Nay Thế Tôn đã ăn xong, thoả mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thoả thích, vừa ý, và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Nhưng Thế Tôn có dạy như sau: “này các Tỷ-kheo, hãy là kẻ thừa tự Pháp của Ta, đừng là kẻ thừa tự tài vật. Đây là loại tài vật, món đồ ăn này. Ta hãy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày hôm nay, đói lả và kiệt sức.”. Rồi vị ấy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày ấy, đói lả và kiệt sức“.

Với ý nghĩ như vậy và trong tình trạng bị đói lả nhưng vị ấy đã dành cả đêm để hành thiền Chỉ và Quán, hoàn thành nhiệm vụ của Tỳ-kheo chân chính.

Vị này đã bỏ cơ hội ăn đồ thừa trong bát Đức Phật – điều mà Chư Thiên và các chúng sinh khác rất thích được đặc ân này. Thay vào đó, với tác ý thánh thiện cao quí nhất, muốn trở thành người Thừa tự Pháp, vị này học theo gương sáng của một người trong lời giáo huấn của Đức Phật là:

“Dù đầu của anh ta đang bị bốc cháy, thay vì dùng nước để dập tắt ngọn lửa trên đầu, vị này đã chọn giải pháp là tập trung cao độ, hành thiền Chỉ và Quán trong chính giây phút đó, nhằm dập tắt ngọn lửa thân kiến (sakkāya diṭṭhi) trong tâm mình”

Cho nên khi quán tưởng ví dụ trên, vị Tỳ-kheo này chịu đói lả và kiệt sức, dành suốt cả thời gian còn lại trong ngày và đêm hôm đó để nỗ lực hành thiền.

(Trích Kinh Thừa Tự Pháp)

“Vị Tỳ Kheo, thứ hai nghĩ như sau: “Thế Tôn ăn đã xong, thoả mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thoả thích, vừa ý, và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Vậy ta hãy ăn loại đồ ăn này, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm nay như vậy.” Rồi vị ấy ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy”

Chú giải giải thích về đoạn kinh trên như sau:

Vị Tỳ-kheo thứ hai này nghĩ là “Việc này là đúng đắn khi ăn đồ thừa của Đức Phật, vì nó giúp giải quyết cơn đói và kiệt sức, và ta có thể dùng thời gian còn lại hành thiền và tu tập Bát Chánh Đạo – điều được trông ở Tăng đoàn”. Hơn nữa vị ấy cũng thấy rằng: Khó mà có thể tìm thấy thuốc men trong khu rừng đầy thú hoang này, còn việc đi khất thực trong làng nơi chứa đầy các ô nhiễm của ngũ dục, quả là một điều đáng chán. Đây là đồ ăn chưa bị hư, còn thừa lại trong bát Đức Phật, đồ ăn này trong sạch giống như hoàng tử mới ra đời trong dòng tộc quyền quí. Nó không thuộc năm loại đồ ăn mà Đức Phật cấm sử dụng, đó là:

1. Vật thực được cúng dường bởi những kẻ đồi bại, phá Giới, không biết tàm quí (alajjī) – những kẻ không biết sợ khi làm điều tội lỗi, trái Giới luật.

2. Vật thực được chuẩn bị và dâng cúng từ một vị tu nữ, người đã kiếm bằng cách dối trá, trái Giới luật như: tự phô trương và giả vờ đã đắc thiền, đắc Đạo-Quả hoặc nói dối là đã viên mãn về Giới, hay nói có bằng cấp học vị cao.

3. Đồ ăn thuộc về một vị sư mà đang chịu đựng cơn đói dày vò. Cần cảm thông trắc ẩn trước nỗi khổ mà vị đó phải chịu.

4. Nếu các bạn đồng tu hay các Tỷ-kheo nhỏ hạ hơn trong chùa đang phải chịu cảnh đói khát thì Tỳ-kheo có trách nhiệm chia phần ăn không nên nhận phần ăn đó vì quan tâm và lòng từ bi đối với những người khác.

5. Trường hợp vị Tỳ-kheo có đồ ăn còn lưỡng lự và tiếc khi phải cúng dường thì người được cúng không được nhận đồ ăn ấy.

Vậy đồ thừa của Phật không thuộc năm loại thức ăn trên.

1. Đây là đồ ăn từ Đức Phật – Bậc Tối Thượng nhất trong số những người có lương tri và phẩm hạnh; người luôn có tàm, quí để không bao giờ phạm Giới hoặc luôn cảm thấy hạnh phúc trong việc giữ các Giới trong sạch đã phát triển được.

2. Đó là thức ăn Đức Phật đã có được bằng các phương tiện trong sạch và chân chính.

3. Thức ăn này do chính Đức Phật có và chia sớt cho người khác.

4. Không có ai khác đang phải chịu đói dày vò hay muốn ăn đồ thừa đó.

5. Không có một ai trên thế gian này có hào phóng và lòng từ bi hơn Đức Phật.

Vì lý do trên mà vị Tỳ-kheo thứ hai này dùng đồ ăn thừa của Phật và dành thời gian còn lại hành thiền.

Vậy cả hai vị đều quyết định thực hành đúng theo cách thức tu tập Bát Chánh Đạo cần có ở các vị Tỳ-kheo. Vị thứ nhất quyết định không ăn vật thực mà mình có quyền hưởng, còn vị thứ hai thì ăn cũng loại thức ăn đó mà vị ấy có quyền hưởng. Về mặt thức ăn mà nói, nó cùng một loại dưới cùng một điều kiện và sự khác nhau duy nhất là chỉ là một người ăn, còn một người thì không.

Để giảng giải về sự khác nhau này một cách rõ ràng, Đức Phật đã dạy tiếp:

(Trích Kinh Thừa Tự Pháp)

“Này các Tỷ-kheo, dầu cho vị Tỷ-kheo này, sau khi ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy, nhưng đối với Ta, vị Tỷ-kheo đầu tiên đáng được kính nể hơn và đáng được tán thán hơn. Vì sao vậy? Vì như vậy sẽ đưa đến cho vị Tỷ-kheo ấy, trong một thời gian lâu ngày, thiểu dục (appicchatāya), tri túc (santuṭṭhiyā), khổ hạnh (sallekhāya), dễ nuôi dưỡng (subharatāya), có thể tinh cần thực hành thiền Chỉ – Quán để đoạn trừ các nghiệp bất thiện và tích lũy nghiệp thiện (vīriyārambhāya). Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là kẻ thừa tự Pháp của ta, đừng là kẻ thừa tự tài vật.”

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nói xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá.

· Chú giải viết:

Dù vị Tỳ-kheo thứ hai có ăn đồ thừa của Đức Phật, điều này không thể bị chê trách. Vị Tỳ-kheo ấy cũng vẫn xứng đáng được ca ngợi, vì sau khi ăn xong, vị đó đã nỗ lực tinh tấn thực hành Bát Chánh Đạo, nhiệm vụ cần có ở các Tỳ-kheo. Tuy nhiên, mặc dù vị Tỳ-kheo thứ hai lấy phần ăn xứng đáng thuộc về mình, dù cho vị ấy tiếp tục thực hành Bát Thánh Đạo, nhưng chính vị Tỳ-kheo đầu tiên là người dám bỏ cả cơ hội thoát khỏi đói lả mà chỉ tinh tấn theo đuổi con đường Bát Thánh Đạo là điều mong đợi ở các Tỳ-kheo – rõ ràng vị này có Giới đức thánh thiện hơn. Vậy trong hai vị đệ tử thì vị thứ nhất là người dũng cảm hơn, có Trí Tuệ hơn đáng được tuyên dương và kính trọng hơn.

* Lý Do Tuyên Dương.

– Theo lý do Đức Phật giải thích là vì bỏ qua cơ hội để dùng phần ăn thừa mà chỉ tập trung thời gian và công sức vào hành thiền, vị Tỳ-kheo đó có thể tăng cường khả năng thiểu dục, tri túc, có thể giải thoát khỏi các ô nhiễm và dễ nuôi dưỡng, có thể tinh tấn bền bỉ hành thiền Chỉ – Quán với nỗ lực cao nhất. Tại sao lại như vậy? Câu trả lời là:

Trí Tuệ = Móc Sắt Luyện Voi.

– Nếu có lúc nào đó trong tương lai, những cảm xúc hay các tâm bất thiện khởi lên trong tâm vị Tỳ-kheo như:

(1) Quá dục (Atricchā): Tham muốn quá độ, thèm những tài vật mà người khác được cúng dường

(2) Ác dục (Pāpicchā): Mong muốn đen tối muốn có được đồ cúng dường bằng cách ba hoa khoác lác về thành tựu mà mình chưa hề đạt được.

(3) Đại dục (Mahicchā): Tham vô độ muốn sở hữu vô số tài vật và thậm chí, chỉ xài những đồ tốt mà thôi, không hài lòng với đồ xấu.

Thì lúc ấy, Trí Tuệ (được ví như một móc sắt để huấn luyện voi) có được từ cơ hội vượt lên cơn đói khát và kiệt sức để tinh tấn hành thiền trong quá khứ, sẽ nhắc nhở vị đó:

“Này Tỳ-kheo, làm sao mà ta lại có thể để những tham muốn đen tối như vậy len lỏi trong tâm sau khi đã thành công trong việc chế ngự sự thèm muốn khi đã từng không ăn đồ thừa của Đức Phật?”

Đây là cách mà vị ấy bị chiếc móc của sự quán tưởng (paccavekkhanā) đâm vào. Tương tự như vậy, nếu khi vị ấy không biết đủ, không vừa lòng với những gì được cúng dường, nếu ô nhiễm trong vị ấy có lúc tăng lên chứ không giảm xuống, thì chính lưỡi móc của Trí Tuệ sẽ giúp vị ấy ra khỏi tình trạng đó.

* Người không dễ nuôi dưỡng

–  Trong thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật Gotama có những Tỳ-kheo tham lam, ham muốn nhiều và chỉ thích chọn đồ tốt, không có thí chủ nào có thể cúng dường liên tục cho họ, những dạng người như vậy, những Tỳ-kheo đó lại cũng không có khả năng tự chu cấp cho mình Tứ vật dụng. Họ đúng là những người cực kỳ khó nuôi / hộ trì. Ngược lại có những Tỳ-kheo lại rất dễ nuôi dưỡng và các thí chủ dễ dàng hộ độ.

–  Một vị sư nọ, khi nhận đươc đồ ăn chua, thì lại đi tìm đồ ngọt. Khi nhận được đồ dâng cúng từ nhà này vị đó lại đem bỏ sau nhà khác, và sau khi đi khắp làng theo kiểu này, cuối cùng chỉ mang về chiếc bát rỗng và về chùa ngủ. Vị ấy bị hành hạ vì đói và kiệt sức. Đồng thời vị đó cũng không tự chu cấp được cho chính mình. Vị ấy chẳng vừa lòng với những gì nhận được. Vì không vừa ý nên vị ấy đem đổ ngay cả những vật thực nhận được từ ngôi nhà cuối cùng trong làng. Không có gì để ăn nên đành phải quay về tay không và phải đi ngủ như thế.

Có một vị sư khác, mặc dù bát đã được chất đầy đủ loại đồ ăn ngon lành, vẫn lên mặt khó chịu và quát mắng các thí chủ “Các người cúng dường ta thức ăn kiểu này à?”. Sau đó vị ấy đem phát hết cho các sadi và tu nữ. Khi thí chủ gặp phải loại Tỳ-kheo này sẽ nói là “Đúng là vị sư không thể chịu đựng nổi! Không có cách nào chúng ta có thể chu cấp cho các vị sư kiểu này” và họ sẽ rời xa vị sư này.

* Người dễ nuôi dưỡng

Nhưng cũng có những vị Tỳ-kheo có để chấp nhận bất cứ loại thức ăn nào, ngon hay dở, vị ấy sẵn sàng chấp nhận và rất hài lòng, chẳng hề muốn nhiều hơn và sau đó quay về chùa ngay để miên mật hành thiền – điều được mong đợi ở các Tỳ-kheo chân chính. Các vị Tỳ-kheo như thế này có khả năng tự chu cấp.

Hoặc có những Tỳ-kheo rất hoan hỷ thọ nhận đồ dâng cúng dù ít hay nhiều, ngon hay dở, cao lương mỹ vị hay đồ bình dân. Và sau đó với một tâm hoan hỷ và sẵn lòng, vị đó ăn một phần đồ cúng dường trước mặt thí chủ, sau đó quay về chùa ngay để miên mật hành thiền. Các vị Tỳ-kheo như thế này được gọi là dễ nuôi dưỡng, được yêu mến và kính trọng bởi tất cả Phật tử, những người nguyện cúng dường để chăm sóc vị sư đó và xin thỉnh vị sư ấy về ở ngôi chùa do họ xây cất.

· Vị Tỳ-kheo Đầu Tiên

Vị Tỳ-kheo đầu tiên người đã không ăn thức ăn thừa của Đức Phật – nếu sau này có lúc nào vị ấy trở thành người khó nuôi dưỡng hoặc không tự chu cấp được, thì lưỡi móc Trí Tuệ sẽ giúp vị đó kiểm lại tâm mình, bằng cách tự hỏi tại sao vị ấy lại có thể để những tâm bất thiện như vậy có cơ hội phát triển.

Hoặc nếu có lúc vị đó trở nên dễ nuôi, chịu sự mệt mỏi hay biếng nhác trong việc hành thiền thì lưỡi móc Trí Tuệ sẽ hỏi vị ấy “Đã có lần chính ta đói lả và kiệt sức, nhưng nhất định không ăn đồ ăn thừa của Đức Phật, để thời gian hành thiền. Vậy làm sao một người đã từng nỗ lực đến như vậy lại có thể trở nên dễ duôi như bây giờ? Bằng cách này, tâm vị đó được thúc đẩy để từ bỏ những Nghiệp bất thiện và tích thêm Nghiệp thiện có được từ việc hành thiền miên mật.”

Do đó, nhờ một lần đã có kinh nghiệm khống chế một cách mạnh mẽ được ham muốn của tham mà suốt trong vòng luân hồi (saṃsāra), vị ấy sẽ có khả năng giữ được những phẩm chất tốt sau:

1. Thiểu dục

2. Tri túc

3. Thoát ra được ô nhiễm

4. Dễ nuôi dưỡng

5. Có khả năng tăng sự tinh tấn của mình trừ bỏ bất thiện tâm và tích lũy thiện tâm qua việc hành thiền Chỉ-Quán miên mật

* Mười Đề Tài Nên Bàn Luận

1. Đề tài Thiểu dục (Appiccha-kathā)

2. Đề tài Tri túc (Santuṭṭhi-kathā)

3. Đề tài về Độc cư / ẩn cư / viễn ly (Paviveka-kathā)

4. Đề tài Ẩn cư (Asaṃsagga-kathā) (tách xa thân bằng, quyến thuộc, xa lìa ô nhiễm…)

5. Đề tài ứng dụng sự tinh tấn trong hành thiền Chỉ và Quán (vīriyārambhāya-kathā)

6. Đề tài Giới (Sīla-kathā)

7. Đề tài Định (Samādhi-kathā)

8. Đề tài các Tuệ Vipassanā và Tuệ Đạo (Paññā-kathā)

9. Đề tài Tận diệt ô nhiễm (Vimutti-kathā) (Quả vị A-la-hán, Niết-bàn)

10. Đề tài về Giải thoát Tri kiến Viên mãn (Vimuttiñānadassana-kathā)

Mười đề tài trên cần được tích cực bàn luận giữa các Tỳ-kheo. Ba trong số đề tài trên là (1) Thiểu dục(Appiccha-kathā), (2) Tri túc (Santuṭṭhi-kathā), (3) Tinh tấn (vīriyārambhāya-kathā) đã được trực tiếp thuyết giảng bởi Đức Thế Tôn trong kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta). Những đề tài còn lại được gom lại để thuyết giảng trong một bài kinh và đặt tên là các đề tài đoạn giảm (Sallekha – Kathā). Một bài được thuyết trong năm mươi Kinh Sau của Trung Bộ và Kinh Đại Không có một đoạn sau:

“Này người hiền giả Ānanda, từ “Sallekha” có nghĩa là đoạn tận ô nhiễm bằng thực hành khổ hạnh. Nó thích hợp cho việc trừ bỏ các triền cái (nīvarana).

Chân lý được hiển lộ khi tận diệt được các triền cái (nīvarana) đã từng che phủ sự thật trong tâm. Quá trình vén bức màn này được gọi là hành thiền (thiền chỉ lẫn thiền quán). Nó dẫn dắt người ta nhận thức ra rằng để có thể giải thoát khỏi khổ đau và tham ái trong vòng luân hồi sinh tử, người đó cần phải có Trí Tuệ thấu suốt được Tứ Thánh Đế, để thành tựu A-la-hán Thánh Đạo Tuệ và chứng ngộ được trạng thái Vô Dư Niết-bàn. Và trên đây mười đề tài cần đuợc bàn luận (M. 3.155.).

Đức Phật cũng đã thuyết một bài Pháp về điều đó. Những Tỳ-kheo nào viên mãn được năm phẩm chất tốt như đã đề cập ở trên cũng có thể thành tựu được mười đề tài (kathā) nên bàn luận.

+ Đề Tài Về Độc Cư/Ẩn Cư/Viễn Ly

Cần thiết phải giảng thêm một chút về đề tài Viễn ly như sau. Có ba loại viễn ly:

(1) Viễn ly Thân (Kāyaviveka)

(2) Viễn ly Tâm (Cittaviveka)

(3) Viễn ly Sanh Y (Upadhiviveka)

1. Viễn ly Thân (Kāyaviveka): Thói quen sống cách ly, xa lìa khỏi thân bằng quyến thuộc, bạn bè nói chung, hay thói quen thích đi du lịch, ăn, ngủ…

2. Viễn ly Tâm (Cittaviveka): để thành tựu chín Pháp Siêu Thế, viễn ly Thân không thôi thì chưa đủ, nó rất cần thiết phải tiến hành những bước chuẩn bị để thực hành Thiền chỉ, với đề mục Kasiṇa nhằm đắc tám tầng thiền. Chính tám Thiền chứng này được gọi là viễn ly Tâm (Cittaviveka) – nó làm sạch tâm khỏi những ô nhiễm của năm triền cái.

3. Viễn ly Sanh y (Upadhiviveka): Xả ly không bám víu vào các kiếp tái sanh. Lại nữa, để thành tựu chín Pháp Siêu Thế, đắc tám tầng Thiền cũng vẫn chưa đủ. Việc đắc Thiền sẽ làm nền tảng cho Thiền Vipassanā, dẫn tới chứng ngộ hai Thánh Đế đầu tiên là Khổ Đế và Tập Đế. Các Pháp Hữu Vi (saṅkhāra) cần phải được thấu hiểu dưới ánh sáng của tam tướng là Vô thường, Khổ, Vô ngã cho đến khi đạt được quả A-la-hán. A-la-hán Thánh Quả – Niết-bàn được gọi là Viễn Ly Sanh y (Upadhiviveka).

Niết-bàn là sự Giải thoát khỏi Dục lạc thế gian (Kāmupadhi), khỏi tất cả các Phiền não (Kilesupadhi), khỏi tất cả các Pháp còn tạo Nghiệp (Abhisaṅkhārupadhi) để cho quả là tái sinh trong vòng luân hồi sinh tử và giải thoát khỏi Ngũ Uẩn (Khandupadhi). Vì vậy, những Pháp thuộc Niết-bàn được gọi là Viễn Ly Sanh y (Upadhiviveka) bởi nó không còn bốn Sanh y (Upadhi) là: Dục sanh y (Kāmupadhi), Phiền não sanh y (Kilesupadhi), Thắng Hành sanh y (Abhisaṅkhārupadhi) (các Pháp còn tạo Nghiệp) và Uẩn sanh y (Khandupadhi). Vị Tỷ-kheo luôn an lạc và hài lòng thực hành ba mức độ Viễn ly (viveka), sách tấn những người đến gặp vị đó để tán dương và ca ngợi lợi ích của ba Pháp Viễn Ly trên, vì hiểu rõ giá trị của nó. Sau khi bàn bạc xong về đề tài Viễn Ly, vị Tỷ-kheo để họ ra về và tiếp tục miên mật hành trì Thiền Định và Thiền Vipassana (Samatha và Vipassanā).

Những vấn đề còn lại trong mười đề tài trên cần được suy xét và hiểu rõ theo cách như vậy. Những ai có thể thực hành tất cả mười đề tài này sẽ thành tựu viên mãn Tam Vô Lậu Học Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā).

Trong mười đề tài trên thì (Kātha)

Thiểu dục (Appiccha-kathā), Tri túc (Santuṭṭhi-Kathā), Ẩn cư (Asaṃsagga-kathā), Trì Giới (Sīla-kathā) là thuộc về phần Tăng Thượng Giới Học (Adhi∙sīla-sikkhā)

Độc cư, viễn ly (paviveka-kathā), Tinh tấn (vīriyārambhāya-kathā), Thiền Định (Samādhi-kathā) thuộc về phần Tăng Thượng Định Học (Adhi∙citta-sikkhā)

Tuệ Vipassanā (Paññā-kathā) và Tuệ Đạo (Vimutti-kathā), Tri Kiến Giải Thoát Viên Mãn (Vimuttiñānadassana-kathā) về phần Tăng Thượng Tuệ Học (Adhi∙paññā-sikkhā).

Những ai có thể thực hành mười đề tài trên cho đến khi đạt được Quả vị A-la-hán là người có khả năng thành tựu Tam Vô Lậu Học.

Một Ví Dụ Thế Gian Để So Sánh

Những trận mưa như thác đổ rơi xuống các đỉnh núi và các vùng cao nguyên, rồi đổ xuống và lấp đầy các thung lũng và kênh mương. Sau đó đổ tiếp xuống hồ và đầm, tiếp tục chảy vào các con sông nhỏ và liên tục đổ ra những con sông lớn hơn. Nước từ các sông lớn đổ vào và lấp đầy biển cả vô tận.

Đó là cách được minh họa trong bài kinh Thừa tự Pháp, những vị Tỷ-kheo nào có đủ năm Phẩm chất tốt, cùng với việc thực hành mười đề tài nên bàn luận trên có thể đạt tới trạng thái bất tử, Niết-bàn. Đức Phật tuyên bố rằng Thừa tự Pháp (tức là thừa tự loại tài sản có giá trị lớn nhất và cao quí nhất) có thể thành tựu bởi các vị Thánh Đệ Tử của Ngài. Do đó, vị Tỷ-kheo đầu tiên đáng được ca ngợi, tuyên dương và tôn kính. Vị đó chính là Người Thừa tự Pháp xứng đáng, chứ không Thừa tự Tài vật.

Nguyện Ước Làm Hưng Thịnh Giáo Pháp.

Trước khi kết thúc bài kinh Pháp tự, Đức Phật đứng dậy và lui vào trong hương phòng của Ngài. Lý do đi nghỉ trước khi kết thúc bài Pháp là:

hoặc (1) Bởi Ngài muốn xiển dương cá nhân của một vị Đại Đệ Tử.

hoặc (2) Bởi Ngài muốn xiển dương Giáo Pháp

Đức Phật thường tôn trọng và khen ngợi các Thánh Đệ Tử của Ngài như Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Kaccāna hay Tôn giả Ānanda bằng cách tuyên bố:

“Những vị Tỷ-kheo nào muốn biết thêm chi tiết trong các bài Pháp ngắn của ta hãy đến gặp ngài Ānanda hay Kaccāna. Những vị này sẽ giảng giải đúng đắn, thích hợp theo tư tưởng, suy nghĩ của Đức Thế Tôn. Sau đó người nghe sẽ đến ta và tham vấn thì ta sẽ nói với họ rằng: ‘Này các Tỷ-kheo, cả haiTôn giả trên đã rất thiện xảo trong việc giảng Pháp. Giả sử các vị có đến Đức Thế Tôn để hỏi những điềuấy thì ta cũng sẽ trả lời y hệt như vậy’”.

Đó là cách mà Đức Phật ban tặng những lời khen ngợi cho các Đệ Tử của mình. Các vị Thánh Đệ Tử này sau đó sẽ giải thích cho các Tỷ-kheo về những vấn đề Nhân – Quả. Nhờ vấn Pháp các vị thầy đáng tôn kính, các Tỷ-kheo hứng khởi thực hành Tam Vô Lậu Học giải thoát khỏi luân hồi sanh tử. Nhằm mục đích xiển dương cá nhân các vị Đệ Tử mà Đức Phật rút lui vào hương phòng, không giải nốt bài Pháp.

Bỗng một ý nghĩ thoáng qua trong tâm khi Đức Thế Tôn đã vào nghỉ trong phòng (đây cũng được coi là một phần bài kinh). Đức Phật nghĩ như sau:

Khi ta vô trong hương phòng thì Xá-lợi-phất, vẫn còn ngồi giữa đại chúng, sẽ thay ta trình bày chi tiết việckhen ngợi những ai Thừa tự Pháp, không Thừa tự Tài vật. Nếu như một bài Pháp này cũng được thuyết giảng một cách đồng nhất và đầy nhiệt huyết bởi cả ta và Xá-lợi-phất, nó sẽ trở nên cực kỳ lợi lạc, có giá trị và đặc biệt. Nó có thể ví như một con thuyền được neo ở một bến đỗ thích hợp, rồi từ cảng đó, vào lúc mà có bốn dòng nước chảy xiết, con thuyền ấy vẫn có thể bẻ lái dễ dàng rẽ sóng, vào ra vùng nước yên ả, hay giống như một cỗ xe ngựa đẹp đẽ được kéo bởi bốn con ngựa chiến thượng hạng.

Xá-lợi-phất, người đang ngồi cùng đại thính chúng, sẽ triển khai chi tiết bài kinh này, giống như vị nguyên soái được nhà vua chính thức ủy quyền sẽ thi hành lệnh được vua ban ra ngay cả khi không có mặt vua tại đó vì Ngài đã rời khỏi ngai vàng để đi lên lầu trên của cung điện. Nếu bài Pháp được thuyết giảng và được đại chúng nghe đúng theo mục đích và ý nguyện của cả ta và Xá-lợi-phất, Pháp sẽ được tỏa sáng ánh sáng chói lòa rực rỡ”.

Đây là cách mà Đức Phật suy xét để xiển dương Giáo Pháp. Ngay khi nghĩ như vậy, dù đang ngồi trên cao thuyết Pháp, Đức Phật quyết định trong tâm như sau: “Ước cho thân ta hòa nhập làm một với Tâm ta”. Lý do cho việc biến hóa thân này là vì nếu Đức Thế Tôn xuất hiện và rời khỏi nơi thuyết Pháp bằng thân vật chất của Ngài, thì tất cả thính chúng cũng phải đứng lên và đi theo Đức Phật và nếu vậy khó có thể tập hợp đại chúng lại để tiếp tục bài Pháp. Vì vậy, Đức Phật đã dùng thần thông biến trong nháy mắt để vô nghỉ trong hương phòng.

Bài Pháp của Đại Đức Xá-lợi-phất

Không lâu sau khi Đức Phật đi khỏi, Tôn giả Đức Xá-lợi-phất bắt đầu giảng tiếp bài Pháp. Tóm tắt như sau:

“Kính thưa đại chúng. Khi mà Đức Thế Tôn sống và thực hành Hạnh Viễn Ly Thân, Viễn Ly Tâm và Viễn Ly Sanh Y, thì tại sao các Đệ Tử của Ngài lại không tinh tấn hành trì theo các Hạnh Viễn Ly? Và tại sao họ lại phải noi theo Đức Phật để thực hành điều này?”

Đại Đức đã đưa ra hai câu hỏi trên cốt để mở đầu bài Pháp của mình. Dưới thời Đức Phật, những vị Tỷ-kheo đã có mười hay trên mười tuổi hạ được gọi là Thượng Tọa (Thera). Từ năm đến chín hạ được gọi là Trung Tọa (Majjhima). Dưới năm hạ được gọi là Tân Tỷ-kheo (Nava). Và bài Pháp đã được giảng trực tiếp cho tất cả các bậc Tỷ-kheo.

Những Người Không Tuân Thủ Ba Hạnh Viễn Ly Trên

–  Các vị Đệ Tử nào không noi theo Đức Phật để thực hành ba Hạnh Viễn Ly này bởi các lý do:

1/ Không từ bỏ các Bất Thiện Pháp mà Đức Phật dạy phải từ bỏ.

2/ Vì tiếp tục lo tích trữ thêm Tứ Vật dụng, họ đã bỏ rất ít thời gian cho việc thực hành Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā)

3/ Tăng trưởng năm triền cái và do đó chắc chắn dẫn đến các khổ cảnh. Họ không nỗ lực thực hành để giải thoát khỏi bốn Sanh Y, sự thực hành được coi là nhiệm vụ bắt buộc đối với Tỷ-kheo.

Này các quí vị, bậc Tỷ-kheo có thể là đối tượng khiển trách vì ba lý do sau:

1. Các đệ tử không miên mật học theo lối sống Viễn Ly (viveka) của Đức Thế Tôn.

2. Các vị không chịu từ bỏ những điều Đức Phật dạy phải từ bỏ.

3. Các vị quên đi không thực hiện các nghĩa vụ bắt buộc đối với các Tỷ-kheo, họ hành xử vô trách nhiệm, không phấn đấu tu tập để chứng ngộ Niết-bàn.

Bị Khiển Trách

(1) “Hãy nhìn các bậc Thượng tọa Cao Hạ (vassa) kia. Họ không hề sống trong các tu viện nơi rừng sâu hay núi cao yên tĩnh hiền hòa. Họ chỉ quan tâm sao cho khỏi phải sống xa làng mạc, họ miệt mài trong việc vui vẻ giao du kết bạn. Họ không thực tập Hạnh Viễn Ly Thân, chẳng để ý tới Viễn Ly Tâm và viễn lySanh Y. Khó mà tưởng tượng được họ đã hành xử ra sao khi họ còn là Trung Tọa và Tân Tỷ-kheo. Vì vậy, họ đáng bị chê trách. Này các Tỷ-kheo, nếu các vị không hoàn thiện trong việc thực tập ba loại Viễn Ly này, thì các vị sẽ bị người ta khinh thường”. Đó là lời Tôn Giả Xá-lợi-phất.

(2) Này các Tỷ-kheo, mặc dù những vị trên có tuổi hạ cao, nhưng họ chưa hề gột rửa được ô nhiễm về Tham, Sân, Si như được Đức Phật chỉ dạy. Thậm chí họ không hề tịnh tâm được chút xíu nào khi ngồi thiền, dù chỉ là một lát. Làm sao có thể coi là họ đã hoàn thành thời kỳ Trung Tọa và Tân Tỷ-kheo? Họ sẽ bị chê trách, chê cười như vậy đó.

(3) Này các Tỷ-kheo, những vị Thượng Tọa này, mặc dù tuổi hạ cao, họ lại chẳng hề tri túc với những gì họ có. Họ chỉ quan tâm đến việc tô điểm cho tấm thân bất tịnh này với y bát và tứ vật dụng, tìm các trú xứ tiện nghi như chùa lớn và giường êm. Họ không hề thực hành Hạnh ẩn cư, Viễn Ly khỏi bốn Sanh Y bằng cách thực hành Bát Chánh Đạo để dẫn tới chứng ngộ Niết-bàn.”Làm sao mà những người này có thể từng là một Trung Tọa và Tân Tỷ-kheo theo đúng nghĩa?”. Đó là lý do họ bị chế giễu và nếu không khéo, các các vị rất có thể bị chê cười như vậy. “Làm sao những con người kiểu đó có thể trở thành một vị Đại Trưởng Lão?”. Những vị Trung Tọa và Tân Tỷ-kheo có thể sẽ nhận được những lời lên án như vậy. Đó là những gì Tôn giả Xá-lợi-phất căn dặn các Tỷ-kheo.

Những Vị Noi Gương Thực Hành Ba Hạnh Viễn Ly

“Này các Tỷ-kheo, Vị Thầy của tất cả loài người và loài trời, Đức Thế Tôn, đã sống với ba Hạnh Viễn Ly này. Do đó, tất cả các Đệ tử, dù ở bậc hạ (vassa) nào cũng noi gương thực hành miên mật ba Hạnh Viễn Ly trên.

(1) Họ từ bỏ những học thuyết mà Đức Phật cấm theo.

(2) Họ không sống thừa thãi trong Tứ Vật Dụng. Họ không quên lãng việc hành trì để thành tựu Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā).

(3) Họ đã diệt trừ được năm triền cái để không bị xuống bốn khổ cảnh. Họ đặt lên hàng đầu các cho các nhiệm vụ cần có ở một bậc Tỷ-kheo và tinh tấn nỗ lực chứng ngộ Niết-bàn để Viễn ly bốn Sanh Y.

–  Này các Tỷ-kheo, trong số những Đệ tử và những người có hành trì theo lời dạy Đức Phật, các Tỷ-kheo Thượng Tọa được khen ngợi do ba lý do sau:

(1) Họ noi theo Đức Phật, tinh tấn hành trì ba Hạnh Viễn Ly.

(2) Họ đã từ bỏ các ô nhiễm Tham (lobha), Sân (dosa), Si (moha) đúng theo lời Phật dạy.

(3) Họ không cố tích lũy tứ vật dụng, không lãng quên nhiệm vụ thực hành Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Họ hoàn toàn diệt trừ năm triền cái dẫn tới bốn khổ cảnh. Họ đã đặt ưu tiên cho các nhiệm vụ cần có ở một bậc Tỷ-kheo và tinh tấn để chứng ngộ Niết-bàn, giải thoát khỏi bốn sanh y.

(Tương tự như vậy với các Hạ tọa và Trung Tỷ-kheo)

Này các Tỷ-kheo, theo cách trên và phải đến mức độ như trên thì những đệ tử và những người theo Phật mới được gọi là noi gương Đức Phật thực hành ba Hạnh Viễn Ly.

Được Ca Ngợi

(1)  Mặc dù các vị Tỷ-kheo này đã thuộc vào bậc Thượng tọa, cao hạ, họ vẫn chọn cách sống trong rừng sâu và vùng núi cao, bên ngoài những vùng có đông dân cư. Dù tuổi già sức yếu, đáng lẽ ra phải ở gần làng mạc, nhưng họ đã không chọn giải pháp này. Bởi vì họ hiểu rằng càng già yếu thì lại càng phải hết sức cố gắng thành tựu các Thiện Nghiệp và trừ diệt hết các bất Thiện Nghiệp. Như vậy, những thí chủ dâng cúng tứ vật dụng sẽ hoan hỷ và hào phóng. Không cần biết bậc Thượng Tọa này đã trải qua những giai đoạn Trung Tọa, Tân Tỳ-kheo thế nào, nhưng họ đã đi tới chỗ được khen ngợi tôn kính vô cùng vì đã nỗ lực trở thành một người Thừa tự Pháp. Họ được cả Đức Phật lẫn những Thánh nhân khác tán dương.

(2)  Những vị Tỷ-kheo này đã theo đúng lời Đức Phật chỉ dẫn để tận diệt ô nhiễm Tham (lobha), Sân (dosa), Si (moha). Họ thực tập Hạnh Viễn Ly Tâm bằng cách Hành Thiền Chỉ (Samatha) đề mục Kasiṇa và nhờ thế đạt được tám tầng Thiền. Mặc dầu những vị Thượng tọa Tỷ-kheo này đã đến lứa tuổi cao nên ở cùng với các vị Tỷ-kheo khác để được giúp đỡ chăm sóc. Nhưng họ chọn giải pháp là vào cốc của mình để hành thiền ngay khi ăn xong và chỉ trở ra ngoài vào buổi tối. Cũng vậy, một khi đã quay lại cốc mình vào buổi tối để hành thiền, họ chỉ ra ngoài khi trời đã sáng. Bằng cách này, họ miên mật siêng năng thực tập các đề mục thiền Kasiṇa, chứng được các tầng thiền và chứng Đạo và Quả. Với những sự chứng đắc này, họ liễu ngộ Niết-bàn. Trong giai đoạn đầu thực tập Kasiṇa và Vipassanā, thỉnh thoảng các ô nhiễm vẫn khởi lên trong tâm, trong khoảng thời gian vị đó đắc định an trú trong các tầng Thiền, thì những ô nhiễm được tận diệt trong đúng khoảng thời gian đó mà thôi. Chỉ khi đạt Tuệ Thánh Đạo A-la-hán, các ô nhiễm mới hoàn toàn bị diệt tận gốc rễ không còn dư sót và đây là lúc giai đoạn Viễn Ly Tâm được thành tựu viên mãn. Bằng cách này và vì lý do thứ hai này những vị Thựợng Tọa sống trong Giáo Pháp (sāsanā) đề Thừa tự Pháp, xứng đáng được Phật và những vị Thánh ngợi khen.

(3)  Khi tuổi cao sức yếu, những vị Tỷ-kheo này xứng đáng được những vật dụng tốt – như y được may bằng lụa hay các loại sợi mỏng, mềm mịn và thoải mái dễ chịu. Nhưng ngược lại, ngay cả trong khi Cao niên, Lạp Trưởng, họ cũng chỉ mặc y phấn tảo, hay may bằng vải vụn từ những y cũ rách. Họ nghiêm túc thực hành lời Phật dạy về tam vô lậu học Giới (Sīla), Định (Sāmadhi), Tuệ (Paññā) và an trú trong Giáo Pháp, thoát khỏi những chướng ngại và bất tịnh gây ra bởi năm triền cái và các ô nhiễm, thoát khỏi bốn sanh y và tập trung vào để thành tựu Quả vị. Đây là lý do thứ ba khiến họ được gọi là những người Thừa tự Pháp, xứng đáng được Đức Phật và các vị Thánh ngợi khen. (Tương tự đối với các bậc Tân và Trung Tỷ-kheo)

Để tóm tắt lại những gì trong đoạn trên, có tất cả chín lý do để chê trách những vị Tỷ-kheo gọi là những người Thừa tự Tài vật (āmisa), ba lý do đối với mỗi bậc Tỷ-kheo.

Tương tự có chín lý do để tuyên dương các vị Tỷ-kheo được gọi là những người Thừa tự Pháp.

Sau bài thuyết giảng về chín lý do khen ngợi và chín lý do chê trách, tức là mười tám lý do trên những đối tượng hoặc Thừa tự Pháp hoặc Thừa tự Tài vật, một bài Pháp được giảng thêm về các trạng thái tâm cần phải trừ diệt. Tóm tắt bài Pháp như sau:

16 Tùy Phiền Não Cần Diệt Trừ

1.  Tham (Lobha): ước mong bám víu và tham đắm dục lạc thuộc loài hữu tình, vô tình cũng như các cõi lạc (người, chư thiên, phạm thiên).

2.  Sân (Dosa): ước muốn hãm hại / hủy diệt người khác.

3.  Phẫn nộ (kodha): Ý muốn chiếm hữu một cách tức giận.

4.  Cột hận (Upanāha): có ý nghĩ đen tối hận thù.

5. Bạc ơn (Mekkha)

6.  Kiêu mạn (Palāsa) (Về hơn thua địa vị xã hội, vật chất).

7.  Ganh tỵ (Issā): ganh tỵ với địa vị, thành công của người khác

8. Bỏn xẻn (Macchera)

9. Xảo trá (Māyā)

10. Khoa trương (Sāṭheyya)

11. Ngoan cố (Thambha): tánh khó dạy

12. Đàn áp, bức hại người khác (Sārambha)

13. Ngã mạn (Māna)

14. Tăng thượng mạn (Atimāna)

15. Mê đắm (Mada): say mê trong bất thiện

16. Dễ duôi (Pamāda) trong việc hành trì Giới, bố thí, hành thiền và các pháp Nghiệp khác.

Những trạng thái tâm bất thiện trên không nên có được trong tâm vị Tỷ-kheo và nếu có cần phải được diệt trừ bởi bất cứ thành viên nào trong Tăng đoàn. Những trạng thái tâm bất thiện này sẽ dẫn tới chia rẽ Tăng đoàn, chia rẽ Ni đoàn, sự bất hòa giữa các Phật tử và trong loài người nói chung.

Trong số các bất thiện tâm trên, tham sẽ dẫn dắt các Tỷ-kheo đến chỗ Thừa tự tài vật (āmisa). Những vị Tỷ-kheo này sẽ bị áp đảo bởi tham ái và dính mắc vào vật chất, tài vật. Nếu các tài vật (āmisa) không đạt được, lập tức sân (dosa) sinh khởi. Nói cách khác, nếu tài vật không có được, lo lắng và đau khổ sẽ thế chỗ của tham muốn và dính mắc. Thậm chí ngay cả khi tài vật được thỏa mãn thì sự dính mắc và bám víu (chấp thủ) vào tài vật này sẽ gia tăng. Khi mà không có ai cúng dường, hoặc đồ cúng dường không được vừa ý thì sân hận và bất toại nguyện đối với Thí chủ cúng dường hoặc đối với Tứ vật dụng được cúng dường lập tức sanh khởi. Sự ám ảnh phải tìm kiếm cho ra Tứ vật dụng đến từ lòng tham (taṇhā). Việc tầm cầu luôn sanh khởi đối với Tứ vật dụng cũng như tất cả những loại vật chất khác.

Vì vậy, chín loại phiền não có gốc rễ từ tâm tham (lobha) sẽ hình thành như sau:

1. Tầm cầu (Pariyesana): mải mê tầm cầu tài vật do bị tham ám ảnh.

2. Lợi đắc (Lābha): phải kiếm/ có bằng được những vật chất này, do sự tầm cầu thúc đẩy.

3. Phân chia (Vinicchaya): sau khi kiếm được tài vật, bận rộn tâm trí trong việc chia phần sao cho hợp lý (phần này để cho mình, phần này cho người khác, phần để dành, phần để tiêu…)

4. Dục ác (Chandarāga): phấn khích, mải mê đối với việc tính toán trên.

5. Tham lam (Ajjhosāna): mê đắm và dính mắc đối với tài vật trên mạnh mẽ đến nổi không dám sử dụng nó vì sợ mất, hư hao.

6. Chấp giữ (Pariggaha): khư khư ôm giữ làm của mình vì sợ bị mất của.

7. Bỏn xẻn (Macchariya): keo kiệt, tủn mủn do sự khư khư ôm giữ quá đáng sanh ra.

8. Giữ của (Ārakkha): luôn canh phòng, bảo vệ những của cải vì keo kiệt, bủn xỉn.

9. Vì chấp thủ dính mắc vào sở hữu tài vật nên nghĩ ra đủ các điều xấu xa tội lỗi, tranh chấp, vu khống, phỉ báng, dối trá….

Hơn thế, những suy nghĩ đen tối, tội lỗi như ghen tức với chùa chiền khác, tặng phẩm, thí chủ hay Thiện tín; nói chung là tài vật hay các thành tựu Pháp học hay Pháp hành của người khác. Những loại tật đố này cũng là thành tố của tâm sân (dosa).

Những ô nhiễm kể trên là các Pháp bất thiện dẫn dắt Tỷ-kheo tới chỗ chỉ Thừa tự tài vật (āmisa), chứ không thừa tự Giáo Pháp (Dhamma). Chính vì vậy, Đại Đức Xá-lợi-phất có tiếp nối đoạn kinh sau:

“Này các Tỷ-kheo,

16. Tham là bất thiện tâm,

17. Sân là bất thiện tâm (cũng vậy là các ô nhiễm khác Kodha, Upanāha, Mekkha, Palāsa, Issā, Macchera, Māyā, Sāṭheyya, Thambha, Sārambha, Māna, Atimāna, Mada,

18. Pamāda cũng là bất thiện tâm.

Tất cả mười sáu tùy phiền não này chỉ có thể tận diệt bằng cách thực hành con đường Trung đạo – Đó chính là Bát Chánh Đạo – Con đường Trung đạo này sẽ có thể:

1. Tác thành mắt (Cakkhukaraṇī): khiến một người thành tựu con mắt Trí Tuệ để hiểu sâu sắc Tứ Thánh Đế.

2. Tác thành trí (Ñānakaraṇī): giúp một người có Trí Tuệ Minh Sát để có thể liễu ngộ sâu sắc Tứ Thánh Đế.

3. Đưa đến an tịnh (Upasamāya): tức là giúp hành giả dập tắt lửa phiền não (mười sáu tùy phiền não)

4. Đưa đến thắng trí (Abhiññaya): giúp hành giả có Trí Tuệ (như các Tuệ Vipassanā), nhằm liễu ngộ Tứ Thánh Đế.

5. Đưa đến giác ngộ (Sambhodāya): bằng cách giúp đưa đến Tuệ Đạo của một bậc Thánh, để thấy và hiểu thấu suốt Tứ Thánh Đế.

6. Đưa đến Niết-bàn (Nibbānāya): bằng cách giúp hành giả chứng ngộ Niết-bàn.

Con Đường Trung Đạo.

Con đường Trung đạo là Bát Chánh Đạo – Pháp thanh tịnh và Pháp của các bậc Thánh. Thế nào là tám? – Đó là:

1- Chánh Kiến Samādiṭṭhi = Thấy và biết Tứ Diệu Đế.

2- Chánh Tư duy Sammāsaṅkappa = đặt tâm muốn thấy và biết Tứ Thánh Đế.

3- Chánh Ngữ Sammāvācā = cố ý tránh nói dối, không nói lời chia rẽ, lời thô ác và tránh nói không đúng thời hay không đúng chỗ.

4- Chánh Nghiệp Sammākammanta = cố ý tránh hành động, hành xử bất thiện, chỉ làm những điều thiện (ví dụ như: Hành thiền chỉ và quán)

5- Chánh Mạng Sammā-ājīva = cố ý tránh các cách kiếm sống tà vạy, sai trái.

6- Chánh Tinh tấn Sammāvayāma = nỗ lực tận diệt các bất thiện Nghiệp bằng cách gieo trồng thiện Nghiệp (như hành thiền Chỉ – Quán miên mật.)

7- Chánh Niệm Sammāsati = luôn giữ niệm đúng đắn trên các đề mục thiền Chỉ – Quán.

8- Chánh Định Sammāsamādhi

“Này các Tỷ-kheo – Đó là con đường Trung Đạo”. Đức Thế Tôn nói và kết thúc bài kinh Thừa Tự Pháp.

Để có thể trở thành những đệ tử thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật, chúng ta phải thực hành Bát Chánh Đạo một cách miên mật và có hệ thống từ thấp đến cao, để cuối cùng có thể thấy và biết thấu đáo Tứ Diệu Đế. Nhờ chứng ngộ được A-la-hán Thánh Đạo Tuệ và A-la-hán Thánh Quả, lúc đó mỗi người có thể tuyên bố rằng:

‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’’ti abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṃ ahosīti. (S. 2.56.)

“Ta đã thành tựu viên mãn việc thực hành Bát Chánh Đạo – điều cần phải được tu tập hành trì trong Giáo Pháp (sāsanā), Ta đã làm xong những việc cần làm trong thời kỳ có Giáo Pháp, liên quan đến Đạo Giải thoát”.

Như đã đề cập trong kinh Vô ngã Tướng và các bài kinh khác, mỗi người bắt buộc phải hoàn thiện những việc cần làm trong thời kỳ có Giáo Pháp, để trở thành một người như vậy, vị ấy cần phải thành tựu được hai điều kiện tiên quyết sau:

1. Tinh tấn thực hành tu tập, với quyết tâm mạnh mẽ chứng Đạo – Quả – Niết-bàn, luôn khao khát muốn gieo trồng thiện Nghiệp gồm cả Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa) bằng cách tu tập Bát Chánh Đạo trong kiếp cuối cùng thuộc thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật trong hiện tại.

2. Luôn duy trì trong tâm khát vọng mãnh liệt và cháy bỏng để thành tựu Chánh Trí bằng việc tu tập Bát Chánh Đạo.

Hai điều kiện tiên quyết này cần được hoàn thiện sao cho Ba-la-mật trong yếu tố số một được củng cố và hỗ trợ bởi Ba-la-mật trong yếu tố hai ở trên, để cuối cùng thành tựu được Chánh trí.

Khát Vọng Mãnh Liệt Trong Tâm.

Có người hỏi rằng để viên mãn Chánh trí, nó thật sự cần thiết không, ngoài việc hoàn thiện các Ba-la-mật gồm Minh (vijjā) và Hạnh (caraṇa), còn cần phát triển một tâm khao khát mãnh liệt nữa không?

Ở đây, chúng ta biết bốn yếu tố trong “Tứ như ý túc” (iddhipāda) để khát vọng thành tựu Chánh Trí này trở thành hiện thực:

1. Dục (chanda): Khát vọng (nguyện ước) mãnh liệt thành tựu Chánh trí.

2. Cần (vīriya): nỗ lực không ngừng nghỉ thành tựu Chánh trí

3. Tâm (citta): Tâm mạnh mẽ, sâu sắc hướng tới thành tựu Chánh trí

4. Tuệ (vīmaṃsa): Trí Tuệ thấu hiểu và sắc bén về tam tướng Khổ, Vô thường. Vô ngã.

Trong quá trình tu tập nỗ lực để làm tròn đầy các Ba-la-mật cần thiết (nhằm thành tựu Chánh Trí), nếu hành giả ưu tiên lấy một trong bốn yếu tố trên để thực hành, thì lập tức ba yếu tố còn lại sẽ theo sau.

Ví dụ: nếu yếu tố một là “Dục” (Chanda) đi đầu thì ba yếu tố Cần (Vīriya), Tâm (Citta), Tuệ (Vīmaṃsa) còn lại sẽ xuất hiện sau. Cũng vậy, nếu Cần như ý túc đi đầu thì ba yếu tố còn lại là Dục, Tâm, Tuệ như ý túc sẽ theo sau. Nhưng cần chú ý rằng trong một số trường hợp “Dục như ý túc” được đặt ưu tiên lên hàng đầu, nhưng ngược lại trong trường hợp khác, nó lại chỉ là yếu tố đi theo sau.

Sau khi đã hoàn thiện các nhiệm vụ cần làm trong cả Bát Chánh Đạo Hiệp Thế và Bát Chánh Đạo Siêu Thế, các bậc A-la-hán thường nhập và an trú trong các trạng thái sau. bởi họ mong ước mạnh mẽ hưởng được hiện tại lạc trú trước khi họ hoàn toàn giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử (Đại bát Niết-bàn). Những trạng thái mà các bậc Thánh an trú là:

1. Nhập các tầng thiền Định.

2. Nhập (A-la-hán Quả) Arahattaphala

3. Nhập Diệt Thọ Tưởng Định Nirodhaphala

4. Hành thiền Vipassanā vipassanā bhāvanā

5. Thẩm sát và nghiên cứu các Trí Tuệ Đặc Biệt, năng lực Thần thông.

Và thỉnh thoảng họ dành thời gian của mình vào việc:

6. Giảng Pháp nhằm sách tấn những người khác giác ngộ về Tứ Thánh Đế, điều mà các vị Thánh đã thành tựu viên mãn.

7. Liên tục tổ chức triệu tập họp Tăng Đoàn với mục đích duy trì kéo dài thêm thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật.

8. Hoằng Pháp (xiển dương kinh kệ của Đức Phật).

Bằng cách này, các bậc A-la-hán đã hoàn thành, thực hiện những điều cần làm – bằng cách đặt lên hàng đầu một trong bốn yếu tố của Tứ như ý túc trên. Trong tất cả các bậc A-la-hán, những vị Thánh đã thực hiện hoàn thành viên mãn các việc cần làm, thì Tôn giả Xá-lợi-phất trong kinh Thừa Tự Pháp được coi là bậc A-la-hán mẫu mực trong Giáo Pháp. Ngài thực sự luôn giữ đúng chuẩn mực trong tất cả mọi trường hợp, dù những người khác có hành xử đúng hay sai. Một trong các phương pháp tu tập mà Tôn giả Xá-lợi-phất thường thực hành đã được mô tả trong bài kinh “Sư Tử Hống “(thuộc Tăng Chi Bộ Kinh). Bài kinh mô tả trạng thái tâm Thánh thiện của bậc Thượng Trí với một nhân cách đáng tôn kính ở Tôn giả Xá-lợi-phất, mà tất cả chúng ta đều nên noi theo. Trích đoạn kinh:

“Thưa Đức Thế Tôn ví như mặt đất vĩ đại, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và máu.

Ví như mặt đất không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán (không vui không buồn) với những thứ quăng ném đó. Cũng vậy, thưa Đức Thế Tôn, tâm con an trú trong Giáo Pháp với tâm rộng mở, không thiên vị, công bằng, thánh thiện, tâm vô lượng, không có kẻ thù (không có bất thiện tâm là kẻ thù bên trong, không có tâm thù oán, dối nghịch người khác là kẻ thù bên ngoài) và không ganh ghét, không đau buồn, khổ não, giữ được tâm bình thản giống như đất vậy.”

KINH SƯ TỬ HỐNG

Bài kinh đã ra đời trong hoàn cảnh như sau:

“Như vậy tôi nghe: Một thời, Sau Khi Đức Thế Tôn trải qua mùa an cư ở thành Xá Vệ, tại Kỳ Đà Lâm, do ông Cấp Cô Độc xây cất và cúng dường. Thực tế là cho tới cuối mùa an cư, Đức Phật không đi bất cứ nơi nào ngoài Tịnh Xá. Lúc đó, Tôn giả Xá-lợi-phất nghĩ rằng “Nếu Đức Thế Tôn muốn đi du hành trong quốc độ, thì đây là thời điểm thích hợp. Cho nên ta sẽ gợi ý để Thế Tôn đi lúc này”. Với ý nghĩ đó, Tôn giả Xá-lợi-phất tập hợp những vị Tăng khác quanh mình và đến chỗ Đức Phật.

Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Đức Thế Tôn:

– Bạch Đức Thế Tôn, con đã sống an cư trong mùa mưa tại thành Xá Vệ. Bạch Thế Tôn, nay con muốn ra đi du hành trong quốc độ.

Đức Thế Tôn cho phép và nói rằng:

– Này Xá-lợi-phất, nay Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời.

Thế là Tôn giả Xá-lợi-phất rời khỏi Tinh Xá với một đoàn tùy tùng gồm nhiều Tăng và những ngừơi khác cùng đi.

Đúng lúc ấy, một sự giận dữ vô cớ diễn ra trong đầu của một vị sư. Khi thấy Tôn giả Xá-lợi-phất rời khỏi Tinh Xá với một đoàn tùy tùng rất đông, vị ấy nghĩ: “Những vị Tăng này lại đi cùng Tôn giả Xá-lợi-phất mà bỏ Đức Phật ở lại. Ta phải dừng chuyến du hành này lại mới được”

Có một lý do rất nhỏ nhặt khiến vị Sư muốn phá vỡ chuyến du hành này là: Sau khi đảnh lễ Đức Phật, Tôn giả Xá-lợi-phất đứng dậy và tiến về phía Đức Thế Tôn. Khi đi ngang qua vị Sư này, vô tình, viền áo ngài Xá-lợi-phất chạm nhẹ vào người vị Sư. Một số người nói rằng sự xúc chạm ấy tạo nên do luồng gió nhẹ trong lúc Tôn giả di chuyển, chứ không hề do cố ý. Chỉ vì một chuyện nhỏ vô tình này mà vị sư nảy sinh ghen ghét. Thêm vào đó, khi thấy Tôn giả Xá-lợi-phất rời khỏi Tinh Xá với một đoàn tùy tùng rất đông đã khiến vị ấy tức tối và muốn dừng chuyến du hành lại.

Ngoài ra, còn có một lý do khác được giải thích trong Chú giải Kinh Pháp Cú như sau:

Sau khi đảnh lễ Đức Phật, Đại Trưởng lão Xá-lợi-phất và đoàn Tăng tháp tùng bắt đầu rời khỏi Tinh Xá Kỳ Đà lâm. Nhưng lúc đó, ngoài đoàn Tăng tháp tùng Ngài còn có thêm những vị sư khác cũng đòi đi theo Ngài, để giải tán những vị sư không có phận sự đi theo này, Tôn giả Xá-lợi-phất đã đọc tên họ từng người mà Ngài biết mặt.

Trong số đó chỉ có duy nhất một vị sư mà Ngài không nhớ họ tên. Vị Sư này chờ Ngài Xá-lợi-phất ban cho vinh dự là đọc đúng tên họ của mình để trở về, nhưng lúc ấy Ngài Xá-lợi-phất không thể nhớ ra tên họ của vị này, dù đây là người duy nhất trong cả hội chúng đông đảo như vậy. Với một ý nghĩ sai lầm là: “Tôn giả Xá-lợi-phất đã không tôn kính ta như các vị Tỷ-kheo khác”, vị sư này nảy sinh ác cảm với Ngài, cộng thêm chuyện là bị viền áo Ngài Xá-lợi-phất chạm vào người nên sự ghen ghét càng tăng lên.

Với tính thù vặt, vị ấy tính toán như sau: Vào lúc này, Tôn giả Xá-lợi-phất và đoàn tùy tùng chắc hẳn đã dời khỏi Tinh xá, ta đến gặp Đức Phật và dựng chuyện phóng đại như sau: “Thưa Đức Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-phất, mặc dầu với cương vị là một Thượng thủ Thanh Văn, đã đánh mạnh vào tai con gần như điếc, mà không hề nói lời xin lỗi trước khi vị ấy đi.”

Khi nghe thấy những lời buộc tội này, Đức Phật suy xét: “Nếu ta nói là Tôn giả Xá-lợi-phất không hề làm hại ông” thì lập tức vị đó trả đũa lại: “Đức Thế Tôn bênh Trưởng lão Xá-lợi-phất chứ không bênh con”.

Bằng cách nói như vậy, vị đó sẽ nghĩ sai lầm về ta. Nếu vị đó phạm phải sai lầm này, chắc chắn sẽ bị đọa xuống bốn khổ cảnh trong kiếp sau. Thấy rõ điều này, Đức Phật nghĩ nên triệu tập Tôn giả Xá-lợi-phất tới đối chất việc này. Do đó, Ngài bảo vị Tỳ-kheo này là:

– Này Tỳ-kheo, hãy nhân danh Ta, nói với Tôn giả Xá-lợi-phất: “Thưa Tôn giả, bậc Đạo Sư cho gọi Tôn giả.”

– Thưa vâng, bạch Đức Thế Tôn.

Vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Xá-lợi-phất, và nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:

– Thưa Hiền giả Xá-lợi-phất, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.

– Thưa vâng, này Hiền giả.

Tôn giả Xá-lợi-phất vâng đáp Tỷ-kheo ấy. Lúc bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên và Tôn giả Ānanda cầm chìa khóa, đi từ tinh xá này đến tinh xá khác nói rằng:

– Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Nay Tôn giả Xá-lợi-phất sẽ rống tiếng rống con sư tử trước mặt Thế Tôn.

Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên Thế Tôn, nói với Tôn giả Xá-lợi-phất đang ngồi xuống một bên:

– Ở đây, này Xá-lợi-phất, một đồng phạm hạnh có điều bất mãn với Thầy: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-phất, mặc dầu với cương vị là một Thượng thủ Thanh Văn, đã đánh mạnh vào tai con gần như điếc, mà không hề nói lời xin lỗi trước khi vị ấy đi “.

“Thật vậy, bạch Thế Tôn, với ai không an trú niệm thân trên thân, người ấy, ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

1.  Ví như, bạch Thế Tôn, trên đất, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không xấu hổ, hay không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như đất, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

2.  Ví như, bạch Thế Tôn, trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ bất tịnh, rửa sạch phẩn uế, rửa sạch nước tiểu, rửa sạch nước miếng, rửa sạch máu, rửa sạch mủ; tuy vậy nước không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như nước, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

3.  Ví như, bạch Thế Tôn, lửa đốt các đồ tịnh, đốt các đồ bất tịnh, đốt phẩn uế, đốt nước tiểu, đốt nước miếng, đốt mủ, đốt máu; tuy vậy lửa không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như lửa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

4.  Ví như, bạch Thế Tôn, gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ bất tịnh, thổi phẩn uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu; tuy vậy gió không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như gió, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

5.  Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

6.  Ví như, bạch Thế Tôn, con trai của một người Caṇḍāla (Chiên-đà-la: hạ liệt) hay con gái của một người Caṇḍāla, với tay cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn, với một tâm trạng hạ liệt. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như con trai của một người Caṇḍāla hay con gái của một người Caṇḍāla, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

7.  Ví như, bạch Thế Tôn, một con bò đực, với sừng bị cưa, hiền lương, khéo điều phục, khéo huấn luyện, đi lang thang từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, không hại một ai với chân hay với sừng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như một con bò đực với sừng bị cưa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

8.  Ví như, bạch Thế Tôn, một nữ nhân hay một nam nhân còn trẻ tuổi, thanh niên, ưa thích trang điểm, sau khi gội đầu, sẽ lo âu, xấu hổ, nhàm chán nếu xác rắn, hay xác chó, hay xác người được cuốn vào cổ người ấy. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con lo âu, xấu hổ, nhàm chán với cái thân đầy bất tịnh này. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

9.  Ví như, bạch Thế Tôn, có người mang một cái bát đầy mỡ, có thủng nhiều lỗ, thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con mang cái thân này, có thủng nhiều lỗ, có thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Đại Trưởng lão đã dùng chín ví dụ trên để diễn tả trạng thái tâm thánh thiện mà Ngài đã phát triển được nhờ quá trình tu tập. Rồi khi nghe những lời vang dội này, vị Tỷ-kheo đã phỉ báng Tôn giả Xá-lợi-phất ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện. Con đã xuyên tạc Tôn giả Xá-lợi-phất, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Mong Thế Tôn chấp nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn đón về tương lai.

– Này Tỷ -kheo, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Thầy đã xuyên tạc Tôn giả Xá-lợi-phất, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Này Tỷ-kheo, vì Thầy đã thấy tội ấy là một tội, đã phát lộ đúng pháp, Ta chấp nhận tội ấy cho Thầy. Ðây là một sự tiến bộ, này Tỷ -kheo, trong Pháp Luật của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, phát lộ đúng pháp, và ngăn đón trong tương lai.

Rồi Thế Tôn, nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:

– Này Xá-lợi-phất, hãy tha thứ kẻ ngu si này, ông ta còn quá xa với Đạo và Quả, để đầu của ông ta khỏi bị chẻ ra làm bảy mảnh.

– Bạch Thế Tôn, con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: “Hãy tha thứ cho”, và nếu con có phạm lỗi Tôn giả ấy cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con.

Đó chính là một tấm gương tiêu biểu mẫu mực của một bậc Thánh đáng được noi theo, trong đó Bát Chánh Đạo Hiệp Thế và Bát Chánh Đạo Siêu Thế đã được tu tập cho tới lúc thành tựu viên mãn A-la-hán Thánh Đạo, theo tấm gương ấy, việc tu tập theo đúng cách thức xa xưa từ thời Đức Phật đã được thực hành trong Giáo Pháp (sāsanā).

Thân Hành Niệm (Kāyagatā Sati)

Theo năm mươi hai kinh cuối của Kinh Trung bộ có bài kinh: “Thân Hành Niệm” (Kāyagatā Sati Sutta (M. 3.130-140)) mà trong chú giải có giải thích như sau:

“Kāyagatāsatinti kāyapariggāhikampi kāyārammaṇampi satiṃ. Kāyapariggāhikanti vutte samatho kathito hoti, kāyārammakanti vutte vipassanā. Ubhayena samathavipassanā kathitā honti” (MA.4.102)”

Vậy theo giải thích như trong bản ngữ Pāli trên, Thân Hành Niệm được hiểu như sau:

– Niệm thân có tính chất Giới hạn

– Niệm trên đối tượng là ba mươi hai thân phần.

Satisīsena taṃsahagate bhavaṅgadhamma vadati (MA.3.315)

Theo phụ chú giải có giảng rằng, đối tượng của niệm không chỉ gồm ba mươi hai thân phần thuộc Sắc Pháp, mà bao gồm luôn tất cả Danh Pháp. Nói cách khác, nó gồm tất cả các pháp thuộc Danh pháp, trong mỗi sát-na tâm và mỗi tốc hành tâm, đồng sanh với tâm sở niệm.

+ Cho nên Kāyapariggāhikasati = “niệm thân giới hạn”, ở đây muốn ám chỉ đến phần Thiền chỉ (Samatha)

+ Còn kāyarammanasati = “niệm thân”, lúc này muốn ám chỉ đến phần Thiền Vipassanā.

Kāyoti dve kāya nāmakāyo ca rūpakāyo ca (PsM.181)

Theo phần “Niệm hơi thở” trong “Vô Ngại Giải Đạo” bằng tiếng Pāli như trên đây, từ “Thân” (Kāya) trong “Thân Hành Niệm” (Kāyagatā) phải được hiểu như sau:

1. nāmakāya = nhóm danh pháp (thuộc thân)

2. rūpakāya = nhóm sắc pháp (thuộc thân).

Chữ kāya (thân) chính là sự kết hợp của cả hai – tức cả nhóm danh và sắc pháp. Trong nhóm sắc pháp thuộc thân “Rūpakāya” là các pháp thuộc sắc Chân Đế gồm hai loại sau:

1 – “bhūta” = nhóm sắc tứ đại (đất, nước, lửa, gió)

2 – “upādā” = nhóm 24 sắc y đại sinh (nhóm sắc còn lại trong 28 sắc Chân Đế trừ bốn sắc tứ đại trên) đây là những chấp thủ phát sinh từ tâm, đó là: sắc, thinh, hương….

Theo ý nghĩa được giải thích trong Vô ngại giải Đạo ở trên, thì nhóm sắc Chân Đế này là:

1 – assāsakāya (hơi thở vô) và passāsakāya (hơi thở ra).

2 – Ānāpāna Nimitta: Quang tướng được hình thành trên hơi thở ra, vô.

Theo đó kāyapariggāhikasati = “niệm thân giới hạn” thuộc về thiền chỉ. Do đó, như giải thích trong phần trên, “thân “phải được hiểu là “Nhóm Danh pháp và nhóm Sắc pháp” – nói cách khác, “thân” bao gồm:

+ Assāsakāya – passāsakāya = nhóm hơi thở ra – nhóm hơi thở vô = ānāpāna nimitta (quang tướng hơi thở) và đối tượng thiền chỉ được phát sinh do (là kết quả của) năng lực thiền, dựa vào hơi thở ra, vô (các đối tượng thiền chỉ này được mô tả ở phần tới).

+ Còn kāyaramanasati = “niệm trên đối tượng thân” – ở đây có ý nghĩa thiền quán Vipassanā. Vì thế, nó có nghĩa là Nāmakāya (nhóm danh pháp), Rūpakāya (nhóm sắc pháp) được quán sát dưới ánh sáng của tam tướng là Vô thường, Khổ, Vô ngã.

Vậy theo chú giải ở trên, khi sự tu tập của hành giả đã trở nên thuần thục sâu sắc trong thiền có đối tượng là thân, thì cần chú ý rằng nó bao gồm cả thiền chỉ (Samatha) lẫn thiền quán (Vipassanā).

“Kāyagatāsatisutte pana yassa vaṇṇato upaṭṭhāti, taṃ sandhāya cattāri jhānāni vibhattāni (AbA.2.216)

Mahāsatipaṭṭhānasutte cuddasāvidhena kāyānupassanā kathitā, suṇṇakajātāni aṭṭhikāni pariyosānaṃ katvā kāyānupassanā neddiṭṭhā, idha pana kesādīsu vaṇṇakasiṇavasena nibbattitānaṃ catunnaṃ jhāñāṇaṃ vasena uparidesanāya vaḍḍhitatta aṭṭharasavidhena kāyagatāsatibhāvanā (MA.3.315)

Đúng như những điều được giải thích trong chú giải và phụ chú giải, Kinh Đại Niệm Xứ mô tả 14 loại đối tượng cho thân hành niệm. Trong bài kinh “Thân Hành Niệm” (kāyagatāsati sutta) cũng mô tả cách đắc bốn tầng thiền sắc giới – bằng thực tập đề mục bốn kasiṇa màu bằng cách sử dụng chính 32 thân phần làm đối tượng. Ở đây, giải thích rằng chúng ta phải hiểu rõ: tổng số có 18 loại đối tượng cho “Thân hành niệm” như sau:

1-  Phần niệm hơi thở (ānāpana).

2-  Phần tứ oai nghi (Iriyāpatha).

3- Phần Chánh niệm tỉnh giác (Sampajañña)

4-  Phần Quán 32 thể trược (32 thân phần) (Paṭikūlamanasikāra)

5-  Phần quán tứ đại.

6-14: Phần Quán bất tịnh (chín giai đoạn tử thi) (Navasivathika).

Trên đây tổng số là 14 loại cả thảy và 14 loại này được đề cập trong kinh Đại Niệm Xứ. Nhưng Đức Phật đã nhắc lại trong kinh “Thân Hành Niệm” là ngoài 14 loại đối tượng trên, còn có bốn loại thiền sắc giới(rūpāvacara) sử dụng 32 thân phần làm đề mục kasiṇa màu. Vậy trong “Thân Hành Niệm”có tổng số 18 đối tượng tất cả.

Những màu sắc của 32 thân phần có thể dùng làm đề mục kasiṇa là:

1- Màu nâu sẫm, giống màu tóc và các phần mầu nâu khác trong cơ thể được dùng làm đề mục kasiṇa nâu (nīla).

2- Mầu vàng: giống màu nước tiểu và các thân phần có mầu vàng trong cơ thể, được dùng làm đề mục kasiṇa vàng (pīta) trong thiền.

3- Màu đỏ, giống như màu của máu và các thân phần có màu đỏ khác trong cơ thể được dùng làm đề mục kasiṇa đỏ (lohita) trong thiền.

4- Màu trắng, giống như xương và các thân phần có màu trắng khác trong cơ thể được dùng làm đề mục kasiṇa trắng (odāta).

Bằng việc thực tập bốn đề mục kasiṇa màu trên, hành giả có thể đạt bốn tầng thiền sắc giới đối với mỗi đề mục.

(Những giải thích đầy đủ và phương pháp thực tập các loại thiền khác nhau có thể tìm thấy trong năm tập “Pháp Hành Dẫn Đến Niết-bàn” (Nibbānagāminipaṭipadā))

Hơn thế, Đức Phật còn giảng rộng về mười lợi ích đạt được từ việc thực tập 18 loại “Thân Hành Niệm” (kāyagatāsati) trên (bao gồm cả phần thiền chỉ và thiền quán).

Mười Ích Lợi Của Việc Thực Tập 18 Loại Thân Hành Niệm.

1- Có thể khống chế ước muốn hay thèm muốn đắm chìm trong dục lạc và các cảm giác không muốn tích lũy các thiện Nghiệp bằng cách tu tập thiền chỉ và quán.

2- Có thể áp đảo những nỗi lo sợ, khiếp đảm trước sự vật đáng kinh sợ.

3- Có thể chịu đựng những nóng, lạnh, đói, khát quá độ, có thể chịu đựng muỗi, mòng, ruồi, rắn, bò cạp hay bọ chét cắn chích, có thể kiên nhẫn chịu đựng sự mắng chửi, buộc tội từ người khác. Có thể chịu đựng đói khát, bạo lực, tai họa, nghèo khổ, dơ dáy, cay đắng, những nghịch cảnh về thân, tâm trong đời.

4- Có thể đắc bốn tầng thiền sắc giới (rūpāvacara) một cách dễ dàng và không tốn công sức.

5- Có thể chứng đắc các năng lực biến hóa, thần thông đặc biệt.

6- Có thể đắc thiên nhĩ thông

7- Có thể đắc tha tâm thông

8- Có thể nhớ được các kiếp quá khứ.

9- Có thể đắc thiên nhãn thông

10- Có thể đắc lậu tận thông.

Trong trường hợp Đại Trưởng Lão Xá-lợi-phất – Ngài đã viên mãn tu tập thân hành niệm (kāyagatāsati) cho tới lúc không những đạt được mười lợi ích trên, mà còn thành tựu được Trí Tuệ siêu việt của một bậc Thượng thủ Thanh Văn. Bởi đã hoàn thiện tất cả những việc cần làm trong Giáo Pháp (sāsanā) với nguyện lực mãnh liệt (bằng cách đặt lên hàng đầu một trong Tứ như ý túc), Đại Trưởng Lão Xá-lợi-phất dám nói lời dũng cảm và Thánh thiện như tiếng sư tử hống. Đó là một tấm gương mẫu mực về sự tinh tấn nỗ lực phấn đấu, để trở thành một người Thừa Tự Pháp chứ không Thừa Tự tài vật (āmisa) mà các bậc tiền bối từ thời quá khứ đã thực hành. Đó là sự tu tập “Thân Hành Niệm”đúng đắn của các bậc Thánh nhân từ thời xa xưa, đáng được tán thán, khen ngợi, yêu thích, kính trọng và noi theo.

Nguyện cho tất cả các độc giả Thánh thiện của bài viết khiêm nhường này – có khả năng làm trường tồn Giáo Pháp (Sāsanā) bằng cách thành tựu việc noi theo tấm gương của các bậc Thánh nhân từ thời xa xưa tu tập Thân hành Niệm (Kāyagatāsati).

Với tất cả lòng từ.

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw

Trung Tâm Thiền Pa-Auk Tawya

Mawlamyine, tiểu bang Mon, Myanmar

Ngày 28-07-2005

V. SỰ QUÁN TƯỞNG VỀ GIÂY PHÚT HẤP HỐI TRÊN GIƯỜNG BỆNH

Một quyển sách mang thông điệp khẩn cấp của Đức Phật

Cho những ai tầm cầu an lạc, hạnh phúc và tự do trên con đường tâm linh

Tác giả: Ngài Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw U Āciṇṇa

Lời Nói Đầu

“Này các Tỳ-kheo, hãy luôn tinh tấn hành trì. Bởi khó khăn lắm mới có cơ hội gặp Phật ra đời trên thế gian, hiếm hoi lắm mới có cơ hội được sanh ra làm người, được gặp Giáo pháp, được làm người lành lặn có đầy đủ các căn, có niềm tin nơi Phật Bảo, Pháp Bảo, được xuất gia Tỳ-kheo và được cơ hội nghe giảng Pháp của các bậc Thánh, tất cả những điều này là các cơ hội độc nhất.”

Đức Thế Tôn đã nói những lời vô giá này, vào mỗi buổi sáng sau bữa điểm tâm trước tất cả hội chúng trong tinh xá, và toàn thể cận sự nam, cận sự nữ. Thông điệp của Đức Thế Tôn mang đầy tính cấp bách và nhấn mạnh đòi hỏi phải hành động ngay tức khắc. Nó cũng là lời nhắc nhở đầy lòng từ bi rằng chúng ta phải nắm bắt các cơ hội này và đánh giá đúng giá trị cuộc đời và các món quà kèm theo mà đối với nhiều người dường như xem đó là điều tầm thường. Ngoài ra, nó làm thấm nhuần trong chúng ta một ý thức sâu xa việc đánh giá cao sự hướng đến những cơ hội hiếm có mà chúng ta có trong tay. Nó đơn giản và mạnh mẽ truyền cảm hứng cho chúng ta để hành động.

Đức Phật đã thường nhắc nhở ngắn gọn những điều này hàng ngày chỉ với mục đích và ý định làm tăng trưởng và làm thánh thiện đời sống và tâm của các vị đệ tử Tỳ-kheo và các cận sự nam, cận sự nữ, bằng cách đó, dẫn dắt họ đi trên con đường Giác ngộ, giải thoát và hạnh phúc. Ngài mong muốn các đệ tử của mình sẽ trở thành những tấm gương sáng với nỗ lực hành trì trên con đường phát triển tâm linh. Bài thuyết giảng với mục đích và tác ý rõ ràng của Ngài thể hiện qua những lời lẽ như sau:

Phẩm A-Tu-La
(Bài Thuyết Giảng Về Ngạ Quỷ Sứ)

A-tu-la (Asura) tiếng Pāli nghĩa là ngạ quỷ sứ. Trong bài giảng này, được dùng phép ẩn dụ để ám chỉ hạng người ác giới đáng sợ chẳng khác nào loài A-tu-la. Ngược với A-tu-la là Devā (loài chư thiên có thần thông sống ở cõi cao hơn). Trong bài này, nó được liên hệ theo cách ẩn dụ tới hạng người có giới và theo pháp lành.

Này Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

1) Hạng thứ nhất: A-tu-la với quyến thuộc A-tu-la

2) Hạng thứ hai: A-tu-la với quyến thuộc chư Thiên

3) Hạng thứ ba: chư Thiên với quyến thuộc A-tu-la

4) Hạng thứ tư: chư Thiên với quyến thuộc chư Thiên

1. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người A-tu-la với quyến thuộc A-tu-la?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ác giới, theo ác pháp, hội chúng của người ấy cũng ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người A-tu-la với quyến thuộc A-tu-la.

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người A-tu-la với quyến thuộc chư Thiên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ác giới, theo ác pháp, nhưng hội chúng của người ấy có giới, theo pháp lành. Như vậy này các Tỷ-kheo, là hạng người A-tu-la với quyến thuộc chư Thiên

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người chư Thiên với quyến thuộc A-tu-la?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người giữ giới, theo pháp lành, còn hội chúng của người ấy ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người chư Thiên với quyến thuộc A-tu-la.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người chư Thiên với quyến thuộc chư Thiên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người có giới, theo pháp lành, còn hội chúng của người ấy cũng có giới, theo pháp lành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người chư Thiên với quyến thuộc chư Thiên.

Trong các loại người trên, Đức Phật hầu như ưa chọn hạng người thứ tư là hạng mà chính anh ta như chư Thiên và có nhiều thiện bằng hữu xung quanh. Trong bài thuyết giảng này, cho ta thấy phải có trách nhiệm đối với bản thân và những người chung quanh ta. Đức Phật còn nhấn mạnh trách nhiệm rèn luyện phẩm hạnh giới đức và pháp hành là nhiệm vụ cấp bách của mỗi người chúng ta trong đời sống hàng ngày. Hơn nữa, chúng ta hãy học Phẩm Định thứ hai (bài thuyết giảng thứ hai về phát triển định) được trích ra từ Tăng Chi Kinh, kinh điển Pāli.

Phẩm Định Thứ Hai
(Dutiya Samādhi Sutta)

Có bốn hạng người, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh nhưng không được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma) để có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma) có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi, nhưng lại chưa được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chưa được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh, cũng chưa được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma) để có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đã được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh và cũng được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma), có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi.

Trong bốn hạng trên, hạng người thứ nhất đã được An chỉ định, cần nỗ lực tu tập để phát triển Tuệ minh sát, thì sau đó sẽ được cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Với hạng người thứ nhì chỉ được Tuệ minh sát thì nên nỗ lực tu tập An chỉ định, thì sau đó sẽ được cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Với hạng người thứ ba chưa đạt được cả An chỉ định lẫn Tuệ minh sát, thì phải nỗ lực tu tập với ước nguyện mạnh mẽ, càng nỗ lực, càng tinh tấn với sức chịu đựng bền bỉ, không lay chuyển, có chánh niệm tỉnh giác và có tuệ phân tích để được các phẩm chất đại thiện của cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Ví như người mà y phục và đầu của anh ta bị lửa cháy thì phải dập tắt ngay ngọn lửa tức thì. Cũng tương tự vậy, người mà nỗ lực tu tập với ước nguyện mạnh mẽ, càng nỗ lực, càng tinh tấn với sức chịu đựng bền bỉ, không lay chuyển, có chánh niệm tỉnh giác, và có tuệ phân tích để đạt được các phẩm chất đại thiện của cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Với hạng người thứ tư, hạng mà đã phát triển được cả An chỉ định và Tuệ minh sát, an trú trong thiện pháp này, người đó cần tinh tấn nỗ lực hơn nữa để diệt trừ bốn lậu hoặc (các tâm ô nhiễm).

Này các Tỷ-kheo, bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

Trong bài thuyết giảng, Đức Phật đã đưa ra những lời chỉ dẫn sâu sát để phát triển và đạt được những phẩm chất cần thiết của một vị Tỷ-kheo. Những lời giáo huấn của Ngài cũng liên quan đến trách nhiệm và sự tinh cần tu tập của vị Tỷ-kheo, người mà đã từ bỏ đời sống thế tục để bước vào con đường Phạm hạnh.

Chúng ta hãy học một bài thuyết giảng khác của Đức Phật.

Phẩm Khúc Củi Cháy Dở (Chavalata Sutta)

“Này, Tỷ-kheo, có bốn hạng người trên thế gian này là:

1/ Người mà không hướng đến lợi mình, lợi người.

2/ Người mà không hướng đến lợi mình nhưng hướng đến lợi người.

3/ Người mà hướng đến lợi mình nhưng không lợi người.

4/ Người mà hướng đến lợi mình và lợi người.

“Này các Tỷ-kheo, ví như khúc gỗ được sử dụng cho buổi lễ hỏa táng, nó đã bị đốt cháy thành than ở hai bên mép, ở giữa bị dính phẩn uế, thì nó sẽ không còn được dùng làm củi đốt trong nhà hay làm vật liệu xây dựng nhà nữa. Cũng vậy, hạng người thứ nhất không hướng đến lợi ích bản thân và cũng khônghướng đến lợi ích của người khác, Như Lai tuyên bố rằng: nó tương tự như khúc gỗ vô dụng kia”.

“Này các Tỷ-kheo, hạng thứ hai chỉ hướng đến lợi ích của người khác mà không hướng đến lợi ích bản thân thì vi diệu hơn, thù thắng hơn hạng người thứ nhất”.

Ghi chú: Đây là hạng người hay giúp đỡ người khác trong việc phát triển tâm linh nhưng lại không nỗ lực phấn đấu cho chính mình.

“Này các Tỷ-kheo, hạng thứ ba luôn làm lợi ích cho bản thân nhưng lại không quan tâm đến lợi ích của người khác thì vi diệu hơn, thù thắng hơn hai hạng người kia”.

Ghi chú: Hạng người này luôn nỗ lực phát triển tâm linh cho bản thân nhưng không nỗ lực giúp đỡ người khác.

“Này các Tỷ-kheo, ví như sữa, phó mát, bơ và dầu bơ, tất cả đều cùng là sản phẩm sữa lấy từ con bò, nhưng nó vẫn có sự vượt trội khác nhau trong từng cái một. Tương tự vậy, hạng thứ tư luôn hướng đến lợi ích của bản thân và cũng như hướng đến lợi ích của người khác là hạng người tối thượng, tối thắng, thượng thủ, vô thượng.

Này Tỷ-kheo, cả bốn hạng trên đều hiện hữu trên thế gian này”.

Dưới ánh sáng của Giáo Pháp, chúng ta hãy tự hỏi làm thế nào để có thể làm lợi ích cho bản thân và cho người khác. Vì vậy, bài thuyết giảng này sẽ chỉ rõ cho chúng ta điều đó. Bây giờ, chúng ta hãy đi sâu vào bài giảng sau đây.

Phẩm Khả Năng Biết Nhanh
(Khippanisanti Sutta)

Ghi chú: Tiếng Pāli Khippa có nghĩa là nhanh và Nisanti có nghĩa là khả năng biết

1/ “Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người chỉ hướng đến lợi ích bản thân mà không hướng đến lợi ích của người khác? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, có trí tuệ hiểu thấu đáo những gì học được. Biết cả ngữ và nghĩa của kinh điển, hạng người này thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán(Vipassanā) và cùng với tuân thủ giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ Thánh đạo). Tuy nhiên, hạng người này không thiện ngôn, không khéo nói, không biết dùng những lời tao nhã, không phát âm chính xác, rõ ràng, không thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người chỉ hướng đến lợi ích của mình và không hướng đến lợi ích của người khác.

2/ Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi ích của người khác và không hướng đến lợi ích bản thân? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người không mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, không có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, không có trí tuệ hiểu thấu đáo những gì học được. Hạng người này không thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā) và giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ Thánh đạo). Tuy nhiên, hạng người này thiện ngôn, khéo nói, biết dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác, rõ ràng, có thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người chỉ hướng đến lợi ích của người khác mà không hướng đến lợi ích của mình.

3/ Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không hướng đến lợi ích bản thân mà cũng không hướng đến lợi ích của người khác? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người không mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, không có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, không có trí tuệ để hiểu thấu đáo những gì đọc được. Hạng người này không thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā) và giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ về Thánh đạo). Hơn nữa, hạng người này cũng không thiện ngôn, không khéo nói, không biết dùng những lời tao nhã, không phát âm chính xác, rõ ràng, không thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người không hướng đến lợi ích của mình và cũng không hướng đến lợi ích của người khác.

4/ Này các Tỷ-kheo, thếnào là hạng người biết hướng đến lợi ích bản thân và cũng hướng đến lợi ích của người khác? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, có trí tuệ để hiểu thấu đáo những gì học được. Biết cả ngữ và nghĩa của kinh điển, hạng người này thực hành thiền Định (Samatha), thiền Quán (Vipassanā) và cùng với tuân thủ giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ Thánh đạo). Hơn nữa, hạng người này thiện ngôn, khéo nói, biết dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác, rõ ràng, có thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người biết hướng đến lợi ích của mình và cũng hướng đến lợi ích của người khác.”

“Atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammapaṭipanno hoti”

(Tăng Chi kinh bản Pāli, q 1, tr. 410)

Atthamaññāya dhammamaññāya: nghĩa là có sự hiểu thấu suốt cả hai Kinh điển Pāli và Chú giải.

Dhammānudhammapaṭipanno hoti: nghĩa là thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā) bao gồm tuân thủ Giới luật (Sīla) mà nó là tiền đề cho sự chứng ngộ chín Pháp siêu thế.

Để hướng dẫn thực hành những phần trên, vị nào có thiện nguyện làm lợi ích cho bản thân và cho người khác thì bước đầu tiên cần phải học Giáo Pháp của Đức Phật. Điều này không có nghĩa là vị đó phải học thuộc hết tất cả các Kinh điển mà chỉ cần học một cách có hệ thống về Bát Thánh Đạo, phần nền tảng Giáo Pháp của Đức Phật mà có thể dẫn đến diệt tận khổ đau. Ngoài ra còn cần phải học dưới sự hướng dẫn của một vị thầy thiện xảo về pháp hành ban đầu về thực hành Giới (Sīla), Định (Samatha) và Tuệ (Vipassanā) mà vị ấy cần phải hoàn thành trước khi thành tựu Thánh Đạo.

Trong Bát Thánh Đạo, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, hình thành con đường đạo đức căn bản cho người cần thực hành Giới (Sīla). Để có thể thực hành Giới (Sīla), người đó phải hiểu rõ ba Thánh đạo được đề cập ở trên. Chỉ khi nào người đó biết rõ về Giới, thì mới có thể giữ gìn Giới đức cẩn thận và trong sạch. Không có tri thức thiết yếu này về con đường Giới hạnh, thì vị đó không thể nào thực hành Giới đức trong sạch và trọn vẹn được.

Có được sự thiết lập vững chắc về Giới và thực hành đầy đủ, vị ấy cần phải tiến hành thực hành con đường thiền Định (Samādhi). Là một phần của Bát Thánh Đạo, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định, tất cả ba yếu tố này tạo ra các chi đạo về Định (Samādhi), con đường dẫn tới phát triển Định. Để thực hành các đạo này, vị ấy cần sự chỉ dạy và huấn luyện một pháp thiền phù hợp nơi một vị thầy đáng tin cậy.

Bước tiếp theo, là phải được học với một vị thầy giỏi để phát triển hai chi đạo về Tuệ (Paññā) là Chánh kiến và Chánh tư duy để có thể phát triển được Tuệ minh sát. Chỉ những ai có thể phát triển Bát Thánh Đạo, mới là những Tỷ-kheo hay người hành giả tốt theo lời dạy của Đức Phật, và có thể làm lợi ích cho bản thân và cho người khác. Chỉ có những người đại thiện như vậy mới có thể đạt được một nội tâm tĩnh lặng và phát triển được Tuệ minh sát.

Bài pháp mà quý vị sẽ đọc ở các trang sau của cuốn sách này là một trong các Lời dạy của Đức Phật sẽ giúp cho quý vị trở thành hiền nhân. Bài kinh được ghi trong Tăng Chi Kinh, quyển ba, Dasaka Nipāta, tr 325. Các yêu cầu tiên quyết trên con đường tâm linh đã được chỉ rõ trong đó.

Mặc dầu tiếng Pāli chữ “pabbajita” có nghĩa là người xuất gia, nhưng nó còn ám chỉ tới những ai đã tận diệt phiền não hoặc đang tinh tấn trên con đường diệt trừ phiền não. Đối với những ai vẫn còn đang tu tập để diệt trừ phiền não, có mười điều cần phải thường xuyên quán tưởng. Những điều cần thường xuyên quán xét này đã được Đức Phật chỉ dạy chi tiết trong bài Pháp.

Nếu một người tiến hành tu tập nghiêm túc mười điều quán tưởng này, thì chắc chắn vị ấy có thể đạt được sự an tịnh và hạnh phúc của Tầng thiền (Jhāna), Tuệ minh sát (Vipassanā), Đạo (Magga), Quả (Phala) và Niết-bàn (Nibbāna) ngay trong kiếp sống hiện tại này. Nếu vẫn còn sự tái sanh đối với con người hiền thiện này, thì những điều quán tưởng này có năng lực đưa đến hạnh phúc ở cõi người hoặc cõi trời, cuối cùng dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn. Hơn nữa, mười điều quán tưởng này sẽ làm chấm dứt vòng luân hồi khổ đau. Thực vậy, bài pháp này được gọi là bài giảng của sự an tịnh tối thượng vì nó có thể dập tắt ngọn lửa phiền não trong tâm của ta. Mười điều quán tưởng này, khi thường xuyên được quán xét, giống như sự chuẩn bị cho giây phút ra đi của chính người hành giả đó với một gương mặt rạng rỡ, an tịnh và nụ cười trên chiếc giường hấp hối.

Nằm trên giường hấp hối, mười phiền não có thể làm cho gương mặt chúng ta âu sầu với sự nuối tiếc và sợ hãi. Tuệ minh sát và Tuệ đạo mà ta đạt được trong thời gian trước cái chết sẽ diệt trừ mọi phiền não. Vì vậy, người hiền thiện sẽ có thể sống ngay cả giây phút cuối của đời mình với gương mặt rạng ngời và tâm an tịnh, hy vọng về trạng thái an vui, hạnh phúc ngày càng cao.

Phận sự của mỗi người chân chánh là cố gắng thành tựu tuệ minh sát, tuệ đạo và tuệ quả là các tuệ có sức mạnh nhổ bỏ mọi phiền não, nhờ đó, người ấy có thể đối mặt với giây phút cuối cùng của đời mình với một nụ cười rạng rỡ và tâm an tịnh.

Mười Phiền Não Lậu Hoặc

Tiêng Pāli “Kilesa” có nghĩa là tâm phiền não lậu hoặc. Có mười loại phiền não:

1. Lobha: tham ái hay dính chấp vào những đối tượng khác nhau và dục trần

2. Dosa: sân và hại

3. Moha: vô minh, không thấu hiểu Tứ Thánh đế.

4. Māna: ngã mạn, thái độ kiêu căng tự mãn

5. Diṭṭhi: tà kiến thấy sự vật thường còn, lạc, đáng hưởng thụ và linh hồn bất tử (ngã).

6. Vicikicchā: hoài nghi Tứ Thánh đế, hoài nghi Phật, hoài nghi Pháp, hoài nghi Tăng và luật về Nghiệp báo

7. Thīna: hôn trầm, buồn ngủ, muội lược.

8. Uddhacca: trạo cử, trạng thái tâm không thể định hay tập trung được.

9. Ahirika: vô tàm, không biết hổ thẹn khi làm các điều bất thiện.

10. Anottappa: vô quý, không sợ hãi làm các điều bất thiện.

Tất cả các tâm sở bất thiện được dẫn dắt bởi mười phiền não này làm cho tâm bị ô nhiễm. Đó là lý do nó được gọi là phiền não (kilesa). Những ai đang tinh tấn nhổ bỏ các tâm ô nhiễm bằng cách thực thành Bát Thánh Đạo được gọi là “pabbajita”. Nó có nghĩa là người hoặc đã tận diệt các ô nhiễm hoặc vẫn đang nỗ lực diệt trừ phiền não.

Trong chuyến viếng thăm Malaysia ngày 16 tháng 8 năm 2003, sau một buổi lễ phước thiện của Goh Se Lin Tan Yok Har, tôi đã thuyết bài Pháp nói về mười điều phải thường xuyên quán xét của bậc xuất gia (pabbajitas), là những người đang nỗ lực nhổ tận gốc rễ các phiền não lậu hoặc. Những điều quán xét này được lấy từ trong “Kinh Bậc Xuất Gia Thường Quán Xét” (Pabbajita Abhiṇha Sutta) của Tăng Chi Bộ, Kinh Pāli, q3.

Sau khi nghe bài Pháp này, tu nữ Susīla, người Malaysia, bày tỏ mong muốn và thỉnh cầu phát hành bài Pháp thoại này cho mọi người như là một món quà Pháp thí. Sau khi chuyển biên từ băng audio, nó đã được xuất bản và phát hành như một món quà Pháp. Như một lời khuyên, điểm chính của bài dạy liên hệ đến Bát Thánh Đạo chỉ được mô tả theo một cách tóm lược để đại chúng có thể hiểu được. Vì vậy, việc có sự hướng dẫn đáng tin cậy vẫn cần thiết cho những ai muốn thực hành đầy đủ và kỹ lưỡng.

CHÂN NGÔN TỐI THƯỢNG

Với lòng từ bi vô lượng,

Đức Thế Tôn đã chỉ dạy chúng sanh,

Chỉ có Bát Thánh Đạo

Mới là con đường Thánh dẫn tới an tịnh Niết-bàn

Chấm dứt mọi đau khổ

Thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi

Đó chính là Chân ngôn Tối thượng

Của Đấng Chí Tôn Chí Thánh

Tương Ưng Bộ, Kinh Pāli, q.1, tr.191

Cầu chúc cho quý vị có thể thực hành theo lời dạy của Đức Phật trong Kinh Bậc Xuất Gia Thường Quán Xét (Pabbajita Abhiṇha Sutta).

Với Tâm Từ

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw

Trung Tâm Thiền Pa-Auk Tawya, Mawlamyine.

Phật lịch 2547

Myanmar, Năm 1365, Rằm Tháng Taw-da-lin

Ngày 10/9/2003

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

Chương 1.
Kinh Bậc Xuất Gia Thường Quán Xét
Pabbajita Abhiṇha Sutta

“Này Tỷ-kheo, có mười điều cần phải thường xuyên quán xét bởi những ai đã bước vào đời sống xuất gia với một ý chí và mục đích diệt trừ phiền não. Trước hết, vị xuất gia cần phải quán xét thường xuyên về trạng thái hình tướng của một vị Tỷ-kheo như sau:

“Không còn là một cư sĩ, ta đã trở thành bậc xuất gia với hình tướng đã thay đổi khác”

Có hai sự khác biệt khi là một bậc xuất gia: thứ nhất là vẻ ngoài của vị Tỷ-kheo, thứ hai là với y phục và các vật dụng mà người Tỳ-kheo sử dụng trong đời thường.

Sự Biến Đổi Về Thân

Ở đây, chú giải đề cập tóm tắt về tiến trình thay đổi bề ngoài sẽ được thấy như thế nào. Thông thường điều đó có thể dễ dàng thấy nếu ta soi gương. Vì điều đó thật không phù hợp với Tỷ-kheo hay tu nữ nếu sử dụng gương soi, họ có thể nhận rõ sự thay đổi của thân này qua sự lưu ý chỗ đầu tóc và râu đã được cạo sạch. Vả lại, nhìn gần hơn nữa, trên tóc này không còn tóc của tuổi thanh xuân nữa mà giờ đây chỉ còn lại tóc bạc. Khi nhìn vào làn da, vị ấy lại nhận ra nhiều nếp nhăn, và nhiều vùng da bị chùng xuống là dấu hiệu của tuổi già nua. Đó là một tiến trình biến đổi liên tục trong thân cho dù ta có cố gắng đến đâu để duy trì tuổi trẻ và hình dáng bên ngoài. Tấm thân mà ta yêu quý và chăm sóc nó biết bao mà nó vẫn đi ngược lại ý muốn trẻ mãi không già của ta. Trong nhịp bước của chuyển hóa và chuyển biến, nó làm cho thân ta đi dần đến sự tiêu hoại và cái chết. Cho dù nghiệp xấu hay tốt thì ta cũng không thể đảo ngược tiến trình đó được. Bất lực trước sự biến đổi này, thân ta luôn đau ốm từ lúc bắt đầu có thân này, sự lão hóa không ngừng và nhiều bức xúc của thân diễn ra hằng ngày. Tiến trình biến đổi này cứ đi tới, đi tới mãi và nó không để cho ai thoát cả. Những điều này phải luôn được quán xét bởi những vị xuất gia và những ai đang đi trên con đường tiến hóa tâm linh.

Sự Khác Biệt Về Y Phục Và Các Thứ Vật Dụng

Trong đời sống cư sĩ, không có một giới hạn nào. Mọi thứ đều có thể chợt nảy ra. Sự ham muốn và cái tâm buông lung chạy theo nhiều thứ. Một người có thể mặc quần áo nhiều màu và đủ thứ kiểu dáng, họa tiết khác nhau. Một người cũng có thể chiều chuộng mình ăn ngon với nhiều khẩu vị khác nhau, đựng thức ăn trong đĩa vàng, đĩa bạc. Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên, là hai vị đại đệ tử của Đức Phật, trước khi xuất gia đã dùng nhiều thức ăn thượng hảo hạng đặt trong đĩa bằng vàng và bằng bạc vì các vị ấy vốn xuất thân trong các gia đình thế gia quyền quý. Một người bình thường có thể ngủ trên một chiếc giường sang trọng và ngồi trong những chiếc ghế đắt tiền đặt trong phòng đầy đủ tiện nghi. Một cư sĩ cũng có thể sử dụng đủ các loại thuốc bán sẵn ngoài thị trường chưa kể đến chất lượng hay giá trị của nó thật đa dạng. Đó là đời sống của một cư sĩ.

Tuy nhiên, có sự khác biệt rất lớn và đổi thay quan trọng ngay khi người đó bước vào đời sống xuất gia. Tứ vật dụng của một vị sư là y phục, thực phẩm, chỗ ở và thuốc men thật đơn giản và khiêm tốn. Không có tiện nghi sang trọng cho dục vọng vô hạn và cũng chẳng thể luôn chiều chuộng cái tôi. Một vị tăng phải sống đơn giản với tiện nghi tối thiểu để sự thu thúc lục căn và tinh thần kỷ luật có thể cùng phát triển. Vị ấy phải từ bỏ các tiện nghi và dục trần mà mình đã hưởng thụ trước đây.

Về sự mặc, vị Tỷ-kheo phải dùng các y được làm từ các mảnh vải phế thải nhỏ. Bộ y của vị Tỷ-kheo được làm từ những miếng vải bỏ không còn giá trị nữa, được cắt thành hình vuông nhỏ để làm mất giá trị của nó, rồi may lại và nhuộm bằng vỏ cây nâu trong rừng nhiệt đới như thời xa xưa. Loại y này chẳng có chút giá trị nào theo nghĩa tiền bạc khiến không một tên trộm nào muốn lấy cắp. Đó là loại y phục của vị Tỷ-kheo mà không một ai muốn lấy để mặc cả.

Đối với vật thực và bữa ăn, vị Tỷ-kheo phải dùng bất kỳ món gì do người thế tục bố thí cúng dường. Đặt tất cả những vật thực được cúng dường trong chiếc bát làm bằng sắt hay đất sét, vị Tỷ-kheo phải dùng thức ăn được trộn lẫn vào nhau trong bát bất kể sở thích cá nhân của mình. Đối với vị Tỷ-kheo và đối với những ai đang đi trên con đường tiến hóa tâm linh, ăn trở thành một tiến trình duy trì thân mạng hơn là một hành động chiều chuộng bản thân. Nó phải được thực hiện trong sự tiết chế và chánh niệm tỉnh giác.

Hơn nữa, vị Tỷ-kheo phải dùng chiếc giường khiêm tốn nhất và các thứ đồ đạc chỉ vừa đủ theo nhu cầu cần thiết. Vị ấy không còn được sử dụng các loại giường, đồ đạc sang trọng. Vị ấy phải, như một qui định về sự khiêm tốn và giản dị được mô tả trong Giới Luật (Vinaya), dùng đệm mây, cỏ hoặc miếng da vuông để lót ngồi. Với mục đích trú ngụ, bóng mát của cây cối được khuyến khích dùng làm nơi nghỉ hoặc nơi hành thiền.

Đối với thuốc men, vị Tỷ-kheo phải dùng loại dược thảo chế biến tự nhiên. Tất nhiên, cũng có các ngoại lệ nhất định cho tứ vật dụng. Tuy nhiên, cách thức và lề lối mà vị Tỷ-kheo sử dụng cho tứ vật dụng như y phục, thực phẩm và chỗ ở, thuốc men đều rất khác với một cư sĩ. Sự thay đổi này là để thực hành Giới hạnh của một bậc tu hành vì vậy Đức Phật đã dạy ta phải thường xuyên quán xét sự thay đổi này.

Những bậc thiện nhân làm theo lời dạy của Đức Phật là Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Mục-kiền-liên, Tôn giả Mahā Kassapa và vô số các vị đệ tử khác của Đức Phật. Hầu hết họ đều xuất thân từ những gia đình giàu sang quyền quý.

Tinh Thần Khiêm Tốn Mẫu Mực của Tôn Giả Xá-lợi-phất

Giữa các vị đệ tử của Đức Phật, một ví dụ về Tôn giả Xá-lợi-phất rất đáng được nhắc tới ở đây. Ngài là con trong một gia đình giàu sang. Vào những giây phút cuối của cuộc đời, ngài đã trở về nhà mẹ ruột của Ngài để nhập Vô Dư Niết-bàn cũng vào ban đêm ngay tại phòng nơi mà Ngài đã được sinh ra. Mục đích của Ngài là để giúp mẹ là bà Rūpa Sari, có thể chứng ngộ Pháp trước khi Ngài nhập diệt Niết-bàn. Sau khi nghe một bài Pháp của ngài Tôn giả Xá-lợi-phất, bà đã chứng đắc tầng thánh giác ngộ đầu tiên và trở thành bậc Tu-đà-hoàn (Sotāpanna). Đây cũng là món quà từ biệt mẹ của Ngài và thể hiện lòng tri ân đặc biệt sâu sắc của Ngài đối với mẹ trong những giây phút cuối của đời mình.

Thực hiện xong thiện sự đó, Tôn giả Xá-lợi-phất đã qua đời và nhập diệt Niết-bàn tại đó. Mẹ của Ngài là bà Rūpa Sari đã phát triển được niềm tin mới và hết lòng phục vụ Pháp Bảo. Vì thế, như được biết, bà đã sắp xếp lễ tang và lễ hỏa táng cho Ngài Tôn giả Xá-lợi-phất bằng cách sử dụng thật sự có ý nghĩa số của cải của bà.

Sau khi thân xác Ngài hoàn toàn bị thiêu cháy, một trong những hiện tượng kỳ diệu là di cốt của bậc giác ngộ, đặc biệt là xương đã biến thành các hạt có nhiều cỡ khác nhau được gọi là xá lợi. Ngoài tro cốt của Ngài ra, nhiều xá lợi đã được tìm thấy tại nơi hỏa thiêu ngài Xá-lợi-phất. Tôn giả Cunda, người em của Ngài Xá-lợi-phất, đã mang xá lợi của Ngài về Kỳ Viên Tinh Xá (Jetavana) tại thành Xá-vệ (Sāvatthi) và dâng lên Đức Phật khi Ngài ngự tại đó.

Tại đây, thật là đặc biệt khi nhắc về Tôn giả Xá-lợi-phất, mặc dù là con của một gia đình giàu có, Ngài đã từ bỏ tiện nghi vật chất và các dục lạc thế gian để bước vào cuộc đời Phạm Hạnh. Đức Bổn Sư đặt vuông vải lọc chứa xá lợi của Ðại Ðức Xá-lợi-phất trên tay và khen ngợi đức hạnh cao quý của Tôn giả Xá-lợi-phất trước mặt Tăng chúng với bài kệ như sau:

Là bậc xuất gia trải qua

tổng cộng năm trăm kiếp chán ngán ngũ trần,

mọi thú vui thế gian đều buông bỏ,

không gì quyến rũ được người.

Hãy kính cẩn nghiêng mình,

vị lục căn hoàn toàn thanh tịnh

mọi phiền não vắng lặng

một bậc Thánh giác ngộ.

Vững chãi như đất,

không hề chao động

Không chút hành xử lệch lạc

dù là tốc hành tâm nhỏ

sự nhẫn nại vô cùng mạnh mẽ.

Sân hận hoàn toàn vắng bặt.

Lòng từ bi thương xót mọi chúng sanh

Nay vị ấy đã nhập diệt

An tịnh Niết-bàn

Hãy kính cẩn nghiêng mình

Từ biệt con người đáng kính.

Khiêm cung như con kẻ bần cùng, đến đô thị này,

Với bát tre khất thực qua ngày,

Đức hạnh khiêm cung sáng ngời,

Hỡi, Xá-lợi-phất đại khiêm cung,

Một đời Thánh nhân không cấu nhiễm,

Hãy kính cẩn nghiêng mình từ biệt,

một bậc Thánh

Giờ đây đã bước vào cõi an tịch tịnh

Như con bò đực gãy sừng,

Đó đây trong rừng hoặc đô thị náo nhiệt,

Chưa bao giờ tổn hại đến ai,

Cũng như Xá-lợi-phất,

Không phương hại chúng sanh nào,

Hãy kính cẩn nghiêng mình chào,

một bậc Thánh

Giờ đây đã bước vào cõi an tịch tịnh.

Nói về cuộc đời của Ngài Xá-lợi-phất, Đức Phật đã nói ra những lời tán thán chưa từng có cho một vị đệ tử. Đức Phật đã hết sức tán dương tất cả các khía cạnh nổi bật của một vị thánh giác ngộ. Cuộc đời ngài là một ví dụ sống động hiện thân cho sự hy sinh bền bỉ, sự giải thoát nội tâm hoàn hảo, và tính kiên nhẫn vĩ đại, một đức hạnh trong sạch, trí tuệ, từ bi và khiêm cung. Ngài còn là một tấm gương hoàn hảo mà tất cả chúng ta nên phấn đấu noi theo. Thật là kỳ diệu khi Tôn giả Xá-lợi-phất đã xuất gia không phải trong kiếp này mà còn trong nhiều kiếp trước tổng cộng là năm trăm kiếp. Trong các kiếp này, ngài đã từ bỏ một cách cương quyết và hoàn toàn sống tách rời khỏi thế giới ngũ dục và sở hữu vật chất đã kềm giữ ngài trong suốt các kiếp sanh tử luân hồi. Thực sự, hoàn toàn nổi bật hơn hẳn trong số các đại đệ tử kiệt xuất của Đức Phật là vị Đại đệ tử lỗi lạc Tôn giả Xá-lợi-phất.

Sau khi trở thành vị Tỷ-kheo, ngài đã giác ngộ hoàn toàn vào lúc ngài chứng đắc A-la-hán Đạo và A-la-hán Quả, nhổ tận gốc rễ mọi phiền não và các ô nhiễm trong tâm, ngài đã hoàn toàn đạt đến sự an tịnh và giải thoát. Từ sự chứng ngộ đó, một số tâm khởi lên như trí tuệ và sự điềm tĩnh v..v. Lúc đó, không còn tham ái, ghét bỏ hay si mê nơi ngài, tâm của ngài tràn đầy sự định tĩnh, an lành. Kết quả là sau đó, có sự sanh khởi của năng lực xả và kham nhẫn được gọi là Đức Hạnh nhẫn nại (Adhivāsana Khanti). Hạnh nhẫn nại của Ngài giống như mặt đất vĩ đại mà tất cả các loài, lớn, nhỏ, hữu tình hoặc vô tình đều có thể hiện hữu trên đó. Một cách tự nhiên, đất, ngay cả khi vật tịnh hay bất tịnh như phẩn uế quăng liệng trên đất, nhưng đất không bao giờ phản ứng lại. Tương tự như vậy, tâm của ngài Xá-lợi-phất vô cùng kiên định và không hề chao động bởi bất kỳ đối tượng nào tiếp xúc lục căn.

Thông thường với hành vi người đời là bị sai khiến bởi dục vọng và nhiều xúc cảm khác nhau. Tôn giả Xá-lợi-phất đã không bao giờ chạy theo ý thích bất chợt nảy sinh. Ngài chỉ làm những điều thích hợp, thiện lành và cần thiết. Ngài tránh xa những việc làm bất thiện và không cần thiết. Ngài chỉ nói khi cần nói, và dùng các lời thiện lành, hữu ích và cần thiết. Ngài không bao giờ nói ra những điều không cần thiết dù chỉ là một lời. Luôn giữ chánh niệm, ngài không bao giờ để các tâm lan man và bất thiện sanh khởi. Trong suốt cuộc đời của ngài, không có trường hợp nào ngài làm điều bất cẩn hay lôi thôi. Sau đây là một số sự điều nổi bật của Đại đức Xá-lợi-phất.

Khi Ngài đắc thiền Tâm Từ, trong tầng thiền ngài đã rải tâm từ cho tất cả các chúng sanh các loài. Không chỉ với thiện chí và lòng trắc ẩn, ngài còn bảo vệ và làm những điều tốt nhất cho những ai mà ngài đi ngang qua. Hành động và thiện ý của ngài luôn bổ sung cho nhau.

Nói về sự khiêm cung của Ngài Xá-lợi-phất, Đức Phật đã ví sự khiêm cung đó giống như đứa con của kẻ bần cùng hạ tiện. Chúng ta hãy quan sát gần hơn đứa con của kẻ nghèo khổ đi vào đô thị khất thực. Một đứa con trai của kẻ bần cùng, vì đời sống khốn khó, sống một cuộc đời không đủ ăn, không có chỗ nương thân theo nghĩa được gọi là mái nhà. Ngay cả cái bát người đó dùng cũng làm bằng tre. Tuyệt nhiên không một chút kiêu căng ngã mạn gợn lên trong tâm người đó, vì người đó không hề sở hữu một cái gì để có thể tự hào, tự mãn. Người đó chỉ đơn giản hiểu rằng nếu mình trông có vẻ kiêu căng ngã mạn hay nóng nảy thì sẽ không ai bố thí thức ăn hay vật dụng mà mình cần thế thôi.

Như đã đề cập trên, Tôn giả Xá-lợi-phất, mặc dù là con trai của một gia đình giàu có, nhưng Ngài luôn nhu thuận và khiêm nhường. Từ khi bước vào đời sống xuất gia, ngài sống khiêm hạ, nhẹ nhàng như con trai của một kẻ bần cùng nghèo khó. Ngay cả khi ngài đi bát, dáng vẻ ngài toát lên sự khiêm hạ tột cùng. Theo cách tương tự, những ai đã bước vào đời sống xuất gia thì cần phải học tập thái độ thánh thiện và cách sống tốt đẹp như ngài Xá-lợi-phất. Đây là điều mà Đức Phật muốn nhấn mạnh đối với tất cả các Tỳ-kheo.

Hơn nữa, Đức Phật đã lấy ví dụ con bò đực gãy sừng. Như con bò gãy sừng khi nó đi đó đây trong khu rừng và đồng ruộng, hoặc làng mạc hay đô thị không làm tổn hại đến bất cứ ai. Tương tự vậy, ngài Xá-lợi-phất với tâm từ và đầy lòng trắc ẩn, không bao giờ làm hại ai, hoặc gây đau khổ, buồn phiền cho bất cứ ai trong cả bốn oai nghi trong suốt cuộc đời của ngài. Vì vậy, Đức Phật đã khuyến khích tất cả các Tỳ-kheo tỏ lòng kính trọng đối với Tôn giả Xá-lợi-phất, người đã bước vào cõi an lạc Niết-bàn, nơi mà tất cả các phiền não bị tận diệt.

Ở đây, tôi muốn nói rằng Đức Phật nhấn mạnh yêu cầu với các vị Tỳ-kheo phải thường xuyên quán xét sự biến đổi thân này khi là một Tỷ-kheo. Điều đó có lợi lạc gì?

Theo giải thích của Chú giải, nếu ai thường xuyên quán xét tiến trình biến đổi của thân và về các thứ sử dụng hằng ngày với tư cách là một vị Tỷ-kheo, mọi sân hận và kiêu căng ngã mạn sẽ theo đó mà dần giảm đi và sẽ diệt trừ hoàn toàn trong tâm.

Thấy trước kết quả tuyệt diệu này, Đức Phật đã dạy tất cả các Tỳ-kheo hãy quán xét điều thứ nhất thật thường xuyên là tiến trình biến đổi về thân rõ rệt khi trở thành một Tỷ-kheo.

Chương 2.
Đời Sống Tu Hành Lệ Thuộc Vào Thí Chủ

Đức Phật dạy “Đời sống của ta lệ thuộc vào sự cúng dường của thí chủ”, vì vậy, Tỷ-kheo phải thường xuyên quán tưởng điều này.

Vì thế, điều thứ hai là quán tưởng về sự nuôi mạng lệ thuộc vào thí chủ. Tại sao phải quán tưởng như vậy?

“Quán tưởng như vậy, sẽ giữ cho sự nuôi mạng của vị Tỷ-kheo được trong sạch và sẽ tăng trưởng ý thức trân trọng việc cúng dường vật thực hàng ngày của thí chủ”. Chú giải, q3, tr 313.

Điều quan trọng đối với vị Tỷ-kheo là giữ được Giới hạnh liên quan đến sự nuôi mạng chân chánh (Ājīva pārisuddhi sīla) trong sạch và thanh tịnh. Nếu không, đời sống của vị Tỷ-kheo trở thành vô nghĩa và thậm chí nó sẽ trở ngại cho quá trình tu tập tâm linh của vị ấy.

Vị Tỳ-kheo phải biết quán tưởng thường xuyên “Tôi đang mặc y cúng dường, tôi đang dùng vật thực cúng dường, chỗ tôi đang ở là do thí chủ cúng dường, tôi đang dùng thuốc men cúng dường”. Nhờ sự quán tưởng này, sẽ dần dần giúp cho vị ấy tăng trưởng Giới hạnh Nuôi Mạng Thanh Tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla), giới hạnh của Tỳ-kheo liên hệ đến sự nuôi mạng hàng ngày. Tại sao vậy? Bởi nhờ thường xuyên quán tưởng điều này, vị Tỷ-kheo đó được nhắc nhở luôn giữ gìn đúng giới luật trong Tạng Luật theo lời dạy của Đức Phật. Nó sẽ giúp cho vị ấy tránh được sự tà mạng (micchājīva), là cái mà Đức Phật không cho phép. Với những vị mà ngay cả những ý nghĩ nhỏ nhất của sự quán tưởng cũng không có thì luôn có chiều hướng làm ngược lại với giới luật của đời sống xuất gia. Như một kết quả, họ không giữ được Giới nuôi mạng chân chánh (Ājīva pārisuddhi sīla) trong sạch. Với người biết thường xuyên quán tưởng điều này, thì Giới nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla) của vị ấy sẽ dần trở nên trong sạch. Nếu vị ấy có thể giữ giới này trong sạch, thì Giới (Sīla) của vị ấy sẽ trọn vẹn.

Sáu điều trong Giới Luật Vinaya

Có sáu điều trong Giới Luật (Vinaya) liên quan đến chánh mạng. Ở đây, chúng tôi phải giải thích rằng xuất gia không phải là một nghề liên quan đến việc kiếm sống dựa vào đồng lương hay thu nhập định kỳ. Bằng ý nghĩa của sự nuôi mạng nó ám chỉ rằng một vị tỳ-kheo không tránh khỏi phải nỗ lực để có được các vật dụng hằng ngày. Những điều ghi trong Giới Luật đã được ghi chép trong Kinh điển Pāli bộParivāra, bộ Thứ năm của Tạng Luật như sau:

Tội thứ nhất là một trong sáu trọng tội được gọi là Bất cộng trụ (Pārājika). Nó cấm các vị Tỷ-kheo không được nói dối liên quan đến việc chứng đắc tầng thiền (Jhāna), Đạo (Magga) và Quả (Phala), thần thông mà một người có thể đạt được qua tu tập. Một vị Tăng không được phép nói sai sự thật với tác ý không chân thật, nhằm gây ấn tượng cho người khác, để ông ta nhận được sự kính trọng, sự cúng dường, và sự tận tụy phục vụ của mọi người. Sau khi nói dối như thế, nếu vị Tăng nhận cúng dường theo cách này, thì Giới nuôi mạng Chân Chánh (Ājīva pārisuddhi sīla) sẽ không trong sạch.

Tội Thứ hai gọi là Tăng tàn (Saṅghādisesa). Giới Luật cấm các Tỷ-kheo không được làm mai mối cho người nam hay người nữ cho việc đi đến hôn nhân của họ hoặc bất kỳ sự liên hệ thân mật.

Tội thứ ba là được gọi là Trọng Tội (Thullaccaya). Nó cấm vị Tỷ-kheo nói lời không chân thật về sự chứng đắc của vị Tăng khác đặc biệt là một người bạn để người bạn này nhận được sự kính trọng và cúng dường từ người khác.

Tội thứ tư được gọi là Ưng đối trị (Pācittiya). Nó cấm vị Tăng, trừ trường hợp khẩn cấp, để hỏi thức ăn ngon như bơ, bơ lỏng, mật ong, kẹo đường, hoặc thứ gì từ người không phải là ruột thịt mà không được họ thỉnh cầu.

Tội thứ năm gọi là Ưng Phát Lộ (Pāṭidesanīya). Đây là Giới Luật dành cho Tỷ-kheo-ni. Nó cấm Tỷ-kheo-ni không được hỏi vật thực như trên từ người không phải là ruột thịt mà không được họ thỉnh cầu.

Tội thứ sáu gọi là Tác Ác (Dukkaṭa). Nó cấm Tăng, không bệnh thì không được đòi hỏi vật thực bình thường như canh đậu, gạo và các vật dụng cần thiết từ người không phải là ruột thịt mà họ chưa thỉnh cầu.

Nếu một vị Tăng tìm vật thực hay các vật tương tự bằng cách phạm một hay tất cả các tội trên, thì sự nuôi mạng của vị ấy sẽ bị gọi là Tà mạng (Micchājīva), đã nuôi mạng bằng cách làm sai trái và không đúng đắn. Giới hạnh liên quan đến sự nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla) của vị ấy không còn trong sạch nữa.

Sẽ không có tà mạng sai trái nếu vị Tỳ-kheo thường quán tưởng rằng sự sống của ta hoàn toàn lệ thuộc vào sự cúng dường của thí chủ. Vị Tỳ-kheo như thế sẽ luôn tránh khỏi việc tìm kiếm vật thực sai trái.

Trong Bộ Phân tích, bộ thứ hai của tạng Vi Diệu Pháp, kinh điển Pāli, một vài cách sống tà mạng đã bị khiển trách bởi Đức Thế Tôn được mô tả chi tiết như sau. Bất cứ điều gì đòi hỏi theo cách nuôi mạng sai trái đều bị cấm. Một vị Tăng thường xuyên quán tưởng về sự nuôi sống thân mạng lệ thuộc vào sự cúng dường của thí chủ thì sẽ tránh được cách sống tà mạng và các đòi hỏi khác.

Thêm vào đó, Đức Phật đã nói tiếp như sau:

“Piṇḍapāto sa apacito hoti” nghĩa là hành động biết tôn trọng và tri ân đối với việc đặt bát bởi tâm rộng lượng cúng dường của thí chủ. Vị Tỷ-kheo sẽ dần có hành động trân trọng và tri ân đối với sự đặt bát cũng như đối với thí chủ cúng dường.

Câu Chuyện về Đại Đức Ayyamitta

Ở điểm này, tôi sẽ kể về vị Tỷ-kheo nổi tiếng tên là Ayyamitta. Câu chuyện xảy ra ở một đảo thời cận đại của nước Sri Lanka. Vị đại đức Tỷ-kheo sống trong hang núi gọi là Kassaka đang miệt mài chuyên tâm hành thiền tại một khu rừng để đi đến Đạo và Quả. Hành động mẫu mực về sự trân trọng và tri ân của ngài đối với việc cúng dường thường được nhắc đến trong các Chú giải Kinh điển Pāli.

Chú giải mô tả ngắn gọn một vị Tỳ-kheo nên quán tưởng theo cách sau:

“Các thí chủ cúng dường vật thực và tứ vật dụng này không phải là thân quyến của ta, cũng không phải là đày tớ cho ta, họ cúng dường vật thực ngon và tứ vật dụng cho ta không phải để mong cầu được sống dựa vào ta”

“Đức Phật không cho phép nhận tứ vật dụng cho mục đích lợi dưỡng thân xác này, ngoại trừ mục đích duy trì thân mạng”

“Thực ra, Đức Phật chỉ cho phép nhận tứ vật dụng và hy vọng rằng nhờ sự thọ dụng này, ta sẽ có thể tiến hành thiền Định và thiền Quán để có thể giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra).”

“Vì dễ duôi, ta sẽ có những hành động như thiếu trân trọng việc đặt bát cúng dường của thí chủ.”

Suy tư về những thí chủ mang vật thực và tứ vật dụng đến cúng dường chư tăng, phục vụ nhu cầu cần thiết hằng ngày. Các thí chủ rộng lượng này chẳng phải là quyến thuộc hay đày tớ, mà cũng chẳng phải sinh kế của họ lệ thuộc vào chư tăng.

Đôi khi có cả những người bố thí cúng dường với tâm hào phóng thật đặc biệt từ sự nhịn ăn, nhịn mặc của mình. Nhờ vào tâm đại lượng, họ mang món ngon nhất, mang cái mặc tốt nhất, đem cái để ở và thuốc men tốt nhất, tất cả để mà cúng dường. Những thí chủ này chỉ có một mong muốn duy nhất trong tâm là: ước nguyện chân thành là tích lũy thật nhiều phước báu từ việc hành thiện này! Đây chính là mục đích duy nhất của thí chủ và không có gì khác ngoài điều này.

Đức Phật cho phép các vị Tỷ-kheo nhận các tứ vật dụng không phải để bồi dưỡng cho mập mạnh, không phải để các Tỷ-kheo sống trên sự xa hoa. Ngài cho phép nhận tứ vật dụng để đáp ứng các nhu cầu cơ bản hằng ngày của một vị Tỷ-kheo để họ có thể chuyên tâm thực hành thiền Định hoặc thiền Tuệ để giải thoát khỏi vòng khổ đau bất tận của luân hồi (saṃsāra).

Người dễ duôi, lười biếng không nỗ lực thực hành tâm linh là vô tình đối với việc làm phước thiện của thí chủ. Chỉ có sự thực hành chuyên tâm mới là sự tôn trọng thí chủ và thể hiện lòng trân trọng việc đặt bát của thí chủ.

Thái độ tôn trọng và lòng biết ơn chỉ có thể có được nơi tâm của hành giả biết dốc sức thực hành ngày đêm. Đức Phật dạy cho chúng ta cách quán tưởng này để thái độ tôn trọng và lòng biết ơn phát triển và theo cách đó sẽ cho sức đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển tâm linh.

Tỷ-kheo Ayyamitta và Gia Đình Tâm Đại Lượng Bố Thí

Có một gia đình gồm người mẹ và cô con gái sống trong một làng gần nơi Đại đức Ayyamitta thường hay đi bát. Mặc dù rất nghèo, nhưng họ luôn cố gắng bằng mọi cách cúng dường những vật dụng cần thiết mỗi ngày cho vị Tỷ-kheo đáng kính như thể ngài là một thành viên trong gia đình, như một người con trai. Một ngày nọ, trước khi ra đồng, người mẹ bảo cô con gái: “Này con, trong nhà còn một ít gạo từ mùa gặt trước, một ít sữa trong bếp, và một ít đường thô và bơ. Con hãy lấy mấy thức đó nấu thành món ăn để cúng dường cho người anh Tỳ-kheo của con. Phần còn lại thì con ăn sau nhé.”

Cô con gái hỏi: “Thưa mẹ, còn mẹ sẽ ăn gì? Con sẽ chuẩn bị gì cho mẹ?”. Người mẹ đáp: “Mẹ vừa ăn xong miếng cơm nguội với nước tương”. Cô con gái hỏi tiếp: “Còn buổi trưa mẹ sẽ ăn gì?”. Người mẹ đáp lại: “Buổi trưa, con lấy ít gạo nát và rau nấu món cháo chua cho mẹ nhé.”

Đại đức Ayyamitta, khi ấy đang chuẩn bị vào làng đi bát như thường lệ, nghe được cuộc nói chuyện của hai mẹ con bằng thiên nhĩ thông (dibba – sota). Đây là thần thông có năng lực nghe được tiếng nói từ khoảng cách xa.

Khi nghe câu chuyện trên, suy tư chân chánh của Đại đức khởi lên: “Người mẹ rộng lượng này vừa dùng bữa sáng đạm bạc của mình bằng cơm thừa với nước tương. Bây giờ, bà nói rằng bà sẽ dùng cháo chua trộn rau cho bữa trưa của mình. Còn ta, thì bà lại bảo cô con gái cúng dường món ngon nhất được nấu bằng đường, sữa và bơ. Thực ra, bà ấy không hề mong đợi một sự đền đáp nào từ nơi ta như là mảnh đất trồng trọt, vật thực hay y phục. Bà chỉ mong ước từ phước thiện này sẽ có được ba quả là tái sanh làm người, trời hoặc chứng đắc Niết-bàn. Ta có thể cho bà ấy ba thứ này để đền đáp lại được không? Vì ta vẫn chưa hoàn toàn tận diệt tham (rāga), sân (dosa), si (moha), thật chưa chưa xứng đáng cho ta nhận phần để bát của gia đình đại lượng này”.

Nghĩ vậy, Đại đức liền đặt bát của mình trở vào bao và quay về hang. Sau khi cất bát dưới gầm giường và máng y lên, Đại đức ngồi xuống quyết tâm sắt đá hành thiền tinh tấn nỗ lực và quyết sẽ không rời khỏi hang nếu chưa đắc quả A-la-hán, giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ giải thoát.

Quyết định của vị ấy thật tốt đẹp biết bao nhiêu. Với một người như Đại đức Ayyamitta người đã từng hành trì miên mật nhiều năm, nên việc đắc quả A-la-hán là điều tất yếu. Ngay trước giờ ăn trưa, ngay trong thời ngồi đó ngài đã đắc quả vị A-la-hán. Với ánh hào quang của sự an tịnh và trong sạch, vị ấy ngồi trong hang tinh khiết như một đóa hoa sen mới nở.

Nhìn thấy sự kỳ diệu này, một vị thiên ở gần đó đã thốt lời khen ngợi và chúc tụng đến Đại đức: “Hỡi người anh hùng, tôi xin đảnh lễ ngài! Hỡi vị thánh, tôi xin đảnh lễ ngài! Vị Đại đức đã giải thoát khỏi mọi khổ đau! Tất cả lậu hoặc bị cạn khô, Ngài đã trở thành một bậc thánh đáng cung kính và đáng cúng dường”. Sau những lời tán thán này, vị thiên thúc giục:

“Do phước báu đặt bát với thiện tâm rộng lượng cúng dường cho một bậc đã giác ngộ như ngài, người phụ nữ lớn tuổi kia sẽ sớm thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra). Xin ngài hãy tiếp tục vào làng đi bát.”

Rồi, Đại đức Ayyamitta mang bát vào làng.

Câu chuyện này cho ta thấy rằng nhờ việc quán tưởng đời sống của vị tăng lệ thuộc vào thí chủ sẽ có sự khởi sinh ý thức trách nhiệm trân trọng và đền ơn thí chủ bằng cách nỗ lực tinh tấn hành trì. Hơn nữa, như là kết quả của việc tuân thủ sự quán tưởng này, sẽ không có việc sử dụng tứ vật dụng hời hợt và thiếu quán xét như lời Đức Phật đã dạy.

Bằng cách tuân thủ sự quán tưởng này, nó chẳng những giúp cho vị Tỷ-kheo giữ Giới nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla) trong sạch mà còn giúp giữ Giới quán tưởng tứ vật dụng (Paccayasannissita Sīla) trong sạch. Giới quán tưởng tứ vật dụng (Paccayasannissita Sīla) là giới liên quan đến việc thọ dụng tứ vật dụng. Kính trọng việc đặt bát bằng sự cam kết hành trì sẽ dẫn dắt vị ấy chứng quả A-la-hán. Thực vậy, sự quán tưởng thứ hai cần được tuân thủ bởi người xuất gia.

Chương 3.
Sự Chuyển Hóa Oai Nghi Và Phong Cách Cư Xử

Đức Phật dạy rằng quán tưởng thứ ba sẽ phải được thực hiện bởi các Tỷ-kheo như sau:

“Là Tỷ-kheo, tôi phải có oai nghi và cách cư xử phù hợp với một bậc xuất gia”. Các Tỷ-kheo phải luôn quán tưởng như thế.

Bất cứ ai đã trở thành Tỷ-kheo thì phải luôn cư xử đúng đắn phù hợp, nó được nói trong chú giải Tăng Chi Bộ Kinh, q3, tr313. Nói chung, cách đi đứng của vị Tỷ-kheo hoàn toàn khác với người thế tục. Thông thường, trong phong cách thoải mái của người thế gian, ngay cả bước chân đôi khi cũng có vẻ nghênh ngang và ngã mạn. Họ còn mang nhiều kiểu tóc đa dạng được nhuộm bằng nhiều màu, trang điểm với đồ trang sức. Từ khi trở thành một bậc xuất gia, vị ấy phải luôn giữ gìn oai nghi nghiêm túc.

Vậy phải đi, đứng như thế nào mới đúng cách?

Một người Tỷ-kheo phải biết oai nghi đi đứng với lục căn thanh tịnh, tâm an lành, mắt nhìn ra phía trước chỉ vài sải chân, bước đều đặn, không quá chậm, cũng không quá nhanh, giống như “chiếc xe bò chở nước đi trên con đường gập ghềnh” nói trong chú giải của Tăng Chi Kinh, q3, tr313

Một Tỷ-kheo, khi đi lại, phải giữ gìn lục căn an tịnh và thăng bằng. Tâm phải luôn giữ ở trạng thái an tịnh bằng cách thực hành thiền Chỉ hoặc thiền Quán như là một trong những thói quen. Làm thế sẽ khiến cho tâm vị ấy luôn an tịnh. Lục căn vị ấy cũng trở nên an tĩnh.

Một chiếc xe bò chở nước đi trên con đường gập ghềnh không nên đi quá nhanh để tránh nước bên trong đổ ra ngoài. Tương tự vậy, một Tỷ-kheo phải sải những bước chân đều đặn.

Lợi ích

“Evaṃ Paccavekkhato Hi Iriyāpatho sāruppo Hoti.”

Chú giải Tăng Chi bộ kinh, q3, tr313.

Lời dịch: Bằng cách thực hành đúng đắn giới hạnh này, lục căn của vị Tỷ-kheo sẽ trở nên thanh thản và an bình.

Tisso Sikkhā Paripūrenti.

Chú giải Tăng Chi bộ kinh, q3, tr313.

Lời dịch: Làm như thế sẽ giúp cho sự thực hành tam học Giới, Định, Tuệ. Tại sao vậy?

Lý do thật rõ ràng.

Một vị Tỷ-kheo nỗ lực thực hành tâm linh sẽ không bao giờ có hành động cẩu thả, bất cẩn. Không giống như người khác, vị ấy liên tục giữ chánh niệm tỉnh giác trong mọi hoạt động của vị ấy. Mỗi một bước chân đều là thời khắc thực hành thiền Chỉ hoặc thiền Quán tùy theo sự chọn lựa của vị ấy. Do vậy, mỗi giây phút thực hành của vị ấy sẽ bằng với thời gian thực hiện tam học Giới, Định, Tuệ.

Câu chuyện về Đại đức Mahā Tissa, một hành giả tinh tấn

Đây là một ví dụ đáng lưu ý về Đại đức Mahā Tisssa người đã sống trên một ngọn núi tên là Cetiya. Vào một ngày nọ, trong khi đang trên đường đi bát, vị ấy nghe tiếng cười rúc rích của một người phụ nữ. Vị ấy liền lấy răng của cô ta làm đề mục thiền bộ xương (aṭṭhi kamaṭṭhāna) và tiếp tục đi bát trên con đường dẫn vào thành phố cổ Anurudhā của Sri Lanka. Oai nghi của vị ấy rất an tịnh vì tâm vị ấy bám vào đề mục thiền bộ xương. Và lần nữa, ở trong thành phố, vị ấy lại nghe tiếng cười lớn của một người phụ nữ. Lấy răng cô ta làm đối tượng thiền, vị ấy tiếp tục hành thiền. Tức thì ngay lúc đó, toàn bộ hình dáng của người phụ nữ biến thành bộ xương dưới mắt nhìn của vị Tỳ-kheo.

Tại sao vị ấy lại thực hành thành công đề mục thiền bộ xương?

Bởi, vào lúc nghe tiếng cười của người phụ nữ đó, vị ấy có thể ngay tức khắc lấy lại định tâm hành thiền bộ xương bằng cách lấy răng của cô ta để làm đề mục thiền. Hơn nữa, vị ấy tiến hành thực hành đề mục bộ xương cả bên trong (trong chính bản thân vị ấy) lẫn bên ngoài (hình dáng người phụ nữ ấy). Dựa vào sự hành thiền này, vị Tỷ-kheo đã thành tựu một mức định tâm vững chắc của sơ thiền.

Dựa vào sơ thiền, vị ấy thực hành thiền minh sát bằng cách quán xét tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của Danh Sắc cùng với nhân và quả Danh Sắc. Vì những lý do này, vị Thánh Tăng đã tích cực theo đuổi việc thực hành thiền định, đã có thể tập trung vào khía cạnh bất tịnh của bộ xương và thành tựu quả vị A-la-hán bằng cách tiếp tục thực hành thiền Minh sát dựa trên nền tảng sơ thiền.

Vì thế, trong mỗi bước chân, vị ấy liên tục thực hành Tam học Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Ở đây, người ta có thể cho rằng vị ấy đã chứng đắc Đạo Quả chỉ trong nháy mắt. Nhưng sự thực, vị Đại đức Tỷ-kheo này đã thực hành thiền Vipassanā suốt cả đời nhưng chưa đắc được Đạo – Quả và Niết-bàn. Vị ấy phải đợi đến khi Tuệ minh sát chín muồi sẵn sàng cho việc chứng đắc Niết-bàn. Khi Tuệ minh sát đã hoàn toàn chín mùi, giây phút mà vị ấy hành thiền minh sát bằng cách quán xét tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của tất cả các pháp hữu vi của thân và tâm, vị ấy có thể dễ dàng chứng đắc Đạo (Magga), Quả (Phala) và Niết-bàn (Nibbāna).

Tại sao vậy? Bởi, vị ấy thực hành thiền Vipassanā bằng cách tập trung quán sát Tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của các hành mà nó được hiểu như Khổ đế và Tập đế từ rất lâu. Để có thể bổ sung cho việc thực hành Tam vô lậu Học, Đức Phật đã dạy phải Quán tưởng về sự thay đổi tướng mạo và oai nghi của vị Tỷ-kheo.

Hướng Dẫn Về Sự Cải Hóa

Ngoài ra còn có các cải hóa khác đòi hỏi các vị Tỳ-kheo phải thực hành, đặc biệt là vấn đề có thái độ thiện tâm. Đức Phật đã dạy các ví dụ mẫu mực về phẩm hạnh cho Đại đức Cunda trong bài thuyết giảng sau đây:

“Này Cunda, ta tuyên bố rằng ngay chỉ một tâm thiện đối với điều thiện là đã lợi lạc to lớn, huống chi các hành động thiện được thực hiện bằng thân hành hoặc khẩu hành”.

Ở đây, chúng ta cần phải làm rõ điều thiện và việc hành thiện. Những lời dạy sau đây của Đức Phật với Đại đức Cunda là giải thích rõ ràng về các phẩm chất thiện cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

“Do đó, này Cunda, như vậy ngươi hãy tu dưỡng tất cả các thái độ thiện:

1. ‘Những kẻ khác có thể là những người làm hại, chúng ta ở đây dùng từ bi và không sân độc để đáp lại’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

2. ‘Những kẻ khác có thể sát sanh, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ sát sanh’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

3. ‘Những kẻ khác có thể trộm cắp, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ trộm cắp’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

4. ‘Những kẻ khác có thể không phạm hạnh, chúng ta ở đây sẽ sống phạm hạnh’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.”

Bốn lời dạy trên của Đức Phật nhằm cải thiện thân hành.

5. “Những kẻ khác có thể nói dối, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói dối”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

6. “Những kẻ khác có thể nói hai lưỡi, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói hai lưỡi” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

7. “Những kẻ khác có thể nói lời độc ác, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời độc ác” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

8. “Những kẻ khác có thể nói lời phù phiếm, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời phù phiếm”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Bốn lời dạy trên của Đức Phật nhằm hướng cho vị Tỷ-kheo biết cách làm thế nào để cải thiện khẩu hành. Sẽ không có sự khác biệt giữa một người thế tục và một vị bước vào đời sống xuất gia như Tỷ-kheo hay Tu nữ, nếu thân hành và khẩu hành của những vị ấy không trong sạch. Nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô lỗ, nói lời vô ích chỉ là lối sống bắt chước thế gian. Từ lúc trở thành một bậc xuất gia vị ấy phải luôn nói lời chân thật, thân thiện, lễ độ có thể làm tăng trưởng hành động thiện như bố thí, trì giới, Tham thiền (thiền Định hoặc thiền Quán). Một vị Tỷ-kheo nên nói đúng thời, đúng lúc những lời lợi ích dẫn tới nghiệp thiện.

Ngoài ra, Đức Phật còn dạy cách cải hóa ý hành như sau:

9. “Những kẻ khác có thể tham dục, chúng ta ở đây sẽ không tham dục” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

10. “Những kẻ khác có thể có sân tâm, chúng ta ở đây sẽ không có sân tâm” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

11. “Những kẻ khác có thể có tà kiến, chúng ta ở đây sẽ có chánh kiến” thái độ thiện như thế cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

12. “Những kẻ khác có thể có tà tư duy, chúng ta ở đây sẽ có chánh tư duy”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

13. “Những kẻ khác có thể có tà ngữ, chúng ta ở đây sẽ có chánh ngữ”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

14. “Những kẻ khác có thể có tà nghiệp, chúng ta ở đây sẽ có chánh nghiệp”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

15. “Những kẻ khác có thể có tà mạng, chúng ta ở đây sẽ có chánh mạng”, thái độ thiện này phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

16. “Những kẻ khác có thể có tà tinh tấn, chúng ta ở đây sẽ có chánh tinh tấn”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

17. “Những kẻ khác có thể có tà niệm, chúng ta ở đây sẽ có chánh niệm”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

18. “Những kẻ khác có thể có tà định, chúng ta ở đây sẽ có chánh định”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Ghi chú: Lời dạy từ 11 đến 18 là thuộc Bát Chánh Đạo

19.  “Những kẻ khác có thể có tà trí, chúng ta ở đây sẽ có chánh trí”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Ở đây, tà trí liên quan đến sự hiểu biết về phương pháp, cách thức thực hành các việc bất thiện. Nó ám chỉ sự phản chiếu của trí tuệ về việc bất thiện mà người đó đã thực hiện. Ngược lại, chánh trí nghĩa là 19 Tuệ phản khán sanh khởi trong tâm của vị thánh ngay giây phút giác ngộ. Để hiểu được 19 Tuệ phản khán là gì, ta cần phải biết 5 tuệ phản khán và bốn bậc thánh.

Có năm Tuệ phản khán:

a) Xét lại Đạo Tuệ mà vị ấy đã đạt được.

b) Xét lại Quả Tuệ mà vị ấy đã đạt được.

c) Xét lại trạng thái an tịnh Niết-bàn mà vị ấy đã an hưởng.

d) Xét lại các phiền não đã bị tiêu diệt sau khi đã chứng ngộ.

e) Xét lại phiền não còn dư sót mà vị ấy chưa diệt trừ hoàn toàn.

Có bốn bậc thánh:

1) Tu-đà-hoàn (Sotāpatti): là vị đã chứng giai đoạn đầu của sự giác ngộ.

2) Tư-đà-hàm (Sakadāgāmi): là vị đã chứng đắc giai đoạn hai của sự giác ngộ.

3) A-na-hàm (Anāgāmi): là vị đã chứng đắc giai đoạn ba của sự giác ngộ.

4) A-la-hán (Arahatta): là vị đã chứng đắc giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ.

Theo tự nhiên, có năm sát-na tâm của Tuệ phản khán thường khởi lên trong tâm của ba bậc thánh đầu tiên, ngay lập tức sau khi giác ngộ. Tuy nhiên, khi đắc được tầng thánh thứ tư chỉ có bốn sát-na tâm của Tuệ phản khán vì vị ấy đã tận diệt hoàn toàn phiền não không còn dư sót. Do vậy, có tất cả 19 tuệ phản khán khởi lên trong tâm của bốn bậc thánh. Chánh trí có nghĩa là 19 phản khán trí. Tất cả những bậc thánh nào có 19 tuệ phản khán được gọi là Sammāñāṇī có nghĩa là người có chánh trí.

Đức Phật giảng thêm rằng:

20. “Những kẻ khác có thể có tà giải thoát, chúng ta ở đây sẽ có chánh giải thoát”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Chánh Giải Thoát (Sammā Vimutti)

Ở đây cần phải giải thích thế nào là Chánh Giải Thoát (Sammā Vimutti). Đó là trạng thái phát triển của một tâm hoàn thiện chứng đạt được qua sự giác ngộ và diệt tận hoàn toàn mọi phiền não theo Bát Chánh Đạo. Một khi một vị Thánh chứng đắc giai đoạn cuối cùng của sự Giác Ngộ, vị ấy hoàn toàn chiến thắng và giải thoát khỏi sự khổ đau vô tận trong vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra). Đấy là Chánh Giải Thoát. Tà Giải thoát (Micchā Vimutti) là khái niệm và lòng tin của những người đã chọn con đường giải thoát tâm linh sai lầm như thực hành theo kiểu bò và kiểu chó vào thời Đức Phật thuở xưa. Họ cho rằng việc thực hành tâm linh bằng cách sống tự nhiên như bò hay chó là phương cách có thể giải thoát con người khỏi vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra). Theo bản chất của chân lý tối thượng, tà giải thoát liên hệ đến ngũ thủ uẩn bất thiện (akusala khandhās). Trong khi chánh giải thoát mang nghĩa là Danh uẩn thiện đồng sanh với Thánh Quả Tuệ (Thánh Quả Tâm) (Ariya Phala Citta).

“Để tránh tà giải thoát (Micchā Vimutti), ta sẽ cố gắng đạt Chánh Giải Thoát bằng cách chứng đắc Thánh Quả Tuệ (Ariya Phala)”, thái độ và quyết tâm này cần được phát triển ở vị Tỷ-kheo. Làm thế nào để đạt được điều ấy?

Bằng việc thực hành viên mãn Bát Chánh Đạo.

Do đó, bắt buộc vị Tỷ-kheo phải phát triển một thái độ chân chánh thực hành viên mãn Bát Chánh Đạo.

Bát Chánh Đạo

Ở đây, ta sẽ bàn về lợi ích của việc thực hành Bát Chánh Đạo.

Về cơ bản, Bát Chánh Đạo được chia làm hai loại: Hiệp Thế và Siêu Thế. Lại nữa, Bát Chánh Đạo Hiệp Thế được chia làm hai: Bát Chánh Đạo thiền Định và Bát Chánh Đạo thiền Tuệ.

Ghi chú: Bát Chánh Đạo được hoàn thành trước và trong khi thực hành thiền Định là Bát Chánh Đạo thiền Định, trong khi các đạo này được thực hành trong quá trình thiền Vipassanā là Bát Chánh Đạo thiền Vipassanā.

Bát Chánh Đạo Thiền Định Và Làm Thế Nào Chúng Xảy Ra

Chúng ta hãy nói về Bát Chánh Đạo thiền Định. Đầu tiên một hành giả có triển vọng (yogāvacara) phải hoàn mãn ba chi phần của Giới học: chánh ngữ bằng cách ngăn ngừa bốn loại tà ngữ, chánh nghiệp bằng cách ngăn ngừa ba loại hành bất thiện và chánh mạng bằng cách ngăn ngừa nuôi mạng bất chính.

Sau khi thiết lập vững chắc ba chi đạo của Giới học, vị ấy phải tiến hành ba chi đạo về Định. Đầu tiên, phải thực hành Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyama), Chánh Niệm (Sammā Sati) và Chánh Định (Sammā Samādhi). Ví dụ một thiền sinh chọn hành thiền theo đề mục Kasiṇa, thiết lập nỗ lực cần thiết vào việc thực hành bằng cách tập trung trên đối tượng Kasiṇa và nỗ lực liên tục thực hành tiến bộ gọi là Chánh Tinh Tấn. Giữ tâm và tác ý vững chắc trên đối tượng Kasiṇa là Chánh Niệm. Khi giữ tâm hoàn toàn định sâu vào đối tượng Nimitta của Kasiṇa, nó có thể được gọi là Chánh Định. Theo cách này ba chi về Định đã hoàn thành.

Trạng thái tâm của thiền sinh lúc đó hoàn toàn thấy rõ và thể nhập vào đối tượng Nimitta Kasiṇa được hiểu là Chánh Kiến trong chi Thiền (Jhāna Sammā Diṭṭhi). Việc hướng tâm đến đối tượng Kasiṇa là Chánh Tư Duy (Sammā Saṅkappa). Cả hai Chánh Kiến và Chánh Tư Duy là hai chi đạo về Tuệ. Vì vậy ba chi đạo về Giới (Sīla Maggaṅga), ba chi đạo về Định (Samādhi Maggaṅga) và hai chi đạo về Tuệ (Pañña Maggaṅga) kết hợp với nhau thành Bát Chánh Đạo của thiền Định (Samādhi).

Nếu một thiền sinh chọn đề mục thiền Tứ Đại (Dhātu Kammaṭṭhāna) ở đó Bát Chánh Đạo được thực hành như sau.

Đầu tiên thực hành ba chi đạo về Giới (Sīla Maggaṅga) chính là giai đoạn khởi đầu của việc thực hành. Đặt chân vững chắc trên đất Giới, vị ấy phải an thân trên nền “đá (định)” vững chắc của ba chi đạo về Định nơi mà hành giả sau đó sẽ mài bén con dao tuệ tức chi Đạo về Tuệ (Pañña Maggaṅga).

Một lần nữa, tôi sẽ giải thích rõ làm thế nào một số Thánh Đạo được tự động kết hợp trong thực hành thiền Định.

a) Thể nhập và hiểu thấu đáo đối tượng Tứ đại bao gồm sự thấu hiểu các đặc tính của mỗi đại được gọi là Chánh Kiến chi Đạo (Sammā Diṭṭhi Maggaṅga).

b) Duy trì sự hướng tâm nhận thức đặc tính của đối tượng Tứ Đại được gọi là Chánh Tư Duy chi Đạo (Sammā Saṅkappa Maggaṅga).

c) Nỗ lực thực hành liên tục để phát triển nội lực quán xét về bản chất tối hậu của Tứ Đại chính là Chánh Tinh Tấn chi Đạo (Sammā Vāyāma Maggaṅga).

d) An trú trên đối tượng Tứ Đại gọi là Chánh Niệm chi Đạo (Sammā Sati Maggaṅga).

e) Có thể giữ định tâm vững chắc trên Tứ Đại và phát triển định tâm một cách vững vàng là Chánh Định chi Đạo (Sammā Samādhi Maggaṅga).

Tất cả năm chi Đạo đề cập trên cùng với ba chi Đạo ban đầu về Giới tạo thành Bát Chánh Đạo của thiền Định.

Bát Thánh Đạo của Thiền Vipassanā

Bây giờ, ta hãy nói về Bát Thánh Đạo thiền Vipassanā khởi lên trong tâm của hành giả khi thực hành thiền Vipassanā.

Trong một bài thuyết giảng nổi tiếng là kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta), Đức Phật đã xếp nhóm Chánh Kiến vào Tứ Thánh Đế như sau:

1) Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Khổ đế (Dukkha Sacca) (Thánh đế về Khổ).

2) Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Tập Đế (Samudaya Sacca) (Thánh đế về nguyên nhân của Khổ).

3) Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Diệt Đế (Nirodha Sacca) (Thánh đế về Diệt Khổ)

4) Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Đạo Đế (Magga Sacca) (Thánh đế về con đường dẫn tới diệt Khổ).

Vì vậy có bốn loại Chánh Kiến, một cho mỗi thánh Đế. Theo chú giải của kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta), Đạo Đế (Bát Chánh Đạo) được mô tả trong kinh Đại Niệm Xứ là Đạo Hiệp thế, còn gọi là Pubbabāga Satipaṭṭhāna Magga – Thánh Đạo dẫn nhập của thiền Niệm xứ bởi nó phải được viên mãn trước khi chứng đắc các Thánh Đạo Ariya Magga (các đạo Siêu thế) ở đây tôi sẽ giải thích tóm tắt về Tứ Thánh Đế.

KHỔ ĐẾ (Dukkha Sacca)

Trong nhiều bài pháp gồm có Kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta), Đức Phật đã tóm tắt Thánh Đế về Khổ chính là ngũ thủ uẩn (Upādānakkhanda) hình thành là do duyên ái và thủ. Chúng là Sắc thủ uẩn (Rūpupādānakkhandha), Thọ thủ uẩn (Vedanupādānakkhandha), Tưởng thủ uẩn (Saññupādānakkhandha), Hành thủ uẩn (Saṅkhārupādānakkhandha), Thức thủ uẩn (Viññānupādānakkhandha) nơi mà tham ái, chấp thủ chính là nguồn gốc của Khổ, Đức Phật đã giải thích rõ ràng như vậy.

Sắc thủ uẩn (Rūpupādānakkhandha) được hình thành bởi tham ái và ngã chấp, nó có mười một yếu tố như quá khứ, tương lai, hiện tại, trong hoặc ngoài, thô hoặc tế, xấu hoặc đẹp, xa hoặc gần. Bất cứ sắc nào chứa đựng bất kỳ khía cạnh nào trong mười một yếu tố nói trên đều được gọi là Sắc thủ uẩn (Rūpupādānakkhandhā) theo Uẩn Kinh (Tương Ưng Kinh, bộ 2, tr 39). Tương tự như vậy đối với bốn uẩn còn lại. Do đó, Ngũ thủ uẩn với mười một phẩm chất gọi là Khổ Thánh đế (Dukkha Sacca).

Ghi chú: từ “Dukkha” của tiếng Pāli được dịch là Khổ đau chưa chuyển tải hết ý nghĩa muốn nói đến. Vì thế tốt nhất chúng ta hãy sử dụng từ gốc Pāli “Dukkha” trong khi thuyết giảng.

TẬP ĐẾ (Samudaya Sacca)

Đức Phật đã giải thích Tập đế (nguyên nhân của Khổ (Dukkha)) theo năm cách của Bộ Phân tích về Đế (Sacca Vibhaṅga Text) (Abhidhamma Pitaka – Tạng Vi diệu pháp, q.2, tr 112-115) như sau:

1) Tham được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca) (Tạng Vi diệu pháp q2, tr112)

2) Tham cùng với các tâm ô nhiễm cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca).

3) Tham, tất cả tâm ô nhiễm cùng các tâm sở bất thiện cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca)

4) Tham, tất cả tâm ô nhiễm, tâm sở bất thiện cùng với ba nhân thiện là vô tham (alobha), vô sân (adosa), vô si (amoha) hay minh mà là các đối tượng của lậu hoặc (Āsava) cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca). (Tạng Vi diệu pháp, II, tr114)

5) Ba nhân thiện như vô tham (Alobha), vô sân (Adosa), vô si hay minh hoặc trí tuệ (Amoha) và các tâm sở thiện (kusala) mà là đối tượng của lậu hoặc (Āsava) bao gồm tham ái và các tâm ô nhiễm khác cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca) (Tạng Vi diệu pháp, II, tr 114).

Liên hệ với phần giải thích mở rộng, chú giải có khái quát tóm tắt các Nghiệp thiện hiệp thế và Nghiệp bất thiện cũng được bao gồm trong Tập đế (Samudaya Sacca).

Trong Tăng Chi Bộ Kinh, bài thuyết giảng tựa đề Nguồn gốc của Tà kiến (Titthāyatana Sutta). Đức Phật đã mô tả tất cả các hành (tâm hành) (saṅkhāra) dù thiện hay bất thiện cũng được xếp vào Tập đế.

Theo quan điểm xếp loại mở rộng của Tập đế, tất cả Nghiệp thiện và Nghiệp bất thiện được thực hiện trên nền tảng vô minh (avijjā), tham ái (taṇhā), thủ (upādāna) (chấp thủ) được gọi là Tập Đế. Trí Tuệ và sự thấu hiểu về Tập đế được gọi là Chánh kiến.

Ghi chú: ngay cả các nhân thiện, tâm sở thiện, và nghiệp thiện (Kammas) đều được xếp vào loại Tập đế, bởi vì chúng cũng có thể dẫn tới ngũ uẩn mới trong vô số các kiếp sống tương lai qua đó tạo thành các vòng khổ đau (Dukkha) triền miên.

DIỆT ĐẾ (Nirodha Sacca)

Về Diệt đế (Nirodha Sacca), tôi sẽ giảng giải về đối tượng của Tuệ Vipassanā (Vipassanā ñāṇa). Trong bài kinh Nguồn gốc của Tà kiến (Titthāyatana Sutta) đã đề cập ở trên, Đức Phật đã nói “avijjāya tweva asesavirāganirodha saṅkhāranirodho” nghĩa là “Do vô minh (avijjā) diệt, hành diệt”(Tăng Chi Kinh, I, tr 178)

Vì vậy một hành giả phải cố gắng phát triển Tuệ Minh Sát để có thể hiểu rõ các pháp hữu vi (danh – sắc) diệt như thế nào.

Sự Diệt Tận Hoàn Toàn (Sự Vô Sanh) (Anuppāda Nirodha)

Liên quan tới tiến trình này, chú giải Thanh Tịnh Đạo giải thích như sau:

Paccayato vayadassanena Nirodhasaccaṃ pākaṭaṃ hoti, paccayanuppadena paccayavataṃ anuppādavabhodhato

(Chú giải Thanh Tịnh Đạo, q 2, tr 267)

Lời dịch: Một khi hành giả đã thực hành thiền Vipassanā đến giai đoạn Tuệ Sanh Diệt (Udayavaya ñāṇa) sẽ thấy rõ ràng sự sanh diệt của danh sắc. Vào lúc này, Diệt đế (Sự thật của sự diệt) trở nên rõ ràng đối với vị ấy. Tại sao?

Bởi vì, khi các nhân như Vô minh (avijjā), Tham ái (taṇhā), Chấp thủ (upādāna), Hành (Saṅkhāra), Nghiệp (kamma) diệt khiến cho ngũ uẩn, là quả của các nhân này, cũng bị diệt. Khi tới giai đoạn này hành giả sẽ thấy rõ tiến trình diệt như vậy.

Khi nào thì các nhân như vô minh (avijjā)… bị diệt tận hoàn toàn? Phụ chú giải của Bộ Thanh tịnh đạo đã nói như sau:

Một khi hành giả chứng đắc Tuệ Đạo A-la-hán (Tuệ Đạo của giai đoạn giác ngộ thứ tư), tất cả các nhân phiền não của Khổ đều bị diệt tận bởi trạng thái tịch tịnh tối thượng, là trạng thái vô vi Niết-bàn. Do vậy, các nhân của Khổ sẽ bị tận diệt hoàn toàn, không bao giờ trở lại trong tâm của một vị chứng đắc giai đoạn giác ngộ thứ tư, giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ. Sự diệt tận này gọi là Sự diệt tận hoàn toàn (sự vô sanh) (Anuppāda Nirodha).

Ở đây, thực vậy, Thánh Đạo A-la-hán, giai đoạn giác ngộ thứ tư và là giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ trực tiếp tận diệt hoàn toàn ba nhân Vô minh (Avijjā), Tham ái (Taṇhā) và Chấp thủ (Upādāna).

Còn lại hai nhân là Hành (Saṅkhāra) và Nghiệp (Kamma), chỉ khi nào có ba nhân trên hỗ trợ thì mới có khả năng đưa đến tái sanh, tạo ra ngũ uẩn cho đời sống mới là Khổ Thánh đế.

Nếu không có ba nhân Vô minh (Avijjā), Tham ái (Taṇhā) và Chấp thủ (Upādāna) thì sẽ không có cơ hội để sanh ra Khổ đế (tức sanh ra ngũ thủ uẩn của đời sống mới). Vì vậy, A-la-hán Thánh Đạo  (Arahatta Magga), giai đoạn giác ngộ thứ tư và là giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ không những diệt tận hoàn toàn ba nhân chính kia mà còn diệt tận hoàn toàn ngũ uẩn cho đời sống kế tiếp ngay sau Tử tâm Vô dư Niết-bàn (Parinibbāna Cuti), thời khắc tử tâm của một bậc thánh giác ngộ hoàn toàn. Sau thời khắc tử tâm này, không còn sự tái sanh nữa, nên cũng không còn ngũ uẩn nữa. Đó chính là tiến trình Anuppāda Nirodha, sự diệt tận hoàn toàn (sự vô sanh) được thấy biết rõ bằng Tuệ minh sát Vipassanā.

Sự Sanh và Diệt Theo Từng Sát-na (Uppāda Nirodha)

Bây giờ chúng ta hãy giải thích về Uppāda Nirodha. Khi nói về tất cả các pháp hữu vi thì chúng ta đều liên hệ đến Thánh đế về Khổ và Thánh đế về nguyên nhân của Khổ với bản chất sanh và diệt. Tiến trình ngắn ngủi của sự sanh và diệt liên tục gọi bằng tiếng Pāli là “Khaya Virāga” hoặc “Khaṇa Nirodha” (Thanh Tịnh Đạo, II, tr 282).

Chừng nào còn chuỗi các nhân hỗ trợ, chuỗi vô tận các pháp hữu vi (Saṅkhāra Dhamma) mới được sanh ra như là kết quả của các nhân sanh. Quá trình tái diễn sự sanh và diệt ấy gọi là “Uppāda Nirodha”, nghĩa là sự sanh và diệt lặp đi lặp lại nhiều lần. Hành giả cần cố gắng dùng Tuệ minh sát để thấy rõ quá trình sanh và diệt theo từng sát-na của các pháp hữu vi sau khi quán sát tam tướng Vô thường, Khổ, Vô Ngã. Thấy rõ Sự sanh và diệt từng sát-na (Uppāda Nirodha) và Sự diệt tận hoàn toàn (sự vô sanh) (Anuppāda Nirodha) của pháp hữu vi được gọi là Chánh kiến Thiền Tuệ (Vipassanā Sammā Diṭṭhi).

Thánh Đạo (Magga Sacca) Hiệp Thế

Hơn nữa, một hành giả, khi hành thiền Vipassanā, được mô tả trong Quán bảy pháp vô sắc (Arūpasattaka Vipassanā) (Thanh Tịnh Đạo, q II, tr 261-264), Quán sự sanh và diệt (Udayavayānupassanā) (Thanh Tịnh Đạo, q II, tr 268), Quán sự tan hoại (Bhaṅganupassanā) (Thanh Tịnh Đạo, q II, tr 288) cần phải quán các lộ trình tâm (như tốc hành tâm của lộ ý môn, Vipassanā Manodvarika Javana Vithi) đồng sanh với tuệ minh sát.

Khi quán điều này, vị ấy sẽ thấy rõ các yếu tố của các chi Bát Chánh Đạo như là Chánh Tư duy (Sammā Saṅkappa), Chánh Tinh tấn (Sammā Vāyāma), Chánh Niệm (Sammā Sati) và Chánh Định (Sammā Samādhi) đã cùng sanh khởi lên trong suốt thời gian hành thiền Minh Sát. Hành giả sẽ thấy rõ các chi phần của Thánh Đạo cùng khởi lên với Minh Sát trí. Thánh Đạo có khả năng diệt trừ tạm thời các phiền não. Đó là lý do tại sao các yếu tố của Bát Chánh Đạo được gọi là Đạo đế. Vì vậy, khả năng liễu tri mỗi chi phần trong Bát Chánh Đạo bằng Tuệ Minh Sát được gọi là Chánh kiến Vipassanā (Vipassanā Sammā Diṭṭhi).

Liễu tri Tứ Thánh Đế trong tiến trình hành thiền Vipassanā

Tôi đã đề cập một vài cấp độ của Tuệ Minh Sát qua Chánh Kiến về Thiền tuệ (Vipassanā Sammā Diṭṭhi), chứng ngộ Tứ Thánh Đế trong tiến trình thực hành thiền Vipassanā. Bây giờ tôi sẽ giải thích cho quý vị hiểu rõ hơn như sau.

Trong quá trình hành thiền Vipassanā, có Chánh kiến về Khổ đế khi hành giả tiến hành quán sát một cách khách quan về ngũ thủ uẩn (Upādānakkhandha) với mười một khía cạnh như: hiện tại, quá khứ, tương lai, trong, ngoài… Có một quá trình tự nhiên hướng tâm nhận thức về Khổ đế (Dukkha Sacca) (hay là ngũ thủ uẩn) được gọi là Chánh Tư Duy (Sammā Saṅkappa). Mỗi nỗ lực của hành giả trong việc hành thiền là Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyāma). Sự không quên lãng trong tâm về Khổ đế được gọi là Chánh Niệm (Sammā Sāti). Khi hành giả định tâm trên Khổ đế được gọi là Chánh Định (Sammā Samādhi). Năm chi phần của Bát Chánh Đạo này kết hợp với ba chi Giới, tổng cộng có tám chi đạo cần phải được tiến hành tu tập.

Ghi chú: chữ Khổ đế (Dukkha Sacca) ở đây được dùng cho toàn bộ “ngũ uẩn” mà tâm người hành giả cần phải liên tục chú tâm trong suốt quá trình hành thiền.

Một khi hành giả tuệ tri được làm thế nào mà tất cả các đạo của Bát Chánh Đạo kết hợp với nhau trong tuệ minh sát về Khổ đế  (Dukkha Sacca), thì hành giả cũng sẽ dễ dàng tuệ tri được làm thế nào mà tất cả các đạo của Bát Chánh Đạo kết hợp với nhau trong tuệ minh sát về Tập đế (Samudaya Sacca).

Chỉ khi nào hành giả bắt đầu quán sát đặc tính tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của Danh Sắc của Khổ đế (Dukkha Sacca) và Tập đế (Samudaya Sacca) trong khi thực hành thiền Vipassanā thì khi đó Tuệ Minh Sát của cả Diệt đế (Nirodha Sacca) và Đạo đế (Magga Sacca) sẽ hiển lộ.

Các pháp hữu vi trong đó có Khổ đế và Tập đế có bản chất sanh diệt liên tục. Hành giả phải tập trung quán chiếu bản chất tiến trình sanh diệt không ngừng của danh và sắc. Khi hành thiền Vipassanā hành giả phải xen kẽ sự chú tâm trên ba đặc tính Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha), Vô ngã (Anatta). Điều này có nghĩa là phải chú tâm xen kẽ trên tam tướng là

a) Anicca, vô thường là một tiến trình rõ ràng của danh sắc rằng ngay sau khi sanh lên thì diệt ngay lập tức.

b) Dukkha, khổ là một tiến trình của sự đau khổ liên tục vì sự sanh và diệt triền miên.

c) Anatta, vô ngã là tiến trình các pháp diễn ra theo đường lối riêng của nó mà không theo ý muốn của bất kỳ một thực thể nào. Nó được gọi là Khaṇato Udayavaya Dassana, nghĩa là thấy tiến trình sanh và diệt theo từng sát-na.

Đồng thời, hành giả cần phải quán chiếu Khổ đế là quả bởi nhân là Tập đế. Đó là Paccayato Udayadassana Ñāna – là Tuệ biết rõ về Khổ (dukkha) được sanh khởi bởi các nhân sanh khổ (samudaya). Một khi các nhân bị diệt tận hoàn toàn, bằng Tuệ Minh Sát vị ấy cũng thấy rõ sự diệt tận hoàn toàn của ngũ uẩn. Đây chính là Paccayato Vayadassana Ñāna, tuệ biết rõ tiến trình diệt của các pháp do không còn nhân sanh khởi. Cả hai dạng Tuệ minh sát gọi là Paccayato Udaya-vaya-dassana Ñāna, nghĩa là Tuệ thấy rõ sự sanh và diệt do nhân. Một hành giả phải quán chiếu bằng Tuệ Minh Sát để liễu tri tam tướng với nhân là Tập Đế (Samudaya Sacca), và quả là Khổ Đế (Dukkha Sacca) cùng với ngũ thủ uẩn.

Sáu Loại Tuệ Minh Sát

Các loại Tuệ Minh Sát, khi được tập hợp, có cả thảy sáu loại sau:

1) Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sát-na sanh (Khaṇato Udaya-dassana ñāna)

2) Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sát-na diệt (Khaṇato Vaya-dassana ñāna)

3) Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sát-na sanh và diệt (Khaṇato Udaya-Vaya-dassana ñāna)

4) Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sanh bởi các nhân (Paccayato Udaya-dassana ñāna) là tuệ minh sát có khả năng thấy được các quả khi có mặt các nhân

5) Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình diệt bởi các nhân (Paccayato Vaya-dassana ñāna). Nói cách khác, khả năng thấy một khi các nhân bị diệt tận hoàn toàn thì các quả cũng sẽ không còn sanh nữa.

6) Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sanh và diệt bởi các nhân (Paccayato Udaya-Vaya-dassana ñāna), tuệ minh sát thấy rõ rằng nếu các nhân có mặt thì các quả sẽ sanh, nếu không còn nhân thì cũng sẽ không còn quả.

Tuy nhiên sáu loại Tuệ Minh Sát trên có thể tóm tắt bằng hai loại cơ bản từ số ba và sáu. Tóm lại, có hai loại Tuệ Minh Sát trong tâm hành giả. Chú giải của Thanh Tịnh Đạo q2, tr268 mô tả làm thế nào mà Tứ Thánh Đế trở nên rõ ràng với Tuệ Minh Sát của hành giả là người thấy tiến trình sanh và diệt trong cả hai dạng sát-na (Khaṇa) và nhân (Paccaya) sanh ra nó trong các cách như sau:

(a)  Khi hành giả thấy được quả sanh do sự có mặt của nhân, bằng Minh Sát Trí vị ấy thấy rõ nhân (Tập đế, Samudaya Sacca) là nguồn gốc trực tiếp của quả (Khổ đế, Dukkha Sacca).

(b)  Bằng việc thấy rõ tiến trình sanh diễn biến vô tận từ sát-na này đến sát-na khác, bản chất của Khổ Đế (Dukkha Sacca) trở nên rõ ràng trong Minh Sát Trí, vì nó có thể liễu nhập tiến trình sanh liên tục của các pháp hữu vi – sự khổ sanh (Jāti Dukkha)

(c)  Khi hành giả thấy rõ tiến trình diệt tận hoàn toàn ở thời điểm các nhân bị tận diệt hoàn toàn, Diệt Đế(Nirodha Sacca) trở nên rõ ràng trong Minh Sát Trí vì sự diệt của quả phụ thuộc vào sự diệt tận hoàn toàn của các nhân.

(d)  Khi hành giả thấy rõ tiến trình diệt diễn biến vô tận từ sát-na này đến sát-na khác, bản chất của Khổ đế (Dukkha Sacca) lại rõ ràng trong Minh Sát Trí vì nó có thể liễu nhập tiến trình diệt liên tục của các pháp hữu vi – sự khổ chết (Maraṇa Dukkha).

(e)  Vì có thể thấy được cả hai tiến trình sanh và diệt – từ sát-na này đến sát-na khác cũng như do nhân và quả của danh-sắc, hành giả thấy được diễn tiến sanh và diệt của các nhân và quả tương ứng. Minh Sát Trí này gọi là Udaya-vaya-dassana ñāna, là Đạo đế (Magga Sacca) hiệp thế. Tại sao? Bởi vì nó có thể diệt trừ Vô minh (Sammoha) vốn ngăn cản không cho thấy sự thực về bản chất sanh và diệt của tất cả các pháp hữu vi.

Bát Chánh Đạo Trong Thực Hành Vipassanā

Bây giờ tôi sẽ nói về thế nào là Bát Chánh Đạo, đặt trong ngữ cảnh Tứ Thánh Đế, khởi sanh trong suốt tiến trình thực hành Vipassanā.

1. Thấy được sự phơi bày về bản chất của Tứ Thánh Đế trong tiến trình thể nhập Tuệ quán chính là Chánh kiến (Sammā diṭṭhi)

2. Hướng tâm vững chắc vào đối tượng danh sắc của Tứ Thánh Đế trong từng sát-na sanh được gọi là Chánh Tư Duy (Sammā Saṅkappa)

3. Mỗi sự nỗ lực của thân và tâm đặt vào sự thực hành Vipassanā được gọi là Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyāma)

4. Luôn an trú trên bản chất của Tứ Thánh Đế gọi là Chánh Niệm (Sammā Sati)

5. An tịnh và hoàn toàn định tâm trên đề mục thiền Tứ Thánh Đế được gọi là Chánh Định (Sammā Samādhi).

Tất cả năm thánh đạo này cùng với ba đạo của Giới chi đạo (Sīla Maggaṅga) được thiết lập từ trước, thành tám chi Đạo trong mỗi thời khắc thực hành Vipassanā. Đây còn gọi là Pubbabaga Satipathanamagga, nghĩa là Thánh Đạo dẫn nhập của thiền Niệm xứ xảy ra đồng thời và được thực hành trước khi chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga) (bốn giai đoạn giác ngộ) (Chú giải Trung Bộ kinh, q1, tr 235).

Khi thực hành qua các giai đoạn khác nhau của minh sát trí, các Thánh Đạo dẫn nhập sẽ phát triển cho đến khi chín mùi. Sau đó, Thánh Đạo (Ariya Magga) và Thánh Quả (Ariya Phala) (các Tuệ Đạo và Tuệ Quả trong bốn giai đoạn giác ngộ) cuối cùng sẽ sinh khởi bằng cách tập trung trên tính an lạc, an tịnh vô vi của Niết-bàn (được gọi là Mahā Asankhata Dhātu). Sự an lạc, tĩnh lặng này chính là Siêu thế Diệt đế (Nirodha Sacca). Tại thời điểm này, tất cả Bát Thánh Đạo Siêu thế được viên mãn

Bát Thánh Đạo Siêu Thế

Ở đây phải lưu ý rằng vào lúc chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga), thì Bát Thánh Đạo cũng được viên mãn ngay trước thời điểm chứng ngộ Thánh Quả (Ariya Phala). Và bây giờ, tôi sẽ giải thích Bát Thánh Đạo khởi sanh như thế nào tại thời điểm một người chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga). Thánh Đạo Tuệ (Ariya Magga Ñāna) thấu suốt an tịnh vô vi Niết-bàn gọi là Chánh Kiến Đạo (Magga Sammā Diṭṭhi). Tập trung chú ý trên đối tượng an tịnh vô vi gọi là Chánh Tư Duy (Sammā Saṅkappa). Tất cả những phiền não mà được ngăn chặn không cho sanh khởi nhờ ba Thánh Đạo Giới (Sīla Magga) là Chánh Ngữ (Sammā Vāca), Chánh Nghiệp (Sammā Kammanta), Chánh Mạng (Sammā Ājīva) đều bị diệt trừ bởi Thánh Đạo Tuệ (Ariya Magga Ñāna) ngay tại thời điểm vị ấy chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga). Do đó, ta nên lưu ý rằng cả ba Thánh Đạo Giới (Sīla Magga) được viên mãn cùng lúc. Mọi sự tinh tấn nỗ lực của thân và tâm đang thực hành để tiến tới an tịnh vô vi Niết-bàn thì gọi là Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyāma). An trú trên đối tượng vô vi Niết-bàn gọi là Chánh Niệm (Sammā Sati). Định tâm trên vô vi Niết-bàn gọi là Chánh Định (Sammā Samādhi). Đến đây Bát Thánh Đạo siêu thế đã hoàn toàn viên mãn.

Tuệ Phản Khán (Paccavekkhaṇa Nāna) và Chánh Giải thoát (Sammā Vimutti), ví dụ Thánh Quả (Ariya Phala) (Tuệ Quả) cũng sẽ tự động khởi sanh nơi hành giả đã hoàn mãn Thánh Đạo siêu thế (Lokuttarā Magga).

Mô Tả Tóm Tắt Cách Hành Thiền

Ở đây, để có thể chứng đắc Bát Thánh Đạo Siêu thế hành giả cần phải hoàn thành Bát Chánh Đạo Hiệp thế mà được gọi là Thánh Đạo dẫn nhập của Niệm Xứ (Pubba-bhāga Satipaṭṭhāna Magga). Trong các Thánh Đạo hiệp thế này, hành giả phải bắt đầu thực hành ba Thánh Đạo thuộc về Giới trước bằng cách giữ gìn Giới thật trong sạch. Ghi chú: có nghĩa là hành giả phải giữ cho thân, khẩu và sự nuôi mạng luôn luôn được trong sạch theo đúng Giới luật bằng cách ngăn ngừa tà ngữ, tà hành và tà mạng.

Sau khi giữ các Thánh đạo về Giới trong sạch, vị ấy phải hoàn thành ba Thánh Đạo về Định (tiến trình phát triển định tâm), ví dụ Chánh Tinh tấn (Sammā Vāyāma), Chánh niệm (Sammā Sati) và Chánh Định (Sammā Samādhi). Tại sao vậy? Bởi vì đây là những yêu cầu phải được hoàn thành nếu vị đó muốn chứng đắc Tuệ Minh Sát Hiệp thế và Tứ Thánh Đế. Đức Phật nói rằng:

“Samādhiṃ bhikkhave bhāvetha, Samāhito bhikkhave bhikkhu yathābhutan pajānāti“

Lời dịch: Đức Phật giảng: “Này chư Tỷ-khưu, hãy phát triển định. Chỉ khi có định, Tỷ-kheo như thị giác tri các Pháp”. Một người với đầy đủ định tâm có thể thấu hiểu được điều gì? Đó là Tứ Thánh Đế.

Để hướng dẫn phát triển định tâm, Đức Phật dạy bốn mươi đề mục thiền. Định tâm (Samādhi) có thể được phát triển bằng cách chọn bất kỳ đề mục nào:

Phát Triển Định Bằng Thiền Tứ Đại (Dhātu Kammaṭṭhāna)

Ở đây, tôi sẽ tóm tắt phương pháp phát triển định tâm (Samādhi) bằng đề mục thiền Tứ Đại (Dhātu Kammaṭṭhāna). Đây cũng là một trong bốn mươi đề mục thiền Định. Nó có thể giúp cho hành giả dễ dàng đạt được cận định (Upacāra Samādhi). Nếu hành giả muốn phân biệt sắc tứ đại trong thiền Vipassanā, vị ấy phải chọn đề mục Tứ đại.

Tattha Bhagavā Rūpakammaṭṭhānan kathento saṅkhepamanasikāravasena vā, vitthāramanasikāravasena vā, catudhātuvavatthānaṃ kathesi

(Chú giải Trường bộ Kinh, II, tr 314) (xem thêm Chú giải Trung Bộ Kinh, I, tr 280 và Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), qII, tr252)

Đoạn văn trên có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là khi Đức Phật dạy phân biệt sắc, Ngài thường dạy đề mục thiền Tứ đại (Dhātukammaṭṭhāna) theo hai cách bằng phương pháp tóm tắt hoặc bằng phương pháp chi tiết.

Một hành giả, khi tiến hành thiền Vipassanā sẽ phải bắt đầu phân biệt tất cả danh và sắc bằng tuệ minh sát của mình. Giai đoạn này được gọi là Kiến Thanh Tịnh (Diṭṭhi Visuddhi) liên quan đến tiến trình phân biệt danh sắc bằng Tuệ Minh Sát. Như vậy, trong giai đoạn này có hai cách quán xét:

(a)  Quán phân biệt Sắc (Rūpa pariggaha)

(b)  Quán phân biệt Danh (Arūpa pariggaha)

Với cách đầu tiên trong hai cách quán phân biệt, Đức Phật dạy phân biệt sắc tứ đại theo hai phương pháp

(a)  Phương pháp tổng quát, nghĩa là quán toàn bộ liên quan Tứ đại, quán toàn bộ các đặc tính.

(b)  Phương pháp chi tiết, đi sâu vào từng chi tiết chia chẻ nhỏ hơn của mỗi yếu tố đại. Đây là quá trình được Đức Phật mô tả liên quan đến thực hành thiền Tứ đại gọi là Catu Dhātu vavatthāna (Thiền Phân Tích Tứ Đại)

Giữa những nguồn khác nhau trong Kinh điển liên quan đến thực hành Tứ đại, Phương pháp tóm tắt được Đức Phật mô tả trong kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta). Phương pháp chi tiết được Đức Phật mô tả trong kinh Mahā Rahulovāda (Trung Bộ kinh, q2, tr 84-86), Kinh Giới Phân biệt (Dhātu Vibhaṅga Sutta) (Trung Bộ kinh, Q. III, tr 283-285) và Bộ Giới Phân tích (Dhātu Vibhaṅga) (Tạng Vi diệu pháp, q II, tr 84-86). Tôn giả Xá-lợi-phất, đại đệ tử của Đức Phật cũng dạy phương pháp chi tiết trong Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Mahā Hatthipadopama Sutta) (Trung Bộ kinh, q 1, tr 242-247).

Ở đây, phụ chú giải của Bộ Thanh Tịnh Đạo Đại Sớ Giải đề cập rằng: như là một quy trình chung, hành giả nào phân biệt Sắc ở giai đoạn đầu tiên của thiền Vipassanā sẽ được gọi là Suddha-Vipassanāyanika (hành giả theo cỗ xe thuần quán). Tương tự vậy, hành giả nào phân biệt Danh ở giai đoạn đầu tiên của thiền Vipassanā sẽ được gọi là Suddha-Samathayanika (hành giả theo cỗ xe tịnh chỉ). Ở đây, việc phân biệt danh sắc ban đầu cần thiết của thiền Vipassanā (Vipassanabhinivesa) bằng tuệ minh sát có tên là Tuệ Phân định Danh Sắc (Nāmarūpa Pariccheda Ñāna).

Quan sát tiến trình này, khi tiến hành giai đoạn Kiến Thanh Tịnh, hành giả có năng lực Thiền Định (Samathayānika) hay hành giả thuần quán (Vipassanāyānika) muốn bắt đầu phân biệt sắc (rūpa kammaṭṭhāna), thì cả hai đều phải bước vào thực hành Thiền Tứ đại.

Mười Hai Đặc Tính Của Tứ Đại

Trong bốn đại, mỗi đại có các đặc tính riêng:

1) Địa đại (pathavī-dhātu) có sáu đặc tính: cứng, nhám, nặng, mềm, láng, nhẹ.

2) Thủy đại (āpo-dhātu) có hai đặc tính: chảy và dính.

3) Hỏa đại (tejo-dhātu) có hai đặc tính: lạnh và nóng.

4) Phong đại (vāyo-dhātu) có hai đặc tính hỗ trợ và đẩy.

Hành giả phải quán chiếu mười hai đặc tính trên toàn thân từ đầu đến chân từng cái một. Ví dụ, nếu vị ấy thực hành tính nhám thì phải bắt đầu chú ý trên một điểm nơi tính nhám thể hiện rõ ràng rồi chuyển đến toàn bộ trong thân. Hành giả phải thực hành tương tự như vậy đối với mười một đặc tính còn lại. Hành giả cần cố gắng để thấy tất cả mười hai đặc tính của tứ đại trên toàn thân, từ đầu đến chân. Tốt hơn là hành giả có thể thấy đồng thời hai hoặc ba đại mặc dù hành giả chỉ chú ý trên một đại. Khi hành giả có thể chú tâm thực hành một cách hiệu quả điều này thì hành giả đó sẽ chắc chắn thấy được cả mười hai đặc tính của tứ đại. Khi thực hành trên toàn thân, không đơn thuần là chú ý tới hình dáng của thân mà thay vào đó là tập trung chú ý đến đặc tính của tứ đại. Không nên thường xuyên di chuyển sự chú ý từ chỗ này qua chỗ kia. Giữ sự tập trung trên tứ đại và cố gắng thấy từng đặc tính riêng của tứ đại. Sau đó, tất cả tứ đại sẽ hiển hiện rõ ràng nếu hành giả tiếp tục thực hành theo cách này.

Bây giờ, hãy quán theo bốn cách như sau;

(a)  tập trung trên toàn bộ địa đại (pathavī-dhātu) bằng cách chú ý tất cả tính cứng, nhám, nặng, mềm, láng, và nhẹ cùng với nhau,

(b)  tập trung trên toàn bộ thủy đại (āpo-dhātu) bằng cách chú ý tính chảy và dính,

(c)  tập trung trên toàn bộ hỏa đại (tejo-dhātu) bằng cách chú ý tính lạnh và nóng,

(d)  tập trung trên toàn bộ phong đại (vāyo-dhātu) bằng cách chú ý tính hỗ trợ và đẩy với nhau.

Hành giả phát triển định tâm bằng cách thực hành bốn phần về thiền Tứ Đại trên toàn thân như thế. Tiếp tục định tâm theo cách này trong vài ngày và vài giờ cho mỗi thời ngồi thiền, hành giả sẽ bắt đầu chỉ thấy một khối khí trắng, và không phải hình dáng của thân nữa. Tiếp tục phân biệt tứ đại trong khối trắng đó, định tâm của hành giả sẽ càng trở nên mạnh hơn và sâu hơn. Kết quả là, khối trắng đó sẽ xuất hiện trong tâm hành giả ở dạng một khối tinh thể trong suốt như khối nước đá hay thủy tinh. Hành giả tiếp tục phát triển định tâm bằng cách phân biệt các yếu tố tứ đại chứa trong khối thủy tinh trong suốt đó.

Khối Thủy Tinh Trong Suốt

Ở đây, cái giống như khối thủy tinh trong suốt xuất hiện trong tâm hành giả là gì? Một hành giả có thể hỏi.

Trả lời: Đó là năm loại tịnh sắc (Pasāda Rūpa) của thân thật tinh khiết và phản chiếu ánh sáng chói chang như chiếc gương khởi lên khi hành giả đạt đến mức định tâm sâu. (Thanh Tịnh Đạo, q 2, tr 81).

Đó là điều tự nhiên của hành giả, trước khi có thể phân biệt và chia chẻ nhỏ về sau, là thấy được năm loại tịnh sắc dưới dạng khối (Ghana) giống như vậy. Một trong năm loại tịnh sắc này là thân tịnh sắc (kāya pasāda) có mặt khắp cơ thể nơi mà cảm giác xúc chạm được cảm nhận ngoại trừ một vài phần trong thân chẳng hạn như móng tay. Tuy nhiên, hành giả cần phải cố gắng phá vỡ ý niệm về khối đặc (ghana) bằng cách tập trung định tâm vào khoảng hư không chứa trong các tịnh sắc này. Điều này đã được Đức Phật dạy trong kinh Mahā Rahulovāda.

Bởi Đức Phật muốn hành giả quán chiếu 24 Sắc y đại sinh (upādārūpa) bằng cách căn cứ vào hư không, Ngài dạy tập trung chú ý vào khoảng hư không của năm tịnh sắc, mà nó được giải thích trong chú giải (chú giải Kinh Trung bộ, III, tr 97). Khi hành giả thấy được hư không trên bề mặt của khối thủy tinh, hành giả sẽ bắt đầu thấy đơn vị nhỏ nhất của sắc vật chất (kalāpas) một cách rõ ràng. Hành giả sẽ quán xét tất cả các yếu tố sắc đi cùng như là:

(a) địa đại (Pathavī dhātu), đặc tính của đất cứng, nhám

(b) thủy đại (Āpo dhātu), đặc tính của nước: dính, chảy

(c) hỏa đại (Tejo dhātu), bản chất của lửa: nóng và lạnh

(d) phong đại (Vāyo dhātu), đặc tính của gió: nâng và hỗ trợ

(e) màu

(f) mùi

(g) vị

(h) dưỡng chất

chứa trong mỗi phần tử nhỏ của kalapa.

Hành giả phải quán xét tất cả kalapa trong sáu căn và 42 khía cạnh của thân tứ đại. Ở đây hành giả nên đến gặp một vị thầy để được hướng dẫn cụ thể.

Một hành giả sau khi quán sát tất cả các Sắc, phải tiến hành quán các Danh sanh khởi nương nhờ ở sắc căn. Khi thực hiện phần này, hành giả phải hoặc bắt đầu từ Xúc (Phassa) hoặc Thọ (Vedanā) hoặc Thức (Viññāna), bao gồm tất cả các tâm sở dẫn đầu bởi tâm sở Xúc khởi sinh ở năm căn là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân tương ứng (chú giải Kinh Trung bộ, I, tr 280 – 281)

Sau khi phân biệt thành công theo cách này, hành giả tiếp tục phân biệt các nhân nào sanh ra Danh Sắc chẳng hạn như vô minh (Avijjā), tham ái (Taṇhā), chấp thủ (Upādāna), Nghiệp (Kamma) và các hành (Saṅkhāra). Cố gắng thấy bằng Tuệ minh sát để biết rằng ngũ thủ uẩn sanh khởi trong đời này chính là do các nhân như vô minh (Avijjā) … ở đời quá khứ. Cố gắng để thấy rõ bằng cách này đối với phần còn lại của danh sắc quá khứ và tương lai.

Như đề cập trước, một hành giả bằng Tuệ minh sát phải thấy được sự tận diệt hoàn toàn của ngũ thủ uẩn ngay khi vô minh (Avijjā), tham ái (Taṇhā), thủ (Upādāna), nghiệp (Kamma) và các hành (Saṅkhāra) bị diệt. Tam tướng của danh sắc cùng với nguyên nhân sanh ra nó phải được quán xét bằng thiền Vipassanā cho đến khi nào chứng đạt giai đoạn giác ngộ cao hơn là Tuệ Đạo (Magga) và Tuệ Quả(Phala).

Khi hành giả có thể tiến đến giai đoạn giác ngộ thông qua thực hành Vipassanā, điều đó có thể nói rằng hành giả đó đã hoàn thành Bát Thánh Đạo cả Hiệp thế lẫn Siêu thế. Hành giả đó cũng chứng ngộ được Tứ Diệu Đế bằng tuệ minh sát và chứng được Tuệ Đạo và Tuệ Quả

Sự Chuyển Hóa Lớn Nội Tâm Qua Thiền Vipassanā

Tuệ Vipassanā (Vipassanā Ñāṇa) có thể tạm thời diệt trừ được phiền não trong khi các Thánh Đạo Tuệ (Ariya Magga Ñāṇa) có thể nhổ tận gốc vĩnh viễn mọi phiền não ngủ ngầm. Trên hành trình thực hành tâm linh, khi một người tiến hóa đến sự thành tựu về Thánh Đạo, sự chuyển hóa lớn nhất sẽ diễn ra trong tâm theo nghĩa của sự trong sạch, trí tuệ, an tịnh, xả ly và an nhiên tự tại.

Nhấn mạnh vào điểm quan trọng về phát triển chuyển đổi nội tâm kỳ diệu, Đức Phật đã dạy chúng ta huấn luyện tâm trong bài kinh Đoạn Giảm (Salleka sutta)

Vậy, bây giờ chúng ta hãy cùng lắng nghe bài kinh Đoạn Giảm (Salleka sutta) mà nó làm lợi lạc một cách đáng ngạc nhiên cho sự tiến hóa và cải hóa cho tâm như sau

Kinh Đoạn Giảm Hay Là Con Đường Hoàn Thiện Tính Cách Và Thái Độ Tâm

21. “Những kẻ khác có thể bị hôn trầm thụy miên chi phối, chúng ta ở đây sẽ không có hôn trầm thụy miên chi phối”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

22. “Những kẻ khác có thể bị tâm trạo hối, chúng ta ở đây sẽ duy trì nội tâm an tịnh”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

23. “Những kẻ khác có thể nghi hoặc, chúng ta ở đây sẽ trừ diệt nghi hoặc về luật Nhân Quả và Tam Bảo như Phật, Pháp và Tăng”.

Khi một hành giả đạt được Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (Paccayapariggaha Ñāṇa), Tuệ minh sát có thể quán sát được các nhân sanh ra Danh Sắc, sự hoài nghi (Vicikicchā) nhờ đó sẽ được tạm thời diệt trừ. Nhưng khi một hành giả chứng đắc giai đoạn giác ngộ đầu tiên là Tu-đà-hoàn Đạo (Sotāpatti Magga) và Tu-đà-hoàn Quả (Sotāpatti Phala), tất cả hoài nghi (Vicikicchā) đều bị nhổ tận gốc. Do đó, anh ta phát triển niềm tin vững chắc đối với lời dạy Đức Thế Tôn. Đức Phật khuyên chúng ta phải tự thực hành để thành tựu lòng tin thật sự vững chắc này.

24. “Những kẻ khác có thể phẫn nộ, chúng ta ở đây sẽ không có phẫn nộ”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Vượt Qua Sân Hận bằng Thiền Định

Đức Phật dạy “Để vượt qua sân hận, người đó cần phải thực hành Thiền Tâm Từ” trong Phẩm Meghiya phần Cảm Hứng Ngữ trong kinh điển Pāli, tr 120. Do đó vị đó cần phải thấm đẫm tâm từ trong tâm của mình bằng cách hành thiền Tâm Từ (mettā). Khi một người thường hay sân hận, cho dù là một vị Tỷ-kheo, cái tên gọi là “Pabbajita”, nghĩa là người phấn đấu diệt trừ phiền não, sẽ không còn thích hợp với vị ấy nữa. Vì vậy ta phải biết cách làm thế nào để chế ngự được sân hận bằng thiền Định như đã nói trên.

Sân Hận và Thiền Vipassanā

Nếu một người hành thiền Vipassanā có thể sẽ có nhiều lần gặp phải những trường hợp không vui vẻ mà trong đó nguyên nhân làm cho mình bực mình là ai đó hay cái gì đó. Nếu gặp tình huống đó, đầu tiên hành giả nên quán chiếu Sắc Tứ đại ở người hoặc vật là nguyên nhân gây ra sân. Rồi bằng thiền Vipassanā, quán đặc tính tam tướng vốn có của Tứ đại trong cả người và vật nói trên. Điều này sẽ giúp phát triển Tuệ minh sát, không còn thấy theo khái niệm người hay vật gây ra sân hận. Thay vào đó, với cái nhìn rõ ràng của Vipassanā, hành giả sẽ chỉ thấy đó là một tập hợp của Danh và Sắc có đặc tính sanh diệt liên tục bất tận. Kết quả là, hành giả sẽ chỉ thấy các đặc tính của Tứ đại là Vô thường (Anicca), Khổ(Dukkha) (tiến trình sanh diệt liên tục), Vô ngã (Anatta) (không có thực thể vững bền nào kiểm soát tất cả các tiến trình này).

Nhận thức được rằng Tuệ Minh Sát có thể tạm thời làm nhẹ và diệt trừ các phiền não bao gồm sân hận. Vì Vipassanā có khả năng đoạn giảm hoặc diệt trừ phiền não, nên ta hãy dùng nước mát và trong được gọi là Vipassanā để rửa sạch tâm, nhờ thế tất cả chúng ta có thể vượt qua sân hận, chăm sóc cái tâm thực hành Vipassanā của chúng ta. Đây là những gì Đức Phật có gắng chỉ dạy chúng ta trong bài Pháp.

Thêm nữa, cơn giận có thể hoàn toàn bị diệt trừ thông qua thực hành thiền Vipassanā, khi một hành giả có được ba-la-mật quá khứ do nghiệp thiện, chứng đắc giai đoạn giác ngộ thứ ba gọi là Thánh Đạo A-na-hàm (Anāgāmi Magga) và Thánh Quả A-na-hàm (Anāgāmi Phala). Đây là thành tựu của một đại thiện tâm hoàn hảo thực sự.

Bây giờ, chúng ta hãy đi sâu vào bài giảng sau đây.

25. “Những kẻ khác có thể oán hận, chúng ta ở đây sẽ không có oán hận”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

26. “Những kẻ khác có thể vô ơn, chúng ta ở đây sẽ cố gắng biết ơn và trân trọng”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

27. “Những kẻ khác có thể não hại, chúng ta ở đây sẽ không não hại”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

28. “Những kẻ khác có thể tật đố, chúng ta ở đây sẽ không tật đố”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

29. “Những kẻ khác có thể bỏn xẻn, ích kỷ, chúng ta ở đây sẽ không bỏn xẻn, không ích kỷ”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Những bất thiện tâm được đề cập ở trên như hận thù, trả thù, vô ơn, hống hách, não hại, thiếu khiêm tốn, ganh tỵ và bỏn xẻn đều là suối nguồn của sân hận. Ta có thể loại trừ những phiền não này bằng cách thực hành bốn đề mục thiền cao quý (bốn Phạm trú, Brahma Vihara) hay thiền Vipassanā trong khi cố gắng chứng ngộ Thánh Đạo và Thánh Quả (Tuệ Đạo và Tuệ Quả). Thực ra, tinh thần kỷ luật và rèn luyện bằng hành thiền như thế có năng lực kỳ diệu để chuyển hóa tính cách và làm trong sạch tâm người.

30. “Những kẻ khác có thể xảo trá (Māyāvi), chúng ta ở đây sẽ không xảo trá”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

31. “Những kẻ khác có thể khoe khoang, khoác lác, khoa trương (Sāṭheyya), chúng ta ở đây sẽ cố gắng chân thật và thẳng thắn”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Sự Phân Biệt Giữa Xảo Trá (Māyā) Và Khoa Trương (Sāṭheyya)

Ở đây, chúng ta sẽ nghiên cứu bản chất khác nhau giữa xảo trá (Māyā) và khoa trương (Sāṭheyya). Xảo trá (Māyā) là đặc tính của bản chất che giấu khuyết điểm và lừa dối bằng đạo đức giả. Nó giống như là một ảo thuật gia thiện xảo trong sự lừa dối. Bằng nghệ thuật khéo léo, anh ta có thể làm giả đá giống như vàng thật. Tương tự, một người xảo trá (Māyā) có thể giả vờ một cách thiện xảo là một người tốt bằng cách giấu khuyết điểm và sử dụng sự lừa dối thiện xảo. Một loại người mà xã hội thường hay gọi là người có một cái tâm như con mèo tốt bụng. Ghi chú: “Con mèo tốt bụng” có nghĩa là một con mèo luôn có bộ dạng hiền lành, nhưng thực sự nó luôn rình rập để giết chuột.

Đức Phật không muốn các đệ tử của Ngài có các loại tâm như thế. Về bản chất và quan niệm của các vị Thánh như Đức Phật và những vị giác ngộ, lỗi lầm và khuyết điểm của người đó phải được giải quyết và sửa đổi một cách ngay thẳng. Sự xảo trá (Māyā) theo nghĩa sự thực tối hậu (chơn đế) được mô tả trong Vi diệu pháp là chỉ là một loại tâm sở bất thiện do tham và vô minh chi phối.

Sự khoa trương (Sāṭheyya), mặt khác, là đặc tính tham theo khuynh hướng lừa dối người khác bằng cách cố gắng tạo ấn tượng với họ, giả vờ như là sở hữu nhiều phẩm chất ấn tượng nhưng trong thực tế một phẩm chất còn không có. Đây là bản chất của sự khoa trương (Sāṭheyya). Sự xảo trá (Māyā) thì ngược lại, cố gắng che đậy lỗi lầm, giả vờ ngây thơ vô tội trong khi sự khoa trương (Sāṭheyya) là giả đò có những phẩm chất tốt mà người này thực sự không có. Như vậy cả hai xảo trá (Māyā) và khoa trương (Sāṭheyya) là những bất thiện trí và thiện xảo trong lừa lọc, gian trá, bịp bợm. Ghi chú: mỗi một hành động giả vờ như là có các phẩm chất Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā), kiến thức kinh điển, chứng ngộ Đạo (Magga) và Quả (Phala) mà người đó không hề có, đó là những hành động khoa trương (Sāṭheyya).

Sự Khoa Trương (Sāṭheyya) Trong Xã Hội Loài Người

Nhìn vào vài khía cạnh của xã hội loài người, chúng ta có thể thấy sự rất phổ biến của sự khoa trương trong đời sống hằng ngày. Có nhiều người thích giả vờ làm người đạo đức mặc dù thực chất là người vô đạo đức. Ví dụ như là giả vờ làm người có bằng cấp tốt nghiệp cao mặc dù họ chẳng có bằng cấp nào cả. Có người cư xử và ăn mặc như người giàu để gây ấn tượng với người khác. Có người thì giả như ta là người dũng cảm, gan dạ mặc dù họ vô cùng dễ sợ hãi và nhát gan. Với tính đa dạng của sự không thành thật với ý định lừa bịp và làm cho mê muội đều là hành vi khoa trương (Sāṭheyya). Đức Phật không muốn có những ý nghĩ và hành động cong quẹo trong tâm các đệ tử của mình. Đó là lý do Ngài đã dạy cho các vị đệ tử cố gắng thoát khỏi sự xảo trá (Māyā) và sự khoa trương (Sāṭheyya) ngay cả khi người khác tràn đầy sự xảo trá (Māyā) và khoa trương (Sāṭheyya) trong tâm. Các tâm sở và các hành vi thiếu chân thật này đối với Đức Thế Tôn đều rất đáng ghê tởm và không thể chấp nhận được.

32. “Những kẻ khác có thể thô lỗ cộc cằn trong thân và khẩu, chúng ta ở đây sẽ cố gắng lịch sự và chu đáo”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

33. “Những kẻ khác có thể kiêu căng, ngã mạn, chúng ta ở đây sẽ cố gắng không kiêu căng và khiêm tốn”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Thật Là Lời Dạy Tuyệt Vời

Thật rất cần thiết cho bất kỳ ai đã bước vào con đường phát triển tâm linh dù là một vị Tỷ-kheo hoặc là một sadi là phải sống một cuộc đời khiêm cung. Chúng ta cần phải học tập gương Đại Đức Rāhula, là người có thái độ khiêm cung và ước nguyện chân thành là học và thực hành tam học là Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Ở đây, tôi sẽ nói về bài giảng tuyệt vời của Đức Phật cho ngài Rāhula. Bài giảng được gọi là Kinh Mahā Rahulovāda và nó được ghi trong kinh Trung bộ II, tr 86-87

Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la (Mahā Rahulovāda sutta) (Đức Phật giáo giới Đại Đức La-hầu-la)

Tu Dưỡng Tâm Như Đất

“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như đất. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như trên đất người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ không tịnh, quăng phân uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không dao động, hay không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập như đất. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.”

Tu Dưỡng Tâm Như Nước

“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như nước. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như nước, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ không tịnh, rửa sạch phân uế, rửa sạch nước tiểu, rửa sạch nước miếng, rửa sạch mủ, rửa sạch máu; tuy vậy nước không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tụ tập như nước, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.”

Tu Dưỡng Tâm Như Lửa

“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như lửa. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như lửa, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như lửa đốt các đồ tịnh, đốt các đồ không tịnh, đốt phân uế, đốt nước tiểu, đốt nước miếng, đốt mủ, đốt máu; tuy vậy lửa không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như lửa, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.”

Tu Dưỡng Tâm Như Gió

“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như gió. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như gió, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, như gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ không tịnh, thổi phân uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu, tuy vậy gió không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như gió, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.”

Tu Dưỡng Tâm Như Hư Không

“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như hư không. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như hư không không bị trú tại một chỗ nào; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như hư không. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái không, khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.”

Cảm Hứng Ngữ

Thật cảm hứng xiết bao với Lời dạy của Đức Phật !

Những lời này của Đức Phật đã tạo cảm hứng cho chúng ta có được những hành động thánh thiện để phát triển tâm linh trong cuộc sống hàng ngày. Nó tạo thêm sức mạnh và nâng cao tinh thần của chúng ta trên con đường đến tự do và an lạc nếu chúng ta biết thực hành những lời dạy này trong các hành động thực tế.

Đức Phật giáo huấn rằng hãy tu dưỡng tâm ta như bản chất của đất, nước, lửa, gió, hư không, Ngài mong muốn một mức độ mạnh mẽ của đức kham nhẫn và sức chịu đựng được phát triển trong tâm ta mà trong tiếng Pāli gọi là phẩm chất Tādi.

Tādi, Một Phẩm Chất Đặc Biệt Của Tâm Giác Ngộ

Tādi là gì?

Iṭṭhāniṭṭhesu Hi Arajjanto Adussanto Tādī Nāma Hoti.

(Chú giải Trung bộ kinh, q III, tr 98)

Lời dịch: Không để cho tham ái hoặc ghét bỏ khởi lên khi tiếp xúc với những điều ưa thích hoặc không ưa thích, đó gọi là Tādi

Đó là phẩm chất của tâm có thể vẫn không bị ảnh hưởng bởi đối tượng yêu thích, hoặc không yêu thích. Nó còn làm cho tâm thăng bằng, không phản ứng lại tham ái hoặc ghét bỏ ngay cả trên tám bản chất đời sống của thế gian (bát phong) là: được, mất, nổi tiếng, ô nhục, khen, chê, hạnh phúc và bất hạnh. Bản chất nội tâm mạnh mẽ này được gọi là phẩm chất Tādi. Đức Phật đã thúc giục ta phát triển phẩm chất tâm đại thiện này.

Hoàn Thành Trọn Vẹn Tādi

Thực ra, phẩm chất Tādi được thực hiện một cách hoàn hảo chỉ ở trong tâm của các bậc A-la-hán hoàn toàn giác ngộ. Đại Đức Rāhula, người được Đức Phật chỉ dạy, lúc đó mới được mười tám tuổi, còn là một phàm nhân (Puthujjana), là người chưa giác ngộ khi được dạy bài Pháp này. Đức Phật đã dạy Đại Đức Rāhula, mặc dù Ngài Rāhula vẫn còn là một phàm nhân (Puthujjana), đang cố gắng phát triển kỹ năng hành thiền và thái độ mạnh mẽ như bản chất vững vàng của đất, nước, lửa, gió, hư không, vì thế Ngài có thể đạt được một vài mức độ của Tādi.

Phương Thức Và Cách Thức Phát Triển Tādi

Lời dạy của Đức Thế Tôn phù hợp cho mọi người học và làm theo.

Câu hỏi: Làm thế nào để phát triển phẩm chất Tādi?

Trả lời: Thực hành theo Bát Chánh Đạo như đề cập ở trên.

Một khi quý vị thực hành Bát Chánh Đạo đạt được đà tiến triển vững chắc chút ít, cuối cùng là các tiến bộ, sẽ khởi lên một khả năng kỳ diệu là không bị hề hấn trước những cơn bão của cuộc đời, ví dụ như thăng trầm của cuộc đời. Khi một người thành tựu giai đoạn như vậy, tất cả những ngủ ngầm tiêu cực như nóng nảy, tự phụ sẽ giảm đi…. Những loại phiền não này sẽ hoàn toàn bị diệt trừ khi người đó chứng đắc giai đoạn giác ngộ thứ tư, cũng là giai đoạn giác ngộ cuối cùng. Phẩm chất Tādi cũng từ đó được viên mãn.

Người Cung Kính Vâng Lời

Cho đến nay, trong bài Pháp Kinh Đoạn Giảm, Đức Phật đã đưa ra một thông điệp kỳ diệu về cải hóa tâm thức liên quan đến một chủ đề hết sức quan trọng là dẹp bỏ sân hận và ngã mạn. Bây giờ, Ngài tiếp tục giảng xa hơn.

34. “Những kẻ khác có thể khó nói (nan thuyết), chúng ta ở đây sẽ dễ tiếp thu”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

35. “Những kẻ khác có thể là ác hữu, chúng ta ở đây sẽ là thiện bạn hữu”, ví dụ như cha mẹ tốt, thầy tốt và bạn tốt có thể dẫn dắt trên con đường phát triển tâm linh, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

36. “Những kẻ khác có thể dễ duôi trong việc tạo nghiệp thiện, chúng ta ở đây sẽ tích cực tạo thiện nghiệp”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta. Ghi chú: thiện nghiệp là các hành động như Bố thí (Dāna) , Trì Giới (sīla), Tham thiền (Bhāvanā).

37. “Những kẻ khác có thể là bất tín, chúng ta ở đây sẽ có uy tín”, một thái độ thiện như thế chúng ta cần phải trưởng dưỡng

38. “Những kẻ khác có thể không xấu hổ (vô tàm) đối với nghiệp bất thiện, chúng ta ở đây sẽ có xấu hổ (tàm) đối với nghiệp bất thiện”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

39. “Những kẻ khác có thể không sợ hãi (vô quý) đối với bất thiện nghiệp, chúng ta ở đây sẽ có sợ hãi đối với bất thiện nghiệp”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

40. “Những kẻ khác có thể ít học, chúng ta ở đây sẽ học tốt cả Pháp học và Pháp hành”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

Ở đây, chúng ta phải hiểu rằng có hai loại Trí Tuệ gọi là Trí Pháp học (Āgama sutta) và Trí Pháp hành (Adhigama Sutta). Trí Pháp học (Āgama Sutta) là Trí Tuệ và sự hiểu biết có được từ sự học hỏi và ghi nhớ kinh điển. Trí Pháp hành (Adhigama Sutta) là sự chứng ngộ thâm sâu bởi Chánh kiến (Sammā Diṭṭhi), đạt được sau khi thực hành thiền miên mật và rốt ráo trong một thời gian dài trên con đường tiến hóa tâm linh. Ở đây, nó liên hệ tới hai loại Tuệ Minh Sát, Tuệ Phân định Danh Sắc (Nāmarūpa Pariccheda Ñāna), và Tuệ Phân biệt nhân duyên (Paccaya Pariggaha Ñāna), là Tuệ phân biệt được nhân duyên sanh ra Danh Sắc.

41. “Những kẻ khác có thể biếng nhác đối với việc thiện, chúng ta ở đây sẽ siêng năng với việc thiện”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

42. “Những kẻ khác có thể thất niệm, chúng ta ở đây sẽ chánh niệm trên tất cả các pháp hữu vi”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

43. “Những kẻ khác có thể liệt tuệ (minh sát), chúng ta ở đây thành tựu tuệ (minh sát)”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

44. “Những kẻ khác có thể nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, chúng ta ở đây sẽ không nhiễm thế tục, không cố chấp tà kiến, tánh dễ hành xả”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

Tất cả bốn mươi bốn nguyên tắc hay quy tắc trên được xây dựng nhằm phát triển và hoàn thiện tâm linh dành cho những ai chọn đời sống xuất gia, được đề cập rất rõ trong Kinh Đoạn Giảm (Salleka sutta) do Đức Phật thuyết giảng (Trung Bộ Kinh, I, tr 52-53).

Bây giờ càng rõ rệt hơn rằng vị Tỷ-kheo bước vào đời sống tu viện phải dẹp bỏ cách cư xử và dáng dấp của người cư sĩ trước đây. Vị ấy phải cải hóa mình và thích nghi với các nguyên tắc và quy tắc cần thiết để phát triển tâm linh của mình.

Để thực sự cải hóa những gì cần thiết cho đời sống xuất gia, Đức Phật dạy trong Kinh bậc xuất gia thường quán xét (Pabbajita Abhiṇha Sutta).

“Añño me ākappo karanīyo”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekhittabbaṃ.”

Lời dịch: “Này Tỷ-kheo, ta phải có tất cả thân hành, khẩu hành và ý hành thích hợp với đời sống xuất gia, đó là sự khác biệt và phân biệt với đời thường của một cư sĩ”, vì thế, vị Tỷ-kheo phải luôn quán tưởng điều đó. Đức Thế Tôn đã thúc giục mạnh mẽ.

Chương 4.
Quán Tưởng Đạo Đức Cá Nhân

Bây giờ, chúng ta hãy tiếp tục với bài Kinh bậc xuất gia thường quán xét (Pabbajita Abhiṇha Sutta). Đức Phật giảng thêm như sau:

“Kacci nu kho me attā sīlato na upavadatī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ.”

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Giới hạnh ta có hoàn toàn trong sạch với mọi giới luật xuất gia không?”.

Một Tỷ-kheo bước vào đời sống xuất gia phải thường xuyên tự kiểm giới hạnh mình có trong sáng, không một chút tội lỗi có thể khiến cho bị kết tội liên quan đến Phạm Hạnh theo tạng Luật, tạng kinh nói về giới luật xuất gia. Tại sao vậy?

Kiểm tra Giới hạnh (Sīla) bản thân thường xuyên giúp cho giới hạnh không bị hoen ố và trong sạch, bằng cách này cho phép một người có thể thấy hiện trạng Giới của mình là không bị hoen ố hay hoen ố, trong sạch hay không sạch.

Hiri, Một Thái độ Thiện của Hổ Thẹn Tội Lỗi (Tàm)

Evaṃ paccavekkhato hi ajjattaṃ hiri samuthāti. Sā tīsu dvāresu saṃvaraṃ sadheti. (Chú giải Tăng chi bộ kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Quán tưởng này sẽ gây cho vị Tỷ-kheo một cảm giác biết hổ thẹn tội lỗi. Điều này có tác dụng như một người bảo vệ quan trọng trong việc giữ gìn thân hành, khẩu hành và ý hành trong sạch.

Một khi ý nghĩ hổ thẹn tội lỗi (tàm) khởi lên trong tâm sẽ giúp cho thân hành, khẩu hành, ý hành luôn được kiểm tra, bảo đảm mọi hành động xảy ra ở ba môn đều trong sạch. Hiri, là một trạng thái thiện của hổ thẹn tội lỗi (tàm), có năng lực giữ gìn thân hành, khẩu hành, ý hành thanh tịnh.

Ở đây, nói về góc độ Giới, điều này không chỉ là Giới phòng hộ Pātimokkha (Pātimokkha saṃvara sīla) như các giới luật được ghi trong Tạng Luật (Vinaya). Tất cả có bốn Giới (Sīla) thanh tịnh (Tứ Thanh Tịnh Giới) có tên:

(a) Giới phòng hộ theo giới bổn Pātimokkha

(b) Giới phòng hộ các căn (Indriya Saṃvara Sīla)

(c) Giới nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva Pārisuddhi Sīla)

(d) Giới quán tưởng tứ vật dụng (Paccayasannissita Sīla)

Như vậy, điều này rõ ràng là cần phải giữ gìn cả bốn Giới (Sīla) thật thanh tịnh.

Phương Thức Thực Hành Giới Phòng Hộ Các Căn
Indriya Saṃvara Sīla

Giới phòng hộ các căn (Indriya Saṃvara Sīla), như Giới phải thu thúc lục căn, sẽ không được đầy đủ và hoàn thành nếu không tập trung thực hành thiền Định (samādhi) hay thiền Vipassanā. Do đó, điều này phải được hiểu rằng thực hành Giới phòng hộ các căn liên quan đến tập trung thực hành thiền Định (samādhi) hoặc thiền Vipassanā (Tương Ưng bộ kinh, q2, tr385, Kinh Kummopama)

Liên tục tập trung hành thiền sẽ làm thanh tịnh thân, khẩu, ý. Bên cạnh đó, sẽ có một năng lực trong tâm khởi lên giữ gìn thân, khẩu, ý.

Quả của Tứ Thanh Tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla)

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không kiểm soát thân, khẩu, ý theo cách này?

Tīsu dvāresu saṃvaro catupārisuddhisīlaṃ hoti. Catupārisuddhisīle ṭhito vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ gaṇhāti. (Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh, III, tr314)

Lời dịch: Áp dụng việc giữ gìn thân, khẩu, ý sẽ là sự thực hành Tứ Thanh Tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla)

Thực hành vững chắc Tứ thanh tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla) và liên tục phát triển thiền Vipassanā, người đó sẽ đắc quả A-la-hán, giai đoạn giác ngộ cuối cùng.

Điều này chỉ rõ rằng đầu tiên chúng ta phải đứng trên nền tảng của Tứ thanh tịnh Giới, giữ gìn Giới (Sīla) trong sạch, và hành thiền Vipassanā. Quả vị A-la-hán, mục tiêu giác ngộ cao nhất sẽ đạt được như là một tất yếu. Đây là lý do tại sao Đức Phật chỉ dạy phải kiểm tra, đánh giá lại hiện trạng Giới Hạnh một cách thường xuyên.

Chương 5.
Phòng Vệ Giới Đức Khỏi Sự Nghi Ngờ
Hoặc Bị Chất Vấn Về Giới Hạnh

Bây giờ, đây là điều quan trọng thứ năm phải thường xuyên quán xét:

Kacci nu kho maṃ anuvicca viññū sabrahmacārī sīlato na upavadatī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ

Lời dịch: Bậc xuất gia phải luôn quán xét điều này: “Phải chăng các bạn đồng phạm hạnh trí thức không chê trách ta về giới hạnh?”.

Một Tỷ-kheo, sau khi bước vào đời sống Phạm Hạnh, phải luôn kiểm tra hiện trạng Giới hạnh của mình có thoát khỏi mọi sự nghi ngờ bởi các bạn đồng tu và các đồng Phạm Hạnh hay không.

Lợi ích

Quán tưởng điều này sẽ mang lại lợi ích gì?

Evaṃ piccavekkhato hi bahiddhā ottappaṃ saṇṭhāti.

(Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh, III, tr314).

Lời dịch: Quán tưởng như vậy, sẽ khởi sinh cảm giác sợ hãi việc vi phạm đạo đức.

Điều này có nghĩa rằng bằng sự quán tưởng như vậy, nó sẽ xây dựng được một ý thức tôn trọng các bạn đồng tu và ý thức ghê sợ tội lỗi. Đối với một người biết nghĩ rằng liệu người khác sẽ đánh giá giới hạnh của mình ra sao, thì vị ấy sẽ dễ dàng phát triển một thái độ tôn trọng bạn đồng tu và cảm giác ghê sợ tội lỗi sâu sắc. Vậy điều gì sẽ đến nếu ý thức ghê sợ tội lỗi như thế khởi sanh?

Taṃ tīsu dvāresu saṃvaraṃ sādheti (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Tâm ghê sợ tội lỗi sẽ bổ sung ý thức giữ gìn đạo đức ở cả thân, khẩu và ý.

Tâm ghê sợ tội lỗi tiếng Pāli gọi là Ottappa (Quý), là ý thức đạo đức ghê sợ điều bất thiện, một cảm giác tôn trọng và lo sợ với bạn bè, thầy giáo, gia đình trước và sau khi làm điều xấu hay bất thiện. Khi cảm giác này xuất hiện trong tâm, vị đó ít khi dám làm những điều sai trái. Vì vậy, nó sẽ giúp tăng thêm sức mạnh giữ gìn đạo đức ở cả thân, khẩu và ý.

Tīsu dvāresu saṃvaro catupārisuddhisīlaṃ hoti (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Thực hành giữ gìn Thân hành, Khẩu hành, Ý hành cuối cùng sẽ dẫn đến việc hoàn thiện Tứ thanh tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla). Rõ ràng là khả năng chế ngự thân, khẩu, ý có thể hoàn thiện việc thực hành Tứ Thanh Tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla).

Sau khi hoàn thiện Tứ thanh tịnh Giới, vị ấy có thể dễ dàng tiến sang giai đoạn thực hành thiền Vipassanā. Khi Tuệ Minh Sát phát triển và chín muồi, nó sẽ dẫn tới chứng đắc quả vị A-la-hán. Đó là lý do tại sao Đức Thế Tôn dạy phải luôn quán tưởng hiện trạng giới hạnh của mình có thoát khỏi mọi khả năng bị nghi ngờ và kết tội bởi các bạn đồng đồng tu và các bạn Phạm Hạnh.

Chương 6.
Xa Lìa Tất Cả Những Người Thân Yêu Và Mọi Thứ Trong Cuộc Sống

Bây giờ, đây là điều quán tưởng thứ sáu phải thường xuyên quán xét:

Sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ

Lời dịch: Bậc xuất gia phải luôn quán xét điều này: “Một ngày nào đó, ta sẽ lìa bỏ những người thân yêu của mình bởi cái chết hoặc sự biệt ly”.

Lợi Ích của Sự Quán Tưởng

Quán tưởng điều này sẽ mang lại lợi ích gì?

Evaṃ paccavekkhato hi tīsu dvāresu asaṃvutākāro nāma na hoti. (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314).

Với một vị thường xuyên quán tưởng như vậy, sẽ không có cách gì khiến vị ấy thất niệm.

Nếu một vị Tỷ-kheo thường xuyên quán tưởng về điều này thì vị đó sẽ có thể phát triển sức mạnh tinh thần, chuẩn bị đối mặt với mọi tình huống trong đời một cách chánh niệm và trầm tĩnh. Khả năng kiểm soát lục căn của vị đó càng mạnh mẽ và bền bĩ. Kết quả là, không còn bất kỳ hành động thiếu kiểm soát nào ở thân, khẩu, ý nữa.

Loài người cũng như các loài sinh vật khác, bằng bản năng, rất dễ bị tác động khi họ phải xa lìa người thân yêu hoặc mất mát những gì họ vô cùng yêu quý trong cuộc sống. Nhiều người cảm thấy rất khó đối diện với sự mất mát về người thân cũng như vật yêu thích của mình. Họ cảm thấy toàn bộ sự tàn phá và vô vọng này tạo ra sự hoảng loạn của tinh thần. Họ bị tràn ngập bởi sầu bi, và phản ứng lại bằng những hành vi thiếu kiểm soát như khóc lóc thảm thiết hoặc tự dùng tay đấm ngực v.v. Sẽ không có những phản ứng như thế đối với một người biết thường xuyên quán tưởng bản chất tự nhiên của sự chia lìa là một tiến trình không thể tránh khỏi, đương nhiên phải xảy ra trong đời sống.

Ghi chú: sự đau buồn và những dạng xúc cảm khác là một bản chất chung của mọi loài chúng sanh. Tuy nhiên có một điểm khác biệt đáng lưu ý giữa một người bình thường thiếu kỷ luật thực hành tâm linh và một người có kỷ luật tâm linh và đã giác ngộ. Một người bình thường thì dễ bị tác động và khó mà vượt qua, trong khi người thức tỉnh về tâm linh có thể vượt qua nó bằng trạng thái an tịnh và thản nhiên. Ngoài ra còn một lợi ích khác trong sự quán tưởng này:

Maraṇasati sūpaṭṭhitā hoti (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Sự chánh niệm về sự chết luôn ở trong tâm vị Tỷ-khưu.

Hơn nữa, được nhắc nhở bởi sự quán tưởng này, vị ấy nhận thức rằng chết là một tiến trình cuối cùng luôn theo sát mọi người, sẵn sàng cướp đi mạng sống bất cứ lúc nào. Vị ấy hiểu rõ rằng mình rồi đây cũng sẽ chết như mọi người ai cũng chết. Nếu có thể, bằng sự quán tưởng này, vị này sẽ thực hành Niệm sự chết, ví dụ như thực hành quán tưởng sự chết (Maraṇānussati) của chính mình như là một đề mục Thiền. Bằng sự chánh niệm sâu sắc về sự chết, vị ấy sẽ có thể đối diện với cái chết của người thân mình bằng sự an tịnh và thản nhiên.

Là một phần huấn luyện tâm linh, Đức Phật đã dạy cho tất cả những ai nương tựa nơi Giáo Pháp, như một Tỷ-khưu hay cư sĩ, hãy thường xuyên quán tưởng về sự lìa xa người thân yêu của mình và những vật mình yêu thích hoặc bằng cái chết hoặc bằng sự biệt ly.

Chương 7
Nghiệp Là Thừa Kế Của Ta

Bây giờ, chúng ta tiếp tục thực hiện điều quán tưởng thứ bảy.

Đức Phật nói: “Kammassakomhi kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṃ kammaṃ karissāmi kalyāṇaṃ vā pāpakaṃ vā tassa dāyādo bhavissāmī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ.”

Lời dịch: Bậc xuất gia phải luôn quán tưởng điều này: Ta có Nghiệp (Kamma) là tài sản của chính ta, ta thừa kế Nghiệp (Kamma) của ta, Nghiệp (Kamma) là hậu duệ của ta, Nghiệp (Kamma) là quyến thuộc của ta, Nghiệp (Kamma) là nơi nương tựa của ta. Bất kể ta làm việc tốt hay xấu, ta sẽ thừa kế các quả của hành động đó.

Những lời của Đức Phật vô cùng mạnh mẽ không chỉ cho các vị Tỷ-khưu mà còn đối với tất cả mọi người. Mọi người phải nhận thức rằng Nghiệp (Kamma) là tài sản của ta. Ta phải thừa kế Nghiệp của ta. Hậu duệ thực sự của ta là Nghiệp (Kamma) của ta. Người bạn đường thủy chung nhất là Nghiệp sẽ luôn theo sát bất kỳ nơi nào ta tái sanh. Bất kể hành động và nhân của Nghiệp (Kamma) ta đã gieo trồng là tốt hay xấu, ta sẽ phải gặt hái quả của hành động đó. Đó là điều mà Đức Thế Tôn muốn nhắn nhủ chúng ta.

Lợi ích của sự quán tưởng

Khi ta quán tưởng điều này sẽ có lợi lạc gì?

Evaṃ kammasakataṃ pana paccavekkhato pakaranaṃ nāma na hoti.

Lời dịch: Quán tưởng Nghiệp (Kamma) là tài sản thực sự của chính mình, sẽ không ai còn gây ra những hành động bất thiện.

“Ta sẽ gặt hái quả lành nếu ta gieo nhân thiện, cũng vậy, ta sẽ gặt quả xấu nếu ta gieo nhân ác”, quán tưởng như thế sẽ giúp ta khởi sanh ý thức ghê sợ tội lỗi và trách nhiệm đạo đức trong ta. Thái độ này sẽ là cơ hội làm giảm những cơ hội gây ra nghiệp bất thiện. Ta sẽ không còn muốn hoặc thậm chí không có cả một ý tưởng dù chỉ là bất chợt đối với hành vi tạo ra Nghiệp xấu.

Đây là một tình huống đặc biệt như là một kịch bản, nó có thể xảy đến cho một người có khả năng quán sát sâu sắc về các khía cạnh của Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) như đã dẫn giải bởi Đức Phật. Khi mà vị này thực hành quán chiếu tiến trình Lý Duyên Khởi, vị ấy có thể nhìn thấy được từng giai đoạn của các kiếp quá khứ của mình trong thời thiền. Mọi thứ ở kiếp quá khứ tái hiện sâu sắc trong tâm thức của vị ấy. Vị ấy có thể nhìn thấy rõ ràng tất cả nghiệp tốt hay xấu của mình. Trong những điều vị ấy có thể hồi tưởng được, vị ấy lưu tâm thấy nghiệp bất thiện đã làm trong một đời quá khứ và các quả xấu mà vị ấy đã gặt hái. Một khi vị ấy đã thấy được rõ ràng luật Nhân Quả và bản chất của Nghiệp trong mỗi đời quá khứ, vị ấy sẽ không có dù chỉ là ước muốn nhỏ nhất tạo ra nghiệp bất thiện. Điều này mang một ý nghĩa rất lớn trên con đường phát triển tâm linh. Cho dù vị đó chưa đạt được sự chứng ngộ thâm sâu, vị đó sẽ có thể đứng vững trước mọi thăng trầm của cuộc đời một cách an nhiên, tự tại và vững vàng. Do đó, một người phải luôn quán tưởng về bản chất của Nghiệp và Quả trong đời sống.

Chương 8.
Ta Đã Sử Dụng Thời Gian Ngày Và Đêm
Như Thế Nào?

Bây giờ, đây là điều quan trọng thứ tám phải thường xuyên quán tưởng:

Kathaṃ bhūtassa me rattindivā vītivattantī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Ta sử dụng ngày và đêm như thế nào?”.

Bằng những lời dạy này, Đức Thế Tôn ngụ ý rằng mọi người cần phải suy xét việc sử dụng thời gian ngày và đêm quý báu của mình như thế nào. Nói cách khác, vị Tỷ-khưu phải biết thời gian trôi qua nhanh như thế nào hoặc vị đó biết rằng mình đã để thời gian ngày và đêm trôi qua như thế nào. Đơn giản hơn, vị Tỷ-khưu phải luôn suy xét mình đã sử dụng thời gian ngày và đêm được lợi ích tốt nhất hay chưa.

Đầu tiên, vị ấy phải suy xét việc thực hành Phạm Hạnh dù lớn hay nhỏ của đời sống xuất gia trong ngày và đêm như thế nào theo lời giáo huấn của Đức Phật. Vị ấy phải chắc chắn rằng mình không lãng phí một giây phút nào để thực hành Phạm Hạnh.

Thứ hai, vị ấy sẽ sử dụng tốt nhất mọi khoảng thời gian để học tập hoặc tụng Kinh và, không bao giờ lãng phí thời gian làm chuyện vô ích.

Thứ ba, vị ấy sẽ sử dụng thời gian để thực hành Như Lý Tác Ý (Yoniso Manasikāra), nghĩa là luôn giữ cho tâm suy tư đúng đắn. Ở đây, việc tập trung vào bất kỳ sự thực hành thiền nào cũng được gọi là Yoniso Manasikāra (Như Lý Tác Ý) theo tiếng Pāli. Do đó vị Tỷ-khưu phải luôn đảm bảo việc hành thiền của mình trong ngày và đêm. Vị ấy còn phải đảm bảo không bỏ phí một chút thời gian nào quên lãng việc hành thiền.

Lợi ích của sự quán tưởng

Quán tưởng điều này sẽ mang lại lợi ích gì?

“Evaṃ paccavekkhato hi appamādo paripūrati.”

(Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr314)

Lời dịch: bằng sự quán tưởng này, một ý thức sâu xa về tính cấp bách tạo Nghiệp Thiện và những việc hữu ích như là Bố thí (Dāna), Trì giới (Sīla), Tham thiền (Bhāvanā) và phát triển mười thiện nghiệp (puñña-kiriya-vatthus).

Nếu một người quán tưởng thường xuyên điều này, một thái độ Chánh niệm (Appamāda) mạnh mẽ đối với việc thực hành Giới (Sīla), Định (Samādhi), Tuệ (Paññā) trong đời sống hàng ngày sẽ được trưởng dưỡng. Nó cũng có thể góp phần đặc biệt cho sự phát triển chánh niệm tỉnh giác về tam tướng là Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha), Vô ngã (Anattā). Do đó, bất cứ người nào bước vào đời sống xuất gia phải thường xuyên quán xét thời gian quý báu ngày và đêm của mình trôi qua như thế nào.

Chương 9.
Liệu Ta Có Thật Sự Thích Sống Độc Cư Không?

Bây giờ, Đức Thế Tôn tiếp tục giảng về điều thứ chín phải thường xuyên quán xét:

Kacci nu kho ahaṃ suññāgāre abhiramāmī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Ta có hoan hỷ sống độc cư, thực hành đời sống Phạm Hạnh hay không?”

Sứ mạng của một vị Phạm Hạnh là phát triển tâm linh của chính mình, sau đó sẽ phục vụ người khác. Để hoàn thành sứ mạng này, vị Tỷ-khưu đó phải ẩn cư vào nơi cô liêu tịch tịnh và rừng sâu, tránh xa mọi thế tục phiền nhiễu bên ngoài, nơi mà vị ấy có thể tập trung hành thiền rốt ráo để phát triển thân tâm. Vị ấy cần phải thường xuyên quán tưởng rằng ta đang an hưởng độc cư để thực hành sự “Viễn ly” (Viveka). Chữ Viveka nghĩa là “Viễn ly”. Nó còn có nghĩa là việc cách ly khỏi mọi sự xao động và phiền não của thế gian. Đức Phật dạy:

Parivittassāyaṃ dhammo. Nāyaṃ dhammo saṅgaṇikārāmassa.

(Tăng Chi Kinh, III, tr 63)

Lời dịch: Chín Pháp siêu thế này chỉ dành cho những ai biết tận tâm tu tập ba Pháp Viễn ly (Viveka), Pháp này sẽ không dành cho những ai đang còn mãi mê việc sống lẫn lộn giữa thế gian.

(Ghi chú: Chín Pháp siêu thế này (Lokuttara Dhamma) tức là Bốn Đạo tuệ, Bốn Quả tuệ và Niết-bàn).

Ba Pháp Viễn Ly (Viveka)

(a)  Thân Viễn Ly (Kāya Viveka) nghĩa là trạng thái thân an tịnh. Trường hợp này chỉ xảy ra khi một người lánh vào sống đời độc cư để hành thiền hoặc để hưởng sự an tịnh.

(b)  Tâm Viễn Ly (Citta Viveka) nghĩa là trạng thái tâm an tịnh. Điều này chỉ xảy ra khi một người đang trong tiến trình tu tập thiền hoặc vị ấy đang nhập vào trạng thái tâm cao thượng chẳng hạn như đang nhập vào bậc thiền nào đó v.v.

(c)  Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka) nghĩa là trạng thái chấm dứt bốn loại sanh y. Chữ Upadhi ở đây có nghĩa là sanh y – nơi nương sanh các cảm thọ. Viễn Ly Sanh Y xảy ra khi một người nhập diệt Niết-bàn.

Chín Pháp siêu thế (Lokuttara Dhamma) này chỉ có thể thành tựu đối với ai ưa thích tu tập ba loại Viễn Ly (Viveka) trên con đường tâm linh. Chín Pháp Siêu thế (Lokuttata Dhamma) không thể và sẽ không xảy ra trong tâm những người ưa thích các quan hệ xã hội bất tận và không chịu thực hành ba loại Viễn Ly (Vivekas) này. Đây là phần được nói trong bài Kinh Đại Tầm A-nậu-lâu-đà, Anuruddha Mahāvitakka sutta, Tăng Chi Bộ Kinh.

Vì thế, nếu chúng ta thật sự muốn chứng ngộ Chín Pháp Siêu thế, chúng ta phải có thái độ trân trọng ba Pháp Viễn Ly (Vivekas). Chúng ta phải đưa các Pháp này vào việc thực hành tâm linh.

Ba Pháp Viễn Ly (Vivekas)

Đó là gì? Đó là

1. Thân Viễn Ly

2. Tâm Viễn Ly

3. Viễn Ly Sanh Y

Kāya nghĩa là Thân trong khi Viveka nghĩa là “viễn ly”. Vì vậy Kāya Viveka nghĩa là Thân Viễn Ly. Khi một người sống độc cư trong cả bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm vị ấy được cho là ở trạng thái Thân Viễn Ly. Tuy nhiên, sống với trạng thái Thân Viễn Ly (Kāya Viveka) chưa đủ để chứng ngộ Chín Pháp Siêu thế, mà nó chỉ là bước khởi đầu cần thiết để thành tựu Chín Pháp Siêu Thế.

Hỏi: Vậy tiếp theo vị đó cần phải làm gì để thành tựu Chín Pháp Siêu thế?

Đáp: Phải vận dụng mọi nỗ lực cần thiết để thành tựu tám Thiền chứng (Jhāna và Sampatti) gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka). Trong khi hành thiền, tâm hành giả được thoát khỏi các phiền não đến một mức độ nào đó thì được gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka). Để giảm bớt sự sanh khởi của các phiền não, vị ấy cần phải nỗ lực thực hành thiền Kasiṇa cùng với các chuẩn bị tướng (Kasiṇa Parikamma). Sau đó vị ấy có thể thành tựu các Thiền chứng (Jhānas và Samāpattis) còn được gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka).

Hỏi: Liệu việc đắc tám bậc Thiền (Jhānas và Samāpattis) còn được gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka) dẫn đến một người chứng ngộ Chín Pháp siêu thế hay không?

Đáp: Không hẳn thế.

Đến được mức đó đã là một sự thành tựu rất có ý nghĩa trên đạo lộ tâm linh, tuy nhiên vị ấy cần phải tiến xa hơn nữa trên con đường thực hành giải thoát. Dựa vào sự thành tựu Pháp Tâm Viễn Ly (Citta Viveka), vị ấy phải tiếp tục thực hành thiền Vipassanā bằng cách quán Danh Pháp và Sắc Pháp cùng với luật Nhân Quả vốn có trong mọi Pháp hữu vi.

Khi hành giả hành Thiền Vipassanā, quán Tam tướng của các Pháp hữu vi. Khi Tuệ Minh Sát sanh khởi qua thiền Vipassanā trở nên chín mùi, cuối cùng vị đó sẽ có thể chứng đắc Tuệ Đạo (Magga ñāna), Tuệ Quả (Phala Ñāna) và Niết-bàn (Nibbāna). Nếu một hành giả thành tựu A-la-hán Thánh Đạo và A-la-hán Thánh Quả, giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ, lúc đó vị ấy sẽ chứng đắc Niết-bàn. A-la-hán Thánh Đạo (Arahatta Magga), A-la-hán Thánh Quả (Arahatta Phala) và Niết-bàn (Nibbāna) được gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka), vì sẽ không còn bất cứ một Sanh y (Upadhi) nào trong tương lai nữa sau khi đã thành tựu các giai đoạn giác ngộ này. Ở đây chữ Upadhi nghĩa là sanh y – nơi nương sanh các cảm thọ,Viveka nghĩa là chấm dứt hoặc tận diệt, do đó nghĩa là là sự tận diệt của các sanh y.

Bốn Pháp Sanh Y (Upadhi) trong Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka)

(a)  Dục Sanh Y (Kāmupadhi)

(b)  Uẩn Sanh Y (Khandhupadhi)

(c)  Phiền Não Sanh Y (Kilesupadhi)

(d) Thắng Hành Sanh Y (Abhisaṅkharūpadhi).

Từ Kāmupadhi (Dục Sanh Y) là sự kết hợp của hai từ, đó là Kāma và upadhi. Kama nghĩa là năm loại dục lạc. Upadhi nghĩa là Sanh Y. Năm loại dục lạc gọi là Sanh Y (Upadhi) bởi vì thọ lạc sanh khởi từ ngũ dục này. Trong trạng thái tịch tịnh của Niết-bàn, không còn khởi sanh dục lạc. Vì thế nó được gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka). Đối với A-la-hán Thánh Đạo (Arahatta Magga) và A-la-hán Thánh Quả (Arahatta Phala) cũng tương tự vậy.

Chữ Khandhupadhi (Uẩn sanh y) bao gồm hai từ: Khandha và Upadhi. Khandha có nghĩa là năm uẩn trong khi Upadhi nghĩa là Sanh Y. Năm Uẩn được gọi là Upadhi vì các cảm thọ và sự khổ đau sanh khởi nhờ ngũ uẩn là nguồn gốc. Do sự có mặt của ngũ uẩn, các chúng sanh tái sanh nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, hay nhân loại và phải chịu đựng các loại khổ khác nhau. Cái khổ mà một chúng sanh phải trải qua suốt tiến trình thụ thai và sanh, lão, bệnh, tử là do sự có mặt của năm uẩn. Đây là lý do tại sao ngũ uẩn được gọi là Sanh Y (Upadhi). Vào lúc chứng đắc Niết-bàn, năm uẩn gọi là Khandhupadhi (Uẩn Sanh Y) này đã vắng mặt và chấm dứt mọi vận hành. Vì thế Niết-bàn còn gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka).

Bây giờ chúng ta hãy nói về Sanh Y (Upadhi) thứ ba. Nó được gọi là Phiền não Sanh Y (Kilesupadhi) gồm hai chữ kết hợp: Kilesa và Upadhi. Chữ Kilesa nghĩa là phiền não làm tâm ô nhiễm trong khi từUpadhi nghĩa là Sanh Y. Tại sao Phiền não (Kilesa) được gọi là Sanh Y (Upadhi)?

Nó được gọi như vậy là vì, dựa vào phiền não, tất cả mọi nỗi khổ đau bất tận mà chúng sanh phải đương đầu trong suốt vòng luân hồi (saṃsāra) sanh khởi chỉ nơi người chưa đoạn trừ các phiền não. Những khổ đau trong vòng luân hồi (saṃsāra) không còn khởi lên trong tâm của những người đã đoạn trừ phiền não. Giờ đây chúng ta đã hiểu rõ phiền não là sanh y ra khổ đau trong vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra). Vì thế nó được gọi là Sanh Y (Upadhi). Trong Vô vi Niết-bàn không còn Phiền não Sanh Y (Kilesa Upadhi) nữa, không còn phiền não nữa, vì vậy gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka).

Bây giờ, Sanh y thứ tư là Thắng Hành Sanh Y (Abhisaṅkharūpadhi) bao gồm hai từ: Thắng hành (Abhisaṅkhāra) và Sanh Y (Upadhi). Từ Abhisankhāra nghĩa là tái tạo và tái phục hồi trong khi Upadhinghĩa là Sanh Y. Ở đây, từ Thắng Hành (Abhisaṅkhāra) được nói đến các Nghiệp thiện và Nghiệp bất thiện có tiềm lực khổng lồ trong việc tạo ra sự tái sanh. Đó gọi là Sanh Y (Upadhi) bởi vì Nghiệp tạo ra khổ và tất cả vòng luân hồi (saṃsāra) bất tận của khổ khởi sanh từ nghiệp thiện và bất thiện được gọi chung là Nghiệp (Kamma). Trong Vô vi Niết-bàn không còn Thắng Hành (Abhisaṅkhāra), do đó cũng không còn quả của Nghiệp Thiện và Nghiệp bất thiện, vì thế nó gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka).

Tóm lại, bây giờ chúng ta đã hiểu được ba Pháp Viễn ly (Vivekas), tên là Thân Viễn Ly (Kāya Viveka), Tâm Viễn Ly (Citta Viveka), Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka). Chín Pháp siêu thế chỉ có thể tu tập với những người có tâm ưa thích ba Pháp Viễn Ly (Vivekas). Chín Pháp siêu thế không thể phát triển đối với người không tận tâm hay không ưa thích thực hành ba Pháp Viễn ly (Vivekas) mà chỉ ưa thích giao tiếp và sống lẫn lộn trong xã hội.

Đó là lý do tại sao Đức Phật đã nhấn mạnh phải thường xuyên quán tưởng và tự hỏi rằng liệu ta có thực sự thích sống độc cư ở nơi tịch tĩnh để phát triển tâm linh hay không.

Lợi ích của sự quán tưởng

Khi quán tưởng điều này ta sẽ có lợi ích gì?

Evam paccavekhato kāyaviveko paripūrati.

Lời dịch: Sự quán tưởng này sẽ giúp hoàn thành bước đầu của Thân Viễn Ly (Kāya Viveka).

Sự quán tưởng này sẽ luôn nhắc nhở một người đi vào sống độc cư theo đuổi hành trình phát triển tâm linh một cách rốt ráo. Một khi vị ấy bắt đầu thực hiện được bước thứ nhất – Thân Viễn Ly (Kāya Viveka), là bước đầu tiên dễ thực hiện nhất, hai bước Viễn Ly còn lại sẽ dần được phát triển vì chúng là các bước tiến có mối tương quan tuần tự. Vì thế, Đức Phật giáo huấn rằng phải thường xuyên quán tưởng điều này.

Chương 10.
Khi Hấp Hối Trên Giường Bệnh

Bây giờ, đây là điều quán tưởng thứ mười phải thường xuyên thực hành:

Atthi nu kho me uttari manussadhammo alamariyañāṇadassanaviseso adhigato, yenāhaṃ pacchime kāle sabrahmacārīhi puṭṭho na maṅku bhavissāmī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Liệu ta đã thực sự thành tựu tri kiến siêu thế của bậc thánh hay chưa (Alamariya ñāṇadassana visesa), đã vượt qua mười loại thường giới của phàm nhân(Manussa Dhamma) hay chưa, nhờ đó ta sẽ không cảm thấy bối rối trong giây phút cuối cùng của cuộc đời khi các đồng Phạm Hạnh hỏi ta là đã đắc được một Pháp siêu thế nào chưa?”.

Vị Tỷ-khưu hay bất cứ ai đi trên con đường Phạm Hạnh, đều phải thường xuyên quán tưởng điều thứ mười này, ta đã làm được gì để phát triển tâm linh, đã thành tựu được Pháp nào chưa như bậc thiền chứng (Jhāna), Đạo (Magga), Quả (Phala) và Niết-bàn (Nibbāna). Những thành tựu này được gọi là tri kiến của bậc thánh (Alamariya ñānadassana Visesa), nó có nghĩa là một bậc Thánh đã giác ngộ. Những Trí Tuệ này là sức mạnh kỳ diệu làm thanh tịnh tâm vì nó có thể diệt trừ các phiền não.

“Ta đã thành tựu được bất kỳ Pháp siêu thế nào chưa?”, vị Tỷ-khưu, với sự suy xét này, sẽ luôn thường xuyên đánh giá sự nỗ lực của bản thân.

Với sự quán tưởng này tôi sẽ có lợi lạc gì?

Giả dụ có một vị đang hấp hối trên giường bệnh, rồi những người bạn đồng tu đến hỏi vị ấy về sự thực hành đã tiến bộ thế nào? Họ có thể hỏi “Hiền giả đã thành tựu Pháp siêu thế nào để nương tựa chưa?”. Trả lời câu hỏi này với một tiếng KHÔNG thì thật là bối rối. Để tránh gặp phải tình huống này và để tạo lực đẩy cần thiết đối với việc thực hành tâm linh, vị Tỷ-khưu cần phải thường xuyên kiểm tra mình đã thành tựu được một trong Chín Pháp siêu thế (Lokuttara Dhamma) nào chưa.

Lợi ích của sự quán tưởng

Có bất kỳ lợi ích quan trọng nào từ việc quán xét này không?

Evaṃ paccavekkhantassa hi moghakālakiriyā nāma na hoti.

Chú giải Tăng Chi Kinh, q III, tr 314

Lời dịch: Khi quán tưởng điều này, sẽ không có cái chết vô nghĩa và sự lãng phí thời gian vô ích trong cuộc đời tu tập.

Vị đó có thể hiểu rõ hiện trạng tu tập của mình đã tiến bộ ở bậc siêu thế nào chưa. Vị ấy sẽ biết rằng vị ấy không có thời gian nào để lãng phí, mà sẽ dồn nỗ lực gấp đôi để thực hành rốt ráo hơn nữa nếu chưa đạt được sự tiến bộ nào hết. Vị ấy hoàn toàn nhận thức rõ giây phút cuối đời là giai đoạn không tránh khỏi trong cuộc sống giống như mặt trời mọc bị buộc sẽ phải lặn lúc hoàng hôn.

Tất cả chúng ta đều biết rằng hoàng hôn cuộc đời ta cuối cùng sẽ đến. Cùng với quá nhiều lần mặt trời lặn xuống trong cuộc đời, ta đang tiến dần tới cái chết và không bao giờ thoát khỏi nó. Với sự chánh niệm về tiến trình bất biến này, nhờ đó sẽ phát triển một ý chí và mức độ quyết tâm mạnh mẽ dành toàn bộ phần đời quý giá còn lại để tu tập nhiều hơn. Không còn thời gian để lãng phí nữa. Với thái độ và sức mạnh này, vị ấy sẽ tập trung nhiều hơn nữa cho việc phát triển Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Mỗi tiến bộ và sự phát triển trên con đường tâm linh chắc chắn sẽ dẫn đến chứng đắc các Pháp Siêu Thế mà vị ấy mong mỏi.

Đức Phật đã thấy trước những lợi lạc như thế, nên Ngài đã giáo huấn thực hành thường xuyên mười loại quán tưởng này hằng ngày. Vì thế, đây là phận sự của bất cứ ai bước vào con đường Phạm Hạnh do Đức Phật giảng dạy với mục đích diệt trừ phiền não, cố gắng nỗ lực thực hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn. Điều này sẽ dẫn đến sự tiến bộ đầy ý nghĩa trên hành trình tiến hóa tâm linh.

Kết luận

Hitvā kāme pabajjiṃsu,
Santo gambhīrasintakā
Te tumhe pya-nusikkhāvho,
Pabbajitā supesalā.

Những bậc hiền nhân và bậc thánh thâm sâu xưa kia
Với tư duy và trí tuệ, trở thành các Tỷ-kheo
Và những Đạo sĩ từ bỏ ngũ trần
Ôi cho dù cuộc sống hiện đại!
Hãy yêu quý Giới đức và
Trưởng dưỡng chúng.
Theo con đường tự do và giải thoát.

Cầu chúc cho quý vị sớm đạt được mục đích cứu cánh giải thoát giác ngộ, chứng ngộ Niết-bàn.

———————————-

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw

Trung Tâm Thiền Pa-Auk Tawya

Mawlamyine, tiểu bang Mon, Myanmar

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s