Sự quán tưởng về giây phút hấp hối trên giường bệnh

Một quyển sách mang thông điệp khẩn cấp của Đức Phật

Cho những ai tầm cầu an lạc, hạnh phúc và tự do trên con đường tâm linh

Tác giả: Ngài Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw U Āciṇṇa

Lời Nói Đầu

“Này các Tỳ-kheo, hãy luôn tinh tấn hành trì. Bởi khó khăn lắm mới có cơ hội gặp Phật ra đời trên thế gian, hiếm hoi lắm mới có cơ hội được sanh ra làm người, được gặp Giáo pháp, được làm người lành lặn có đầy đủ các căn, có niềm tin nơi Phật Bảo, Pháp Bảo, được xuất gia Tỳ-kheo và được cơ hội nghe giảng Pháp của các bậc Thánh, tất cả những điều này là các cơ hội độc nhất.”

Đức Thế Tôn đã nói những lời vô giá này, vào mỗi buổi sáng sau bữa điểm tâm trước tất cả hội chúng trong tinh xá, và toàn thể cận sự nam, cận sự nữ. Thông điệp của Đức Thế Tôn mang đầy tính cấp bách và nhấn mạnh đòi hỏi phải hành động ngay tức khắc. Nó cũng là lời nhắc nhở đầy lòng từ bi rằng chúng ta phải nắm bắt các cơ hội này và đánh giá đúng giá trị cuộc đời và các món quà kèm theo mà đối với nhiều người dường như xem đó là điều tầm thường. Ngoài ra, nó làm thấm nhuần trong chúng ta một ý thức sâu xa việc đánh giá cao sự hướng đến những cơ hội hiếm có mà chúng ta có trong tay. Nó đơn giản và mạnh mẽ truyền cảm hứng cho chúng ta để hành động.

Đức Phật đã thường nhắc nhở ngắn gọn những điều này hàng ngày chỉ với mục đích và ý định làm tăng trưởng và làm thánh thiện đời sống và tâm của các vị đệ tử Tỳ-kheo và các cận sự nam, cận sự nữ, bằng cách đó, dẫn dắt họ đi trên con đường Giác ngộ, giải thoát và hạnh phúc. Ngài mong muốn các đệ tử của mình sẽ trở thành những tấm gương sáng với nỗ lực hành trì trên con đường phát triển tâm linh. Bài thuyết giảng với mục đích và tác ý rõ ràng của Ngài thể hiện qua những lời lẽ như sau:

Phẩm A-tu-la
(Bài thuyết giảng về Ngạ Quỷ Sứ)

A-tu-la (Asura) tiếng Pāli nghĩa là ngạ quỷ sứ. Trong bài giảng này, được dùng phép ẩn dụ để ám chỉ hạng người ác giới đáng sợ chẳng khác nào loài A-tu-la. Ngược với A-tu-la là Devā (loài chư thiên có thần thông sống ở cõi cao hơn). Trong bài này, nó được liên hệ theo cách ẩn dụ tới hạng người có giới và theo pháp lành.

Này Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

1) Hạng thứ nhất: A-tu-la với quyến thuộc A-tu-la

2) Hạng thứ hai: A-tu-la với quyến thuộc chư Thiên

3) Hạng thứ ba: chư Thiên với quyến thuộc A-tu-la

4) Hạng thứ tư: chư Thiên với quyến thuộc chư Thiên

  1. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người A-tu-la với quyến thuộc A-tu-la?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ác giới, theo ác pháp, hội chúng của người ấy cũng ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người A-tu-la với quyến thuộc A-tu-la.

  1. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người A-tu-la với quyến thuộc chư Thiên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ác giới, theo ác pháp, nhưng hội chúng của người ấy có giới, theo pháp lành. Như vậy này các Tỷ-kheo, là hạng người A-tu-la với quyến thuộc chư Thiên

  1. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người chư Thiên với quyến thuộc A-tu-la?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người giữ giới, theo pháp lành, còn hội chúng của người ấy ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người chư Thiên với quyến thuộc A-tu-la.

  1. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người chư Thiên với quyến thuộc chư Thiên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người có giới, theo pháp lành, còn hội chúng của người ấy cũng có giới, theo pháp lành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người chư Thiên với quyến thuộc chư Thiên.

Trong các loại người trên, Đức Phật hầu như ưa chọn hạng người thứ tư là hạng mà chính anh ta như chư Thiên và có nhiều thiện bằng hữu xung quanh. Trong bài thuyết giảng này, cho ta thấy phải có trách nhiệm đối với bản thân và những người chung quanh ta. Đức Phật còn nhấn mạnh trách nhiệm rèn luyện phẩm hạnh giới đức và pháp hành là nhiệm vụ cấp bách của mỗi người chúng ta trong đời sống hàng ngày. Hơn nữa, chúng ta hãy học Phẩm Định thứ hai (bài thuyết giảng thứ hai về phát triển định) được trích ra từ Tăng Chi Kinh, kinh điển Pāli.

Phẩm Định Thứ Hai
(Dutiya Samādhi Sutta)

Có bốn hạng người, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh nhưng không được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma) để có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma) có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi, nhưng lại chưa được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chưa được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh, cũng chưa được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma) để có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đã được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh và cũng được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma), có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi.

Trong bốn hạng trên, hạng người thứ nhất đã được An chỉ định, cần nỗ lực tu tập để phát triển Tuệ minh sát, thì sau đó sẽ được cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Với hạng người thứ nhì chỉ được Tuệ minh sát thì nên nỗ lực tu tập An chỉ định, thì sau đó sẽ được cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Với hạng người thứ ba chưa đạt được cả An chỉ định lẫn Tuệ minh sát, thì phải nỗ lực tu tập với ước nguyện mạnh mẽ, càng nỗ lực, càng tinh tấn với sức chịu đựng bền bỉ, không lay chuyển, có chánh niệm tỉnh giác và có tuệ phân tích để được các phẩm chất đại thiện của cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Ví như người mà y phục và đầu của anh ta bị lửa cháy thì phải dập tắt ngay ngọn lửa tức thì. Cũng tương tự vậy, người mà nỗ lực tu tập với ước nguyện mạnh mẽ, càng nỗ lực, càng tinh tấn với sức chịu đựng bền bỉ, không lay chuyển, có chánh niệm tỉnh giác, và có tuệ phân tích để đạt được các phẩm chất đại thiện của cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Với hạng người thứ tư, hạng mà đã phát triển được cả An chỉ định và Tuệ minh sát, an trú trong thiện pháp này, người đó cần tinh tấn nỗ lực hơn nữa để diệt trừ bốn lậu hoặc (các tâm ô nhiễm).

Này các Tỷ-kheo, bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

Trong bài thuyết giảng, Đức Phật đã đưa ra những lời chỉ dẫn sâu sát để phát triển và đạt được những phẩm chất cần thiết của một vị Tỷ-kheo. Những lời giáo huấn của Ngài cũng liên quan đến trách nhiệm và sự tinh cần tu tập của vị Tỷ-kheo, người mà đã từ bỏ đời sống thế tục để bước vào con đường Phạm hạnh.

Chúng ta hãy học một bài thuyết giảng khác của Đức Phật.

Phẩm Khúc Củi Cháy Dở (Chavalata Sutta)

Này, Tỷ-kheo, có bốn hạng người trên thế gian này là:

1/ Người mà không hướng đến lợi mình, lợi người.

2/ Người mà không hướng đến lợi mình nhưng hướng đến lợi người.

3/ Người mà hướng đến lợi mình nhưng không lợi người.

4/ Người mà hướng đến lợi mình và lợi người.

Này các Tỷ-kheo, ví như khúc gỗ được sử dụng cho buổi lễ hỏa táng, nó đã bị đốt cháy thành than ở hai bên mép, ở giữa bị dính phẩn uế, thì nó sẽ không còn được dùng làm củi đốt trong nhà hay làm vật liệu xây dựng nhà nữa. Cũng vậy, hạng người thứ nhất không hướng đến lợi ích bản thân và cũng không hướng đến lợi ích của người khác, Như Lai tuyên bố rằng: nó tương tự như khúc gỗ vô dụng kia”.

Này các Tỷ-kheo, hạng thứ hai chỉ hướng đến lợi ích của người khác mà không hướng đến lợi ích bản thân thì vi diệu hơn, thù thắng hơn hạng người thứ nhất”.

Ghi chú: Đây là hạng người hay giúp đỡ người khác trong việc phát triển tâm linh nhưng lại không nỗ lực phấn đấu cho chính mình.

Này các Tỷ-kheo, hạng thứ ba luôn làm lợi ích cho bản thân nhưng lại không quan tâm đến lợi ích của người khác thì vi diệu hơn, thù thắng hơn hai hạng người kia”.

Ghi chú: Hạng người này luôn nỗ lực phát triển tâm linh cho bản thân nhưng không nỗ lực giúp đỡ người khác.

Này các Tỷ-kheo, ví như sữa, phó mát, bơ và dầu bơ, tất cả đều cùng là sản phẩm sữa lấy từ con bò, nhưng nó vẫn có sự vượt trội khác nhau trong từng cái một. Tương tự vậy, hạng thứ tư luôn hướng đến lợi ích của bản thân và cũng như hướng đến lợi ích của người khác là hạng người tối thượng, tối thắng, thượng thủ, vô thượng.

Này Tỷ-kheo, cả bốn hạng trên đều hiện hữu trên thế gian này”.

Dưới ánh sáng của Giáo Pháp, chúng ta hãy tự hỏi làm thế nào để có thể làm lợi ích cho bản thân và cho người khác. Vì vậy, bài thuyết giảng này sẽ chỉ rõ cho chúng ta điều đó. Bây giờ, chúng ta hãy đi sâu vào bài giảng sau đây.

Phẩm Khả năng biết nhanh
(Khippanisanti Sutta)

Ghi chú: Tiếng Pāli Khippa có nghĩa là nhanh và Nisanti có nghĩa là khả năng biết

1/ “Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người chỉ hướng đến lợi ích bản thân mà không hướng đến lợi ích của người khác? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, có trí tuệ hiểu thấu đáo những gì học được. Biết cả ngữ và nghĩa của kinh điển, hạng người này thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā) và cùng với tuân thủ giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ Thánh đạo). Tuy nhiên, hạng người này không thiện ngôn, không khéo nói, không biết dùng những lời tao nhã, không phát âm chính xác, rõ ràng, không thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người chỉ hướng đến lợi ích của mình và không hướng đến lợi ích của người khác.

2/ Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi ích của người khác và không hướng đến lợi ích bản thân? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người không mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, không có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, không có trí tuệ hiểu thấu đáo những gì học được. Hạng người này không thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā) và giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ Thánh đạo). Tuy nhiên, hạng người này thiện ngôn, khéo nói, biết dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác, rõ ràng, có thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người chỉ hướng đến lợi ích của người khác mà không hướng đến lợi ích của mình.

3/ Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không hướng đến lợi ích bản thân mà cũng không hướng đến lợi ích của người khác? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người không mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, không có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, không có trí tuệ để hiểu thấu đáo những gì đọc được. Hạng người này không thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā) và giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ về Thánh đạo). Hơn nữa, hạng người này cũng không thiện ngôn, không khéo nói, không biết dùng những lời tao nhã, không phát âm chính xác, rõ ràng, không thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người không hướng đến lợi ích của mình và cũng không hướng đến lợi ích của người khác.

4/ Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người biết hướng đến lợi ích bản thân và cũng hướng đến lợi ích của người khác? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, có trí tuệ để hiểu thấu đáo những gì học được. Biết cả ngữ và nghĩa của kinh điển, hạng người này thực hành thiền Định (Samatha), thiền Quán (Vipassanā) và cùng với tuân thủ giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ Thánh đạo). Hơn nữa, hạng người này thiện ngôn, khéo nói, biết dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác, rõ ràng, có thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người biết hướng đến lợi ích của mình và cũng hướng đến lợi ích của người khác.”

Atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammapaṭipanno hoti“

(Tăng Chi kinh bản Pāli, q 1, tr. 410)

Atthamaññāya dhammamaññāya: nghĩa là có sự hiểu thấu suốt cả hai Kinh điển Pāli và Chú giải.

Dhammānudhammapaṭipanno hoti: nghĩa là thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā) bao gồm tuân thủ Giới luật (Sīla) mà nó là tiền đề cho sự chứng ngộ chín Pháp siêu thế.

Để hướng dẫn thực hành những phần trên, vị nào có thiện nguyện làm lợi ích cho bản thân và cho người khác thì bước đầu tiên cần phải học Giáo Pháp của Đức Phật. Điều này không có nghĩa là vị đó phải học thuộc hết tất cả các Kinh điển mà chỉ cần học một cách có hệ thống về Bát Thánh Đạo, phần nền tảng Giáo Pháp của Đức Phật mà có thể dẫn đến diệt tận khổ đau. Ngoài ra còn cần phải học dưới sự hướng dẫn của một vị thầy thiện xảo về pháp hành ban đầu về thực hành Giới (Sīla), Định (Samatha) và Tuệ (Vipassanā) mà vị ấy cần phải hoàn thành trước khi thành tựu Thánh Đạo.

Trong Bát Thánh Đạo, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, hình thành con đường đạo đức căn bản cho người cần thực hành Giới (Sīla). Để có thể thực hành Giới (Sīla), người đó phải hiểu rõ ba Thánh đạo được đề cập ở trên. Chỉ khi nào người đó biết rõ về Giới, thì mới có thể giữ gìn Giới đức cẩn thận và trong sạch. Không có tri thức thiết yếu này về con đường Giới hạnh, thì vị đó không thể nào thực hành Giới đức trong sạch và trọn vẹn được.

Có được sự thiết lập vững chắc về Giới và thực hành đầy đủ, vị ấy cần phải tiến hành thực hành con đường thiền Định (Samādhi). Là một phần của Bát Thánh Đạo, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định, tất cả ba yếu tố này tạo ra các chi đạo về Định (Samādhi), con đường dẫn tới phát triển Định. Để thực hành các đạo này, vị ấy cần sự chỉ dạy và huấn luyện một pháp thiền phù hợp nơi một vị thầy đáng tin cậy.

Bước tiếp theo, là phải được học với một vị thầy giỏi để phát triển hai chi đạo về Tuệ (Paññā) là Chánh kiến và Chánh tư duy để có thể phát triển được Tuệ minh sát. Chỉ những ai có thể phát triển Bát Thánh Đạo, mới là những Tỷ-kheo hay người hành giả tốt theo lời dạy của Đức Phật, và có thể làm lợi ích cho bản thân và cho người khác. Chỉ có những người đại thiện như vậy mới có thể đạt được một nội tâm tĩnh lặng và phát triển được Tuệ minh sát.

Bài pháp mà quý vị sẽ đọc ở các trang sau của cuốn sách này là một trong các Lời dạy của Đức Phật sẽ giúp cho quý vị trở thành hiền nhân. Bài kinh được ghi trong Tăng Chi Kinh, quyển ba, Dasaka Nipāta, tr 325. Các yêu cầu tiên quyết trên con đường tâm linh đã được chỉ rõ trong đó.

Mặc dầu tiếng Pāli chữ “pabbajita” có nghĩa là người xuất gia, nhưng nó còn ám chỉ tới những ai đã tận diệt phiền não hoặc đang tinh tấn trên con đường diệt trừ phiền não. Đối với những ai vẫn còn đang tu tập để diệt trừ phiền não, có mười điều cần phải thường xuyên quán tưởng. Những điều cần thường xuyên quán xét này đã được Đức Phật chỉ dạy chi tiết trong bài Pháp.

Nếu một người tiến hành tu tập nghiêm túc mười điều quán tưởng này, thì chắc chắn vị ấy có thể đạt được sự an tịnh và hạnh phúc của Tầng thiền (Jhāna), Tuệ minh sát (Vipassanā), Đạo (Magga), Quả (Phala) và Niết-bàn (Nibbāna) ngay trong kiếp sống hiện tại này. Nếu vẫn còn sự tái sanh đối với con người hiền thiện này, thì những điều quán tưởng này có năng lực đưa đến hạnh phúc ở cõi người hoặc cõi trời, cuối cùng dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn. Hơn nữa, mười điều quán tưởng này sẽ làm chấm dứt vòng luân hồi khổ đau. Thực vậy, bài pháp này được gọi là bài giảng của sự an tịnh tối thượng vì nó có thể dập tắt ngọn lửa phiền não trong tâm của ta. Mười điều quán tưởng này, khi thường xuyên được quán xét, giống như sự chuẩn bị cho giây phút ra đi của chính người hành giả đó với một gương mặt rạng rỡ, an tịnh và nụ cười trên chiếc giường hấp hối.

Nằm trên giường hấp hối, mười phiền não có thể làm cho gương mặt chúng ta âu sầu với sự nuối tiếc và sợ hãi. Tuệ minh sát và Tuệ đạo mà ta đạt được trong thời gian trước cái chết sẽ diệt trừ mọi phiền não. Vì vậy, người hiền thiện sẽ có thể sống ngay cả giây phút cuối của đời mình với gương mặt rạng ngời và tâm an tịnh, hy vọng về trạng thái an vui, hạnh phúc ngày càng cao.

Phận sự của mỗi người chân chánh là cố gắng thành tựu tuệ minh sát, tuệ đạo và tuệ quả là các tuệ có sức mạnh nhổ bỏ mọi phiền não, nhờ đó, người ấy có thể đối mặt với giây phút cuối cùng của đời mình với một nụ cười rạng rỡ và tâm an tịnh.

Mười Phiền não lậu hoặc

Tiếng Pāli “Kilesa” có nghĩa là tâm phiền não lậu hoặc. Có mười loại phiền não:

  1. Lobha: tham ái hay dính chấp vào những đối tượng khác nhau và dục trần
  2. Dosa: sân và hại
  3. Moha: vô minh, không thấu hiểu Tứ Thánh đế.
  4. Māna: ngã mạn, thái độ kiêu căng tự mãn
  5. Diṭṭhi: tà kiến thấy sự vật thường còn, lạc, đáng hưởng thụ và linh hồn bất tử (ngã).
  6. Vicikicchā: hoài nghi Tứ Thánh đế, hoài nghi Phật, hoài nghi Pháp, hoài nghi Tăng và luật về Nghiệp báo
  7. Thīna: hôn trầm, buồn ngủ, muội lược.
  8. Uddhacca: trạo cử, trạng thái tâm không thể định hay tập trung được.
  9. Ahirika: vô tàm, không biết hổ thẹn khi làm các điều bất thiện.

10.  Anottappa: vô quý, không sợ hãi làm các điều bất thiện.

Tất cả các tâm sở bất thiện được dẫn dắt bởi mười phiền não này làm cho tâm bị ô nhiễm. Đó là lý do nó được gọi là phiền não (kilesa). Những ai đang tinh tấn nhổ bỏ các tâm ô nhiễm bằng cách thực thành Bát Thánh Đạo được gọi là “pabbajita”. Nó có nghĩa là người hoặc đã tận diệt các ô nhiễm hoặc vẫn đang nỗ lực diệt trừ phiền não.

Trong chuyến viếng thăm Malaysia ngày 16 tháng 8 năm 2003, sau một buổi lễ phước thiện của Goh Se Lin Tan Yok Har, tôi đã thuyết bài Pháp nói về mười điều phải thường xuyên quán xét của bậc xuất gia (pabbajitas), là những người đang nỗ lực nhổ tận gốc rễ các phiền não lậu hoặc. Những điều quán xét này được lấy từ trong “Kinh Bậc Xuất Gia Thường Quán Xét” (Pabbajita Abhiṇha Sutta) của Tăng Chi Bộ, Kinh Pāli, q3.

Sau khi nghe bài Pháp này, tu nữ Susīla, người Malaysia, bày tỏ mong muốn và thỉnh cầu phát hành bài Pháp thoại này cho mọi người như là một món quà Pháp thí. Sau khi chuyển biên từ băng audio, nó đã được xuất bản và phát hành như một món quà Pháp. Như một lời khuyên, điểm chính của bài dạy liên hệ đến Bát Thánh Đạo chỉ được mô tả theo một cách tóm lược để đại chúng có thể hiểu được. Vì vậy, việc có sự hướng dẫn đáng tin cậy vẫn cần thiết cho những ai muốn thực hành đầy đủ và kỹ lưỡng.

CHÂN NGÔN TỐI THƯỢNG

Với lòng từ bi vô lượng,

Đức Thế Tôn đã chỉ dạy chúng sanh,

Chỉ có Bát Thánh Đạo

Mới là con đường Thánh dẫn tới an tịnh Niết-bàn

Chấm dứt mọi đau khổ

Thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi

Đó chính là Chân ngôn Tối thượng

Của Đấng Chí Tôn Chí Thánh

Tương Ưng Bộ, Kinh Pāli, q.1, tr.191

Cầu chúc cho quý vị có thể thực hành theo lời dạy của Đức Phật trong Kinh Bậc Xuất Gia Thường Quán Xét (Pabbajita Abhiṇha Sutta).

Với Tâm Từ

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw

Trung Tâm Thiền Pa-Auk Tawya, Mawlamyine.

Phật lịch 2547

Myanmar, Năm 1365, Rằm Tháng Taw-da-lin

Ngày 10/9/2003

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

Chương 1.
Kinh Bậc Xuất Gia Thường Quán Xét
Pabbajita Abhiṇha Sutta

Này Tỷ-kheo, có mười điều cần phải thường xuyên quán xét bởi những ai đã bước vào đời sống xuất gia với một ý chí và mục đích diệt trừ phiền não. Trước hết, vị xuất gia cần phải quán xét thường xuyên về trạng thái hình tướng của một vị Tỷ-kheo như sau:

Không còn là một cư sĩ, ta đã trở thành bậc xuất gia với hình tướng đã thay đổi khác

Có hai sự khác biệt khi là một bậc xuất gia: thứ nhất là vẻ ngoài của vị Tỷ-kheo, thứ hai là với y phục và các vật dụng mà người Tỳ-kheo sử dụng trong đời thường.

Sự Biến Đổi Về Thân

Ở đây, chú giải đề cập tóm tắt về tiến trình thay đổi bề ngoài sẽ được thấy như thế nào. Thông thường điều đó có thể dễ dàng thấy nếu ta soi gương. Vì điều đó thật không phù hợp với Tỷ-kheo hay tu nữ nếu sử dụng gương soi, họ có thể nhận rõ sự thay đổi của thân này qua sự lưu ý chỗ đầu tóc và râu đã được cạo sạch. Vả lại, nhìn gần hơn nữa, trên tóc này không còn tóc của tuổi thanh xuân nữa mà giờ đây chỉ còn lại tóc bạc. Khi nhìn vào làn da, vị ấy lại nhận ra nhiều nếp nhăn, và nhiều vùng da bị chùng xuống là dấu hiệu của tuổi già nua. Đó là một tiến trình biến đổi liên tục trong thân cho dù ta có cố gắng đến đâu để duy trì tuổi trẻ và hình dáng bên ngoài. Tấm thân mà ta yêu quý và chăm sóc nó biết bao mà nó vẫn đi ngược lại ý muốn trẻ mãi không già của ta. Trong nhịp bước của chuyển hóa và chuyển biến, nó làm cho thân ta đi dần đến sự tiêu hoại và cái chết. Cho dù nghiệp xấu hay tốt thì ta cũng không thể đảo ngược tiến trình đó được. Bất lực trước sự biến đổi này, thân ta luôn đau ốm từ lúc bắt đầu có thân này, sự lão hóa không ngừng và nhiều bức xúc của thân diễn ra hằng ngày. Tiến trình biến đổi này cứ đi tới, đi tới mãi và nó không để cho ai thoát cả. Những điều này phải luôn được quán xét bởi những vị xuất gia và những ai đang đi trên con đường tiến hóa tâm linh.

Sự Khác Biệt Về Y Phục Và Các Thứ Vật Dụng

Trong đời sống cư sĩ, không có một giới hạn nào. Mọi thứ đều có thể chợt nảy ra. Sự ham muốn và cái tâm buông lung chạy theo nhiều thứ. Một người có thể mặc quần áo nhiều màu và đủ thứ kiểu dáng, họa tiết khác nhau. Một người cũng có thể chiều chuộng mình ăn ngon với nhiều khẩu vị khác nhau, đựng thức ăn trong đĩa vàng, đĩa bạc. Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên, là hai vị đại đệ tử của Đức Phật, trước khi xuất gia đã dùng nhiều thức ăn thượng hảo hạng đặt trong đĩa bằng vàng và bằng bạc vì các vị ấy vốn xuất thân trong các gia đình thế gia quyền quý. Một người bình thường có thể ngủ trên một chiếc giường sang trọng và ngồi trong những chiếc ghế đắt tiền đặt trong phòng đầy đủ tiện nghi. Một cư sĩ cũng có thể sử dụng đủ các loại thuốc bán sẵn ngoài thị trường chưa kể đến chất lượng hay giá trị của nó thật đa dạng. Đó là đời sống của một cư sĩ.

Tuy nhiên, có sự khác biệt rất lớn và đổi thay quan trọng ngay khi người đó bước vào đời sống xuất gia. Tứ vật dụng của một vị sư là y phục, thực phẩm, chỗ ở và thuốc men thật đơn giản và khiêm tốn. Không có tiện nghi sang trọng cho dục vọng vô hạn và cũng chẳng thể luôn chiều chuộng cái tôi. Một vị tăng phải sống đơn giản với tiện nghi tối thiểu để sự thu thúc lục căn và tinh thần kỷ luật có thể cùng phát triển. Vị ấy phải từ bỏ các tiện nghi và dục trần mà mình đã hưởng thụ trước đây.

Về sự mặc, vị Tỷ-kheo phải dùng các y được làm từ các mảnh vải phế thải nhỏ. Bộ y của vị Tỷ-kheo được làm từ những miếng vải bỏ không còn giá trị nữa, được cắt thành hình vuông nhỏ để làm mất giá trị của nó, rồi may lại và nhuộm bằng vỏ cây nâu trong rừng nhiệt đới như thời xa xưa. Loại y này chẳng có chút giá trị nào theo nghĩa tiền bạc khiến không một tên trộm nào muốn lấy cắp. Đó là loại y phục của vị Tỷ-kheo mà không một ai muốn lấy để mặc cả.

Đối với vật thực và bữa ăn, vị Tỷ-kheo phải dùng bất kỳ món gì do người thế tục bố thí cúng dường. Đặt tất cả những vật thực được cúng dường trong chiếc bát làm bằng sắt hay đất sét, vị Tỷ-kheo phải dùng thức ăn được trộn lẫn vào nhau trong bát bất kể sở thích cá nhân của mình. Đối với vị Tỷ-kheo và đối với những ai đang đi trên con đường tiến hóa tâm linh, ăn trở thành một tiến trình duy trì thân mạng hơn là một hành động chiều chuộng bản thân. Nó phải được thực hiện trong sự tiết chế và chánh niệm tỉnh giác.

Hơn nữa, vị Tỷ-kheo phải dùng chiếc giường khiêm tốn nhất và các thứ đồ đạc chỉ vừa đủ theo nhu cầu cần thiết. Vị ấy không còn được sử dụng các loại giường, đồ đạc sang trọng. Vị ấy phải, như một qui định về sự khiêm tốn và giản dị được mô tả trong Giới Luật (Vinaya), dùng đệm mây, cỏ hoặc miếng da vuông để lót ngồi. Với mục đích trú ngụ, bóng mát của cây cối được khuyến khích dùng làm nơi nghỉ hoặc nơi hành thiền.

Đối với thuốc men, vị Tỷ-kheo phải dùng loại dược thảo chế biến tự nhiên. Tất nhiên, cũng có các ngoại lệ nhất định cho tứ vật dụng. Tuy nhiên, cách thức và lề lối mà vị Tỷ-kheo sử dụng cho tứ vật dụng như y phục, thực phẩm và chỗ ở, thuốc men đều rất khác với một cư sĩ. Sự thay đổi này là để thực hành Giới hạnh của một bậc tu hành vì vậy Đức Phật đã dạy ta phải thường xuyên quán xét sự thay đổi này.

Những bậc thiện nhân làm theo lời dạy của Đức Phật là Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Mục-kiền-liên, Tôn giả Mahā Kassapa và vô số các vị đệ tử khác của Đức Phật. Hầu hết họ đều xuất thân từ những gia đình giàu sang quyền quý.

Tinh Thần Khiêm Tốn Mẫu Mực của Tôn Giả Xá-lợi-phất

Giữa các vị đệ tử của Đức Phật, một ví dụ về Tôn giả Xá-lợi-phất rất đáng được nhắc tới ở đây. Ngài là con trong một gia đình giàu sang. Vào những giây phút cuối của cuộc đời, ngài đã trở về nhà mẹ ruột của Ngài để nhập Vô Dư Niết-bàn cũng vào ban đêm ngay tại phòng nơi mà Ngài đã được sinh ra. Mục đích của Ngài là để giúp mẹ là bà Rūpa Sari, có thể chứng ngộ Pháp trước khi Ngài nhập diệt Niết-bàn. Sau khi nghe một bài Pháp của ngài Tôn giả Xá-lợi-phất, bà đã chứng đắc tầng thánh giác ngộ đầu tiên và trở thành bậc Tu-đà-hoàn (Sotāpanna). Đây cũng là món quà từ biệt mẹ của Ngài và thể hiện lòng tri ân đặc biệt sâu sắc của Ngài đối với mẹ trong những giây phút cuối của đời mình.

Thực hiện xong thiện sự đó, Tôn giả Xá-lợi-phất đã qua đời và nhập diệt Niết-bàn tại đó. Mẹ của Ngài là bà Rūpa Sari đã phát triển được niềm tin mới và hết lòng phục vụ Pháp Bảo. Vì thế, như được biết, bà đã sắp xếp lễ tang và lễ hỏa táng cho Ngài Tôn giả Xá-lợi-phất bằng cách sử dụng thật sự có ý nghĩa số của cải của bà.

Sau khi thân xác Ngài hoàn toàn bị thiêu cháy, một trong những hiện tượng kỳ diệu là di cốt của bậc giác ngộ, đặc biệt là xương đã biến thành các hạt có nhiều cỡ khác nhau được gọi là xá lợi. Ngoài tro cốt của Ngài ra, nhiều xá lợi đã được tìm thấy tại nơi hỏa thiêu ngài Xá-lợi-phất. Tôn giả Cunda, người em của Ngài Xá-lợi-phất, đã mang xá lợi của Ngài về Kỳ Viên Tinh Xá (Jetavana) tại thành Xá-vệ (Sāvatthi) và dâng lên Đức Phật khi Ngài ngự tại đó.

Tại đây, thật là đặc biệt khi nhắc về Tôn giả Xá-lợi-phất, mặc dù là con của một gia đình giàu có, Ngài đã từ bỏ tiện nghi vật chất và các dục lạc thế gian để bước vào cuộc đời Phạm Hạnh. Đức Bổn Sư đặt vuông vải lọc chứa xá lợi của Ðại Ðức Xá-lợi-phất trên tay và khen ngợi đức hạnh cao quý của Tôn giả Xá-lợi-phất trước mặt Tăng chúng với bài kệ như sau:

Là bậc xuất gia trải qua

tổng cộng năm trăm kiếp chán ngán ngũ trần,

mọi thú vui thế gian đều buông bỏ,

không gì quyến rũ được người.

Hãy kính cẩn nghiêng mình,

vị lục căn hoàn toàn thanh tịnh

mọi phiền não vắng lặng

một bậc Thánh giác ngộ.

Vững chãi như đất,

không hề chao động

Không chút hành xử lệch lạc

dù là tốc hành tâm nhỏ

sự nhẫn nại vô cùng mạnh mẽ.

Sân hận hoàn toàn vắng bặt.

Lòng từ bi thương xót mọi chúng sanh

Nay vị ấy đã nhập diệt

An tịnh Niết-bàn

Hãy kính cẩn nghiêng mình

Từ biệt con người đáng kính.

Khiêm cung như con kẻ bần cùng, đến đô thị này,

Với bát tre khất thực qua ngày,

Đức hạnh khiêm cung sáng ngời,

Hỡi, Xá-lợi-phất đại khiêm cung,

Một đời Thánh nhân không cấu nhiễm,

Hãy kính cẩn nghiêng mình từ biệt,

một bậc Thánh

Giờ đây đã bước vào cõi an tịch tịnh

Như con bò đực gãy sừng,

Đó đây trong rừng hoặc đô thị náo nhiệt,

Chưa bao giờ tổn hại đến ai,

Cũng như Xá-lợi-phất,

Không phương hại chúng sanh nào,

Hãy kính cẩn nghiêng mình chào,

một bậc Thánh

Giờ đây đã bước vào cõi an tịch tịnh.

Nói về cuộc đời của Ngài Xá-lợi-phất, Đức Phật đã nói ra những lời tán thán chưa từng có cho một vị đệ tử. Đức Phật đã hết sức tán dương tất cả các khía cạnh nổi bật của một vị thánh giác ngộ. Cuộc đời ngài là một ví dụ sống động hiện thân cho sự hy sinh bền bỉ, sự giải thoát nội tâm hoàn hảo, và tính kiên nhẫn vĩ đại, một đức hạnh trong sạch, trí tuệ, từ bi và khiêm cung. Ngài còn là một tấm gương hoàn hảo mà tất cả chúng ta nên phấn đấu noi theo. Thật là kỳ diệu khi Tôn giả Xá-lợi-phất đã xuất gia không phải trong kiếp này mà còn trong nhiều kiếp trước tổng cộng là năm trăm kiếp. Trong các kiếp này, ngài đã từ bỏ một cách cương quyết và hoàn toàn sống tách rời khỏi thế giới ngũ dục và sở hữu vật chất đã kềm giữ ngài trong suốt các kiếp sanh tử luân hồi. Thực sự, hoàn toàn nổi bật hơn hẳn trong số các đại đệ tử kiệt xuất của Đức Phật là vị Đại đệ tử lỗi lạc Tôn giả Xá-lợi-phất.

Sau khi trở thành vị Tỷ-kheo, ngài đã giác ngộ hoàn toàn vào lúc ngài chứng đắc A-la-hán Đạo và A-la-hán Quả, nhổ tận gốc rễ mọi phiền não và các ô nhiễm trong tâm, ngài đã hoàn toàn đạt đến sự an tịnh và giải thoát. Từ sự chứng ngộ đó, một số tâm khởi lên như trí tuệ và sự điềm tĩnh v..v. Lúc đó, không còn tham ái, ghét bỏ hay si mê nơi ngài, tâm của ngài tràn đầy sự định tĩnh, an lành. Kết quả là sau đó, có sự sanh khởi của năng lực xả và kham nhẫn được gọi là Đức Hạnh nhẫn nại (Adhivāsana Khanti). Hạnh nhẫn nại của Ngài giống như mặt đất vĩ đại mà tất cả các loài, lớn, nhỏ, hữu tình hoặc vô tình đều có thể hiện hữu trên đó. Một cách tự nhiên, đất, ngay cả khi vật tịnh hay bất tịnh như phẩn uế quăng liệng trên đất, nhưng đất không bao giờ phản ứng lại. Tương tự như vậy, tâm của ngài Xá-lợi-phất vô cùng kiên định và không hề chao động bởi bất kỳ đối tượng nào tiếp xúc lục căn.

Thông thường với hành vi người đời là bị sai khiến bởi dục vọng và nhiều xúc cảm khác nhau. Tôn giả Xá-lợi-phất đã không bao giờ chạy theo ý thích bất chợt nảy sinh. Ngài chỉ làm những điều thích hợp, thiện lành và cần thiết. Ngài tránh xa những việc làm bất thiện và không cần thiết. Ngài chỉ nói khi cần nói, và dùng các lời thiện lành, hữu ích và cần thiết. Ngài không bao giờ nói ra những điều không cần thiết dù chỉ là một lời. Luôn giữ chánh niệm, ngài không bao giờ để các tâm lan man và bất thiện sanh khởi. Trong suốt cuộc đời của ngài, không có trường hợp nào ngài làm điều bất cẩn hay lôi thôi. Sau đây là một số sự điều nổi bật của Đại đức Xá-lợi-phất.

Khi Ngài đắc thiền Tâm Từ, trong tầng thiền ngài đã rải tâm từ cho tất cả các chúng sanh các loài. Không chỉ với thiện chí và lòng trắc ẩn, ngài còn bảo vệ và làm những điều tốt nhất cho những ai mà ngài đi ngang qua. Hành động và thiện ý của ngài luôn bổ sung cho nhau.

Nói về sự khiêm cung của Ngài Xá-lợi-phất, Đức Phật đã ví sự khiêm cung đó giống như đứa con của kẻ bần cùng hạ tiện. Chúng ta hãy quan sát gần hơn đứa con của kẻ nghèo khổ đi vào đô thị khất thực. Một đứa con trai của kẻ bần cùng, vì đời sống khốn khó, sống một cuộc đời không đủ ăn, không có chỗ nương thân theo nghĩa được gọi là mái nhà. Ngay cả cái bát người đó dùng cũng làm bằng tre. Tuyệt nhiên không một chút kiêu căng ngã mạn gợn lên trong tâm người đó, vì người đó không hề sở hữu một cái gì để có thể tự hào, tự mãn. Người đó chỉ đơn giản hiểu rằng nếu mình trông có vẻ kiêu căng ngã mạn hay nóng nảy thì sẽ không ai bố thí thức ăn hay vật dụng mà mình cần thế thôi.

Như đã đề cập trên, Tôn giả Xá-lợi-phất, mặc dù là con trai của một gia đình giàu có, nhưng Ngài luôn nhu thuận và khiêm nhường. Từ khi bước vào đời sống xuất gia, ngài sống khiêm hạ, nhẹ nhàng như con trai của một kẻ bần cùng nghèo khó. Ngay cả khi ngài đi bát, dáng vẻ ngài toát lên sự khiêm hạ tột cùng. Theo cách tương tự, những ai đã bước vào đời sống xuất gia thì cần phải học tập thái độ thánh thiện và cách sống tốt đẹp như ngài Xá-lợi-phất. Đây là điều mà Đức Phật muốn nhấn mạnh đối với tất cả các Tỳ-kheo.

Hơn nữa, Đức Phật đã lấy ví dụ con bò đực gãy sừng. Như con bò gãy sừng khi nó đi đó đây trong khu rừng và đồng ruộng, hoặc làng mạc hay đô thị không làm tổn hại đến bất cứ ai. Tương tự vậy, ngài Xá-lợi-phất với tâm từ và đầy lòng trắc ẩn, không bao giờ làm hại ai, hoặc gây đau khổ, buồn phiền cho bất cứ ai trong cả bốn oai nghi trong suốt cuộc đời của ngài. Vì vậy, Đức Phật đã khuyến khích tất cả các Tỳ-kheo tỏ lòng kính trọng đối với Tôn giả Xá-lợi-phất, người đã bước vào cõi an lạc Niết-bàn, nơi mà tất cả các phiền não bị tận diệt.

Ở đây, tôi muốn nói rằng Đức Phật nhấn mạnh yêu cầu với các vị Tỳ-kheo phải thường xuyên quán xét sự biến đổi thân này khi là một Tỷ-kheo. Điều đó có lợi lạc gì?

Theo giải thích của Chú giải, nếu ai thường xuyên quán xét tiến trình biến đổi của thân và về các thứ sử dụng hằng ngày với tư cách là một vị Tỷ-kheo, mọi sân hận và kiêu căng ngã mạn sẽ theo đó mà dần giảm đi và sẽ diệt trừ hoàn toàn trong tâm.

Thấy trước kết quả tuyệt diệu này, Đức Phật đã dạy tất cả các Tỳ-kheo hãy quán xét điều thứ nhất thật thường xuyên là tiến trình biến đổi về thân rõ rệt khi trở thành một Tỷ-kheo.

Chương 2.
Đời Sống Tu Hành Lệ Thuộc Vào Thí Chủ

Đức Phật dạy “Đời sống của ta lệ thuộc vào sự cúng dường của thí chủ”, vì vậy, Tỷ-kheo phải thường xuyên quán tưởng điều này.

Vì thế, điều thứ hai là quán tưởng về sự nuôi mạng lệ thuộc vào thí chủ. Tại sao phải quán tưởng như vậy?

Quán tưởng như vậy, sẽ giữ cho sự nuôi mạng của vị Tỷ-kheo được trong sạch và sẽ tăng trưởng ý thức trân trọng việc cúng dường vật thực hàng ngày của thí chủ”. Chú giải, q3, tr 313.

Điều quan trọng đối với vị Tỷ-kheo là giữ được Giới hạnh liên quan đến sự nuôi mạng chân chánh (Ājīva pārisuddhi sīla) trong sạch và thanh tịnh. Nếu không, đời sống của vị Tỷ-kheo trở thành vô nghĩa và thậm chí nó sẽ trở ngại cho quá trình tu tập tâm linh của vị ấy.

Vị Tỳ-kheo phải biết quán tưởng thường xuyên “Tôi đang mặc y cúng dường, tôi đang dùng vật thực cúng dường, chỗ tôi đang ở là do thí chủ cúng dường, tôi đang dùng thuốc men cúng dường”. Nhờ sự quán tưởng này, sẽ dần dần giúp cho vị ấy tăng trưởng Giới hạnh Nuôi Mạng Thanh Tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla), giới hạnh của Tỳ-kheo liên hệ đến sự nuôi mạng hàng ngày. Tại sao vậy? Bởi nhờ thường xuyên quán tưởng điều này, vị Tỷ-kheo đó được nhắc nhở luôn giữ gìn đúng giới luật trong Tạng Luật theo lời dạy của Đức Phật. Nó sẽ giúp cho vị ấy tránh được sự tà mạng (micchājīva), là cái mà Đức Phật không cho phép. Với những vị mà ngay cả những ý nghĩ nhỏ nhất của sự quán tưởng cũng không có thì luôn có chiều hướng làm ngược lại với giới luật của đời sống xuất gia. Như một kết quả, họ không giữ được Giới nuôi mạng chân chánh (Ājīva pārisuddhi sīla) trong sạch. Với người biết thường xuyên quán tưởng điều này, thì Giới nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla) của vị ấy sẽ dần trở nên trong sạch. Nếu vị ấy có thể giữ giới này trong sạch, thì Giới (Sīla) của vị ấy sẽ trọn vẹn.

Sáu điều trong Giới Luật Vinaya

Có sáu điều trong Giới Luật (Vinaya) liên quan đến chánh mạng. Ở đây, chúng tôi phải giải thích rằng xuất gia không phải là một nghề liên quan đến việc kiếm sống dựa vào đồng lương hay thu nhập định kỳ. Bằng ý nghĩa của sự nuôi mạng nó ám chỉ rằng một vị tỳ-kheo không tránh khỏi phải nỗ lực để có được các vật dụng hằng ngày. Những điều ghi trong Giới Luật đã được ghi chép trong Kinh điển Pāli bộ Parivāra, bộ Thứ năm của Tạng Luật như sau:

Tội thứ nhất là một trong sáu trọng tội được gọi là Bất cộng trụ (Pārājika). Nó cấm các vị Tỷ-kheo không được nói dối liên quan đến việc chứng đắc tầng thiền (Jhāna), Đạo (Magga) và Quả (Phala), thần thông mà một người có thể đạt được qua tu tập. Một vị Tăng không được phép nói sai sự thật với tác ý không chân thật nhằm gây ấn tượng cho người khác để ông ta nhận được sự kính trọng, sự cúng dường, và sự tận tụy phục vụ của mọi người. Sau khi nói dối như thế, nếu vị Tăng nhận cúng dường theo cách này, thì Giới nuôi mạng Chân Chánh (Ājīva pārisuddhi sīla) sẽ không trong sạch.

Tội Thứ hai gọi là Tăng tàn (Saṅghādisesa). Giới Luật cấm các Tỷ-kheo không được làm mai mối cho người nam hay người nữ cho việc đi đến hôn nhân của họ hoặc bất kỳ sự liên hệ thân mật.

Tội thứ ba là được gọi là Trọng Tội (Thullaccaya). Nó cấm vị Tỷ-kheo nói lời không chân thật về sự chứng đắc của vị Tăng khác đặc biệt là một người bạn để người bạn này nhận được sự kính trọng và cúng dường từ người khác.

Tội thứ tư được gọi là ưng đối trị (Pācittiya). Nó cấm vị Tăng, trừ trường hợp khẩn cấp, để hỏi thức ăn ngon như bơ, bơ lỏng, mật ong, kẹo đường, hoặc thứ gì từ người không phải là ruột thịt mà không được họ thỉnh cầu.

Tội thứ năm gọi là Ưng Phát Lộ (Pāṭidesanīya). Đây là Giới Luật dành cho Tỷ-kheo-ni. Nó cấm Tỷ-kheo-ni không được hỏi vật thực như trên từ người không phải là ruột thịt mà không được họ thỉnh cầu.

Tội thứ sáu gọi là Tác Ác (Dukkaṭa). Nó cấm Tăng, không bệnh thì không được đòi hỏi vật thực bình thường như canh đậu, gạo và các vật dụng cần thiết từ người không phải là ruột thịt mà họ chưa thỉnh cầu.

Nếu một vị Tăng tìm vật thực hay các vật tương tự bằng cách phạm một hay tất cả các tội trên, thì sự nuôi mạng của vị ấy sẽ bị gọi là Tà mạng (Micchājīva), đã nuôi mạng bằng cách làm sai trái và không đúng đắn. Giới hạnh liên quan đến sự nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla) của vị ấy không còn trong sạch nữa.

Sẽ không có tà mạng sai trái nếu vị Tỳ-kheo thường quán tưởng rằng sự sống của ta hoàn toàn lệ thuộc vào sự cúng dường của thí chủ. Vị Tỳ-kheo như thế sẽ luôn tránh khỏi việc tìm kiếm vật thực sai trái.

Trong Bộ Phân tích, bộ thứ hai của tạng Vi Diệu Pháp, kinh điển Pāli, một vài cách sống tà mạng đã bị khiển trách bởi Đức Thế Tôn được mô tả chi tiết như sau. Bất cứ điều gì đòi hỏi theo cách nuôi mạng sai trái đều bị cấm. Một vị Tăng thường xuyên quán tưởng về sự nuôi sống thân mạng lệ thuộc vào sự cúng dường của thí chủ thì sẽ tránh được cách sống tà mạng và các đòi hỏi khác.

Thêm vào đó, Đức Phật đã nói tiếp như sau:

Piṇḍapāto sa apacito hoti” nghĩa là hành động biết tôn trọng và tri ân đối với việc đặt bát bởi tâm rộng lượng cúng dường của thí chủ. Vị Tỷ-kheo sẽ dần có hành động trân trọng và tri ân đối với sự đặt bát cũng như đối với thí chủ cúng dường.

Câu Chuyện về Đại Đức Ayyamitta

Ở điểm này, tôi sẽ kể về vị Tỷ-kheo nổi tiếng tên là Ayyamitta. Câu chuyện xảy ra ở một đảo thời cận đại của nước Sri Lanka. Vị đại đức Tỷ-kheo sống trong hang núi gọi là Kassaka đang miệt mài chuyên tâm hành thiền tại một khu rừng để đi đến Đạo và Quả. Hành động mẫu mực về sự trân trọng và tri ân của ngài đối với việc cúng dường thường được nhắc đến trong các Chú giải Kinh điển Pāli.

Chú giải mô tả ngắn gọn một vị Tỳ-kheo nên quán tưởng theo cách sau:

Các thí chủ cúng dường vật thực và tứ vật dụng này không phải là thân quyến của ta, cũng không phải là đày tớ cho ta, họ cúng dường vật thực ngon và tứ vật dụng cho ta không phải để mong cầu được sống dựa vào ta”

Đức Phật không cho phép nhận tứ vật dụng cho mục đích lợi dưỡng thân xác này, ngoại trừ mục đích duy trì thân mạng”

Thực ra, Đức Phật chỉ cho phép nhận tứ vật dụng và hy vọng rằng nhờ sự thọ dụng này, ta sẽ có thể tiến hành thiền Định và thiền Quán để có thể giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra).

Vì dễ duôi, ta sẽ có những hành động như thiếu trân trọng việc đặt bát cúng dường của thí chủ.

Suy tư về những thí chủ mang vật thực và tứ vật dụng đến cúng dường chư tăng, phục vụ nhu cầu cần thiết hằng ngày. Các thí chủ rộng lượng này chẳng phải là quyến thuộc hay đày tớ, mà cũng chẳng phải sinh kế của họ lệ thuộc vào chư tăng.

Đôi khi có cả những người bố thí cúng dường với tâm hào phóng thật đặc biệt từ sự nhịn ăn, nhịn mặc của mình. Nhờ vào tâm đại lượng, họ mang món ngon nhất, mang cái mặc tốt nhất, đem cái để ở và thuốc men tốt nhất, tất cả để mà cúng dường. Những thí chủ này chỉ có một mong muốn duy nhất trong tâm là: ước nguyện chân thành là tích lũy thật nhiều phước báu từ việc hành thiện này! Đây chính là mục đích duy nhất của thí chủ và không có gì khác ngoài điều này.

Đức Phật cho phép các vị Tỷ-kheo nhận các tứ vật dụng không phải để bồi dưỡng cho mập mạnh, không phải để các Tỷ-kheo sống trên sự xa hoa. Ngài cho phép nhận tứ vật dụng để đáp ứng các nhu cầu cơ bản hằng ngày của một vị Tỷ-kheo để họ có thể chuyên tâm thực hành thiền Định hoặc thiền Tuệ để giải thoát khỏi vòng khổ đau bất tận của luân hồi (saṃsāra).

Người dễ duôi, lười biếng không nỗ lực thực hành tâm linh là vô tình đối với việc làm phước thiện của thí chủ. Chỉ có sự thực hành chuyên tâm mới là sự tôn trọng thí chủ và thể hiện lòng trân trọng việc đặt bát của thí chủ.

Thái độ tôn trọng và lòng biết ơn chỉ có thể có được nơi tâm của hành giả biết dốc sức thực hành ngày đêm. Đức Phật dạy cho chúng ta cách quán tưởng này để thái độ tôn trọng và lòng biết ơn phát triển và theo cách đó sẽ cho sức đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển tâm linh.

Tỷ-kheo Ayyamitta và Gia Đình Tâm Đại Lượng Bố Thí

Có một gia đình gồm người mẹ và cô con gái sống trong một làng gần nơi Đại đức Ayyamitta thường hay đi bát. Mặc dù rất nghèo, nhưng họ luôn cố gắng bằng mọi cách cúng dường những vật dụng cần thiết mỗi ngày cho vị Tỷ-kheo đáng kính như thể ngài là một thành viên trong gia đình, như một người con trai. Một ngày nọ, trước khi ra đồng, người mẹ bảo cô con gái: “Này con, trong nhà còn một ít gạo từ mùa gặt trước, một ít sữa trong bếp, và một ít đường thô và bơ. Con hãy lấy mấy thức đó nấu thành món ăn để cúng dường cho người anh Tỳ-kheo của con. Phần còn lại thì con ăn sau nhé.

Cô con gái hỏi: “Thưa mẹ, còn mẹ sẽ ăn gì? Con sẽ chuẩn bị gì cho mẹ?”. Người mẹ đáp: “Mẹ vừa ăn xong miếng cơm nguội với nước tương”. Cô con gái hỏi tiếp: “Còn buổi trưa mẹ sẽ ăn gì?”. Người mẹ đáp lại: “Buổi trưa, con lấy ít gạo nát và rau nấu món cháo chua cho mẹ nhé.

Đại đức Ayyamitta, khi ấy đang chuẩn bị vào làng đi bát như thường lệ, nghe được cuộc nói chuyện của hai mẹ con bằng thiên nhĩ thông (dibba – sota). Đây là thần thông có năng lực nghe được tiếng nói từ khoảng cách xa.

Khi nghe câu chuyện trên, suy tư chân chánh của Đại đức khởi lên: “Người mẹ rộng lượng này vừa dùng bữa sáng đạm bạc của mình bằng cơm thừa với nước tương. Bây giờ, bà nói rằng bà sẽ dùng cháo chua trộn rau cho bữa trưa của mình. Còn ta, thì bà lại bảo cô con gái cúng dường món ngon nhất được nấu bằng đường, sữa và bơ. Thực ra, bà ấy không hề mong đợi một sự đền đáp nào từ nơi ta như là mảnh đất trồng trọt, vật thực hay y phục. Bà chỉ mong ước từ phước thiện này sẽ có được ba quả là tái sanh làm người, trời hoặc chứng đắc Niết-bàn. Ta có thể cho bà ấy ba thứ này để đền đáp lại được không? Vì ta vẫn chưa hoàn toàn tận diệt tham (rāga), sân (dosa), si (moha), thật chưa chưa xứng đáng cho ta nhận phần để bát của gia đình đại lượng này”.

Nghĩ vậy, Đại đức liền đặt bát của mình trở vào bao và quay về hang. Sau khi cất bát dưới gầm giường và máng y lên, Đại đức ngồi xuống quyết tâm sắt đá hành thiền tinh tấn nỗ lực và quyết sẽ không rời khỏi hang nếu chưa đắc quả A-la-hán, giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ giải thoát.

Quyết định của vị ấy thật tốt đẹp biết bao nhiêu. Với một người như Đại đức Ayyamitta người đã từng hành trì miên mật nhiều năm, nên việc đắc quả A-la-hán là điều tất yếu. Ngay trước giờ ăn trưa, ngay trong thời ngồi đó ngài đã đắc quả vị A-la-hán. Với ánh hào quang của sự an tịnh và trong sạch, vị ấy ngồi trong hang tinh khiết như một đóa hoa sen mới nở.

Nhìn thấy sự kỳ diệu này, một vị thiên ở gần đó đã thốt lời khen ngợi và chúc tụng đến Đại đức: “Hỡi người anh hùng, tôi xin đảnh lễ ngài! Hỡi vị thánh, tôi xin đảnh lễ ngài! Vị Đại đức đã giải thoát khỏi mọi khổ đau! Tất cả lậu hoặc bị cạn khô, Ngài đã trở thành một bậc thánh đáng cung kính và đáng cúng dường”. Sau những lời tán thán này, vị thiên thúc giục:

Do phước báu đặt bát với thiện tâm rộng lượng cúng dường cho một bậc đã giác ngộ như ngài, người phụ nữ lớn tuổi kia sẽ sớm thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra). Xin ngài hãy tiếp tục vào làng đi bát.

Rồi, Đại đức Ayyamitta mang bát vào làng.

Câu chuyện này cho ta thấy rằng nhờ việc quán tưởng đời sống của vị tăng lệ thuộc vào thí chủ sẽ có sự khởi sinh ý thức trách nhiệm trân trọng và đền ơn thí chủ bằng cách nỗ lực tinh tấn hành trì. Hơn nữa, như là kết quả của việc tuân thủ sự quán tưởng này, sẽ không có việc sử dụng tứ vật dụng hời hợt và thiếu quán xét như lời Đức Phật đã dạy.

Bằng cách tuân thủ sự quán tưởng này, nó chẳng những giúp cho vị Tỷ-kheo giữ Giới nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla) trong sạch mà còn giúp giữ Giới quán tưởng tứ vật dụng (Paccayasannissita Sīla) trong sạch. Giới quán tưởng tứ vật dụng (Paccayasannissita Sīla) là giới liên quan đến việc thọ dụng tứ vật dụng. Kính trọng việc đặt bát bằng sự cam kết hành trì sẽ dẫn dắt vị ấy chứng quả A-la-hán. Thực vậy, sự quán tưởng thứ hai cần được tuân thủ bởi người xuất gia.

Chương 3.
Sự Chuyển Hóa Oai Nghi và Phong Cách Cư Xử

Đức Phật dạy rằng quán tưởng thứ ba sẽ phải được thực hiện bởi các Tỷ-kheo như sau:

Là Tỷ-kheo, tôi phải có oai nghi và cách cư xử phù hợp với một bậc xuất gia”. Các Tỷ-kheo phải luôn quán tưởng như thế.

Bất cứ ai đã trở thành Tỷ-kheo thì phải luôn cư xử đúng đắn phù hợp, nó được nói trong chú giải Tăng Chi Bộ Kinh, q3, tr313. Nói chung, cách đi đứng của vị Tỷ-kheo hoàn toàn khác với người thế tục. Thông thường, trong phong cách thoải mái của người thế gian, ngay cả bước chân đôi khi cũng có vẻ nghênh ngang và ngã mạn. Họ còn mang nhiều kiểu tóc đa dạng được nhuộm bằng nhiều màu, trang điểm với đồ trang sức. Từ khi trở thành một bậc xuất gia, vị ấy phải luôn giữ gìn oai nghi nghiêm túc.

Vậy phải đi, đứng như thế nào mới đúng cách?

Một người Tỷ-kheo phải biết oai nghi đi đứng với lục căn thanh tịnh, tâm an lành, mắt nhìn ra phía trước chỉ vài sải chân, bước đều đặn, không quá chậm, cũng không quá nhanh, giống như “chiếc xe bò chở nước đi trên con đường gập ghềnh” nói trong chú giải của Tăng Chi Kinh, q3, tr313

Một Tỷ-kheo, khi đi lại, phải giữ gìn lục căn an tịnh và thăng bằng. Tâm phải luôn giữ ở trạng thái an tịnh bằng cách thực hành thiền Chỉ hoặc thiền Quán như là một trong những thói quen. Làm thế sẽ khiến cho tâm vị ấy luôn an tịnh. Lục căn vị ấy cũng trở nên an tĩnh.

Một chiếc xe bò chở nước đi trên con đường gập ghềnh không nên đi quá nhanh để tránh nước bên trong đổ ra ngoài. Tương tự vậy, một Tỷ-kheo phải sải những bước chân đều đặn.

Lợi ích

Evaṃ Paccavekkhato Hi Iriyāpatho sāruppo Hoti.”

Chú giải Tăng Chi bộ kinh, q3, tr313.

Lời dịch: Bằng cách thực hành đúng đắn giới hạnh này, lục căn của vị Tỷ-kheo sẽ trở nên thanh thản và an bình.

Tisso Sikkhā Paripūrenti.

Chú giải Tăng Chi bộ kinh, q3, tr313.

Lời dịch: Làm như thế sẽ giúp cho sự thực hành tam học Giới, Định, Tuệ. Tại sao vậy?

Lý do thật rõ ràng.

Một vị Tỷ-kheo nỗ lực thực hành tâm linh sẽ không bao giờ có hành động cẩu thả, bất cẩn. Không giống như người khác, vị ấy liên tục giữ chánh niệm tỉnh giác trong mọi hoạt động của vị ấy. Mỗi một bước chân đều là thời khắc thực hành thiền Chỉ hoặc thiền Quán tùy theo sự chọn lựa của vị ấy. Do vậy, mỗi giây phút thực hành của vị ấy sẽ bằng với thời gian thực hiện tam học Giới, Định, Tuệ.

Câu chuyện về Đại đức Mahā Tissa, một hành giả tinh tấn

Đây là một ví dụ đáng lưu ý về Đại đức Mahā Tisssa người đã sống trên một ngọn núi tên là Cetiya. Vào một ngày nọ, trong khi đang trên đường đi bát, vị ấy nghe tiếng cười rúc rích của một người phụ nữ. Vị ấy liền lấy răng của cô ta làm đề mục thiền bộ xương (aṭṭhi kamaṭṭhāna) và tiếp tục đi bát trên con đường dẫn vào thành phố cổ Anurudhā của Sri Lanka. Oai nghi của vị ấy rất an tịnh vì tâm vị ấy bám vào đề mục thiền bộ xương. Và lần nữa, ở trong thành phố, vị ấy lại nghe tiếng cười lớn của một người phụ nữ. Lấy răng cô ta làm đối tượng thiền, vị ấy tiếp tục hành thiền. Tức thì ngay lúc đó, toàn bộ hình dáng của người phụ nữ biến thành bộ xương dưới mắt nhìn của vị Tỳ-kheo.

Tại sao vị ấy lại thực hành thành công đề mục thiền bộ xương?

Bởi, vào lúc nghe tiếng cười của người phụ nữ đó, vị ấy có thể ngay tức khắc lấy lại định tâm hành thiền bộ xương bằng cách lấy răng của cô ta để làm đề mục thiền. Hơn nữa, vị ấy tiến hành thực hành đề mục bộ xương cả bên trong (trong chính bản thân vị ấy) lẫn bên ngoài (hình dáng người phụ nữ ấy). Dựa vào sự hành thiền này, vị Tỷ-kheo đã thành tựu một mức định tâm vững chắc của sơ thiền.

Dựa vào sơ thiền, vị ấy thực hành thiền minh sát bằng cách quán xét tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của Danh Sắc cùng với nhân và quả Danh Sắc. Vì những lý do này, vị Thánh Tăng đã tích cực theo đuổi việc thực hành thiền định, đã có thể tập trung vào khía cạnh bất tịnh của bộ xương và thành tựu quả vị A-la-hán bằng cách tiếp tục thực hành thiền Minh sát dựa trên nền tảng sơ thiền.

Vì thế, trong mỗi bước chân, vị ấy liên tục thực hành Tam học Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Ở đây, người ta có thể cho rằng vị ấy đã chứng đắc Đạo Quả chỉ trong nháy mắt. Nhưng sự thực, vị Đại đức Tỷ-kheo này đã thực hành thiền Vipassanā suốt cả đời nhưng chưa đắc được Đạo – Quả và Niết-bàn. Vị ấy phải đợi đến khi Tuệ minh sát chín muồi sẵn sàng cho việc chứng đắc Niết-bàn. Khi Tuệ minh sát đã hoàn toàn chín mùi, giây phút mà vị ấy hành thiền minh sát bằng cách quán xét tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của tất cả các pháp hữu vi của thân và tâm, vị ấy có thể dễ dàng chứng đắc Đạo (Magga), Quả (Phala) và Niết-bàn (Nibbāna).

Tại sao vậy? Bởi, vị ấy thực hành thiền Vipassanā bằng cách tập trung quán sát Tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của các hành mà nó được hiểu như Khổ đế và Tập đế từ rất lâu. Để có thể bổ sung cho việc thực hành Tam vô lậu Học, Đức Phật đã dạy phải Quán tưởng về sự thay đổi tướng mạo và oai nghi của vị Tỷ-kheo.

Hướng Dẫn Về Sự Cải Hóa

Ngoài ra còn có các cải hóa khác đòi hỏi các vị Tỳ-kheo phải thực hành, đặc biệt là vấn đề có thái độ thiện tâm. Đức Phật đã dạy các ví dụ mẫu mực về phẩm hạnh cho Đại đức Cunda trong bài thuyết giảng sau đây:

Này Cunda, ta tuyên bố rằng ngay chỉ một tâm thiện đối với điều thiện là đã lợi lạc to lớn, huống chi các hành động thiện được thực hiện bằng thân hành hoặc khẩu hành”.

Ở đây, chúng ta cần phải làm rõ điều thiện và việc hành thiện. Những lời dạy sau đây của Đức Phật với Đại đức Cunda là giải thích rõ ràng về các phẩm chất thiện cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

“Do đó, này Cunda, như vậy ngươi hãy tu dưỡng tất cả các thái độ thiện:

  1. ‘Những kẻ khác có thể là những người làm hại, chúng ta ở đây dùng từ bi và không sân độc để đáp lại’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. ‘Những kẻ khác có thể sát sanh, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ sát sanh’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  3. ‘Những kẻ khác có thể trộm cắp, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ trộm cắp’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  4. ‘Những kẻ khác có thể không phạm hạnh, chúng ta ở đây sẽ sống phạm hạnh’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.”
  5. “Những kẻ khác có thể nói dối, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói dối”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  6. “Những kẻ khác có thể nói hai lưỡi, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói hai lưỡi” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  7. “Những kẻ khác có thể nói lời độc ác, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời độc ác” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  8. “Những kẻ khác có thể nói lời phù phiếm, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời phù phiếm”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
Bốn lời dạy trên của Đức Phật nhằm cải thiện thân hành.

Bốn lời dạy trên của Đức Phật nhằm hướng cho vị Tỷ-kheo biết cách làm thế nào để cải thiện khẩu hành. Sẽ không có sự khác biệt giữa một người thế tục và một vị bước vào đời sống xuất gia như Tỷ-kheo hay Tu nữ, nếu thân hành và khẩu hành của những vị ấy không trong sạch. Nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô lỗ, nói lời vô ích chỉ là lối sống bắt chước thế gian. Từ lúc trở thành một bậc xuất gia vị ấy phải luôn nói lời chân thật, thân thiện, lễ độ có thể làm tăng trưởng hành động thiện như bố thí, trì giới, Tham thiền (thiền Định hoặc thiền Quán). Một vị Tỷ-kheo nên nói đúng thời, đúng lúc những lời lợi ích dẫn tới nghiệp thiện.

Ngoài ra, Đức Phật còn dạy cách cải hóa ý hành như sau:

  1. “Những kẻ khác có thể tham dục, chúng ta ở đây sẽ không tham dục” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. “Những kẻ khác có thể có sân tâm, chúng ta ở đây sẽ không có sân tâm” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  3. “Những kẻ khác có thể có tà kiến, chúng ta ở đây sẽ có chánh kiến” thái độ thiện như thế cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  4. “Những kẻ khác có thể có tà tư duy, chúng ta ở đây sẽ có chánh tư duy”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  5. “Những kẻ khác có thể có tà ngữ, chúng ta ở đây sẽ có chánh ngữ”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  6. “Những kẻ khác có thể có tà nghiệp, chúng ta ở đây sẽ có chánh nghiệp”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  7. “Những kẻ khác có thể có tà mạng, chúng ta ở đây sẽ có chánh mạng”, thái độ thiện này phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  8. “Những kẻ khác có thể có tà tinh tấn, chúng ta ở đây sẽ có chánh tinh tấn”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  9. “Những kẻ khác có thể có tà niệm, chúng ta ở đây sẽ có chánh niệm”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

10.  “Những kẻ khác có thể có tà định, chúng ta ở đây sẽ có chánh định”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Ghi chú: Lời dạy từ 11 đến 18 là thuộc Bát Chánh Đạo

  1. “Những kẻ khác có thể có tà trí, chúng ta ở đây sẽ có chánh trí”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Ở đây, tà trí liên quan đến sự hiểu biết về phương pháp, cách thức thực hành các việc bất thiện. Nó ám chỉ sự phản chiếu của trí tuệ về việc bất thiện mà người đó đã thực hiện. Ngược lại, chánh trí nghĩa là 19 Tuệ phản khán sanh khởi trong tâm của vị thánh ngay giây phút giác ngộ. Để hiểu được 19 Tuệ phản khán là gì, ta cần phải biết 5 tuệ phản khán và bốn bậc thánh.

Có năm Tuệ phản khán:

  1. Xét lại Đạo Tuệ mà vị ấy đã đạt được.
  2. Xét lại Quả Tuệ mà vị ấy đã đạt được.
  3. Xét lại trạng thái an tịnh Niết-bàn mà vị ấy đã an hưởng.
  4. Xét lại các phiền não đã bị tiêu diệt sau khi đã chứng ngộ.
  5. Xét lại phiền não còn dư sót mà vị ấy chưa diệt trừ hoàn toàn.

Có bốn bậc thánh:

  1. Tu-đà-hoàn (Sotāpatti): là vị đã chứng giai đoạn đầu của sự giác ngộ.
  2. Tư-đà-hàm (Sakadāgāmi): là vị đã chứng đắc giai đoạn hai của sự giác ngộ.
  3. A-na-hàm (Anāgāmi): là vị đã chứng đắc giai đoạn ba của sự giác ngộ.
  4. A-la-hán (Arahatta): là vị đã chứng đắc giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ.

Theo tự nhiên, có năm sát-na tâm của Tuệ phản khán thường khởi lên trong tâm của ba bậc thánh đầu tiên, ngay lập tức sau khi giác ngộ. Tuy nhiên, khi đắc được tầng thánh thứ tư chỉ có bốn sát-na tâm của Tuệ phản khán vì vị ấy đã tận diệt hoàn toàn phiền não không còn dư sót. Do vậy, có tất cả 19 tuệ phản khán khởi lên trong tâm của bốn bậc thánh. Chánh trí có nghĩa là 19 phản khán trí. Tất cả những bậc thánh nào có 19 tuệ phản khán được gọi là Sammāñāṇī có nghĩa là người có chánh trí.

Đức Phật giảng thêm rằng:

  1. “Những kẻ khác có thể có tà giải thoát, chúng ta ở đây sẽ có chánh giải thoát”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
Chánh Giải Thoát (Sammā Vimutti)

Ở đây cần phải giải thích thế nào là Chánh Giải Thoát (Sammā Vimutti). Đó là trạng thái phát triển của một tâm hoàn thiện chứng đạt được qua sự giác ngộ và diệt tận hoàn toàn mọi phiền não theo Bát Chánh Đạo. Một khi một vị Thánh chứng đắc giai đoạn cuối cùng của sự Giác Ngộ, vị ấy hoàn toàn chiến thắng và giải thoát khỏi sự khổ đau vô tận trong vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra). Đấy là Chánh Giải Thoát. Tà Giải thoát (Micchā Vimutti) là khái niệm và lòng tin của những người đã chọn con đường giải thoát tâm linh sai lầm như thực hành theo kiểu bò và kiểu chó vào thời Đức Phật thuở xưa. Họ cho rằng việc thực hành tâm linh bằng cách sống tự nhiên như bò hay chó là phương cách có thể giải thoát con người khỏi vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra). Theo bản chất của chân lý tối thượng, tà giải thoát liên hệ đến ngũ thủ uẩn bất thiện (akusala khandhās). Trong khi chánh giải thoát mang nghĩa là Danh uẩn thiện đồng sanh với Thánh Quả Tuệ (Thánh Quả Tâm) (Ariya Phala Citta).

“Để tránh tà giải thoát (Micchā Vimutti), ta sẽ cố gắng đạt Chánh Giải Thoát bằng cách chứng đắc Thánh Quả Tuệ (Ariya Phala)”, thái độ và quyết tâm này cần được phát triển ở vị Tỷ-kheo. Làm thế nào để đạt được điều ấy?

Bằng việc thực hành viên mãn Bát Chánh Đạo.

Do đó, bắt buộc vị Tỷ-kheo phải phát triển một thái độ chân chánh thực hành viên mãn Bát Chánh Đạo.

Bát Chánh Đạo

Ở đây, ta sẽ bàn về lợi ích của việc thực hành Bát Chánh Đạo.

Về cơ bản, Bát Chánh Đạo được chia làm hai loại: Hiệp Thế và Siêu Thế. Lại nữa, Bát Chánh Đạo Hiệp Thế được chia làm hai: Bát Chánh Đạo thiền Định và Bát Chánh Đạo thiền Tuệ.

Ghi chú: Bát Chánh Đạo được hoàn thành trước và trong khi thực hành thiền Định là Bát Chánh Đạo thiền Định, trong khi các đạo này được thực hành trong quá trình thiền Vipassanā là Bát Chánh Đạo thiền Vipassanā.

Bát Chánh Đạo Thiền Định Và Làm Thế Nào Chúng Xảy Ra

Chúng ta hãy nói về Bát Chánh Đạo thiền Định. Đầu tiên một hành giả có triển vọng (yogāvacara) phải hoàn mãn ba chi phần của Giới học: chánh ngữ bằng cách ngăn ngừa bốn loại tà ngữ, chánh nghiệp bằng cách ngăn ngừa ba loại hành bất thiện và chánh mạng bằng cách ngăn ngừa nuôi mạng bất chính.

Sau khi thiết lập vững chắc ba chi đạo của Giới học, vị ấy phải tiến hành ba chi đạo về Định. Đầu tiên, phải thực hành Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyama), Chánh Niệm (Sammā Sati) và Chánh Định (Sammā Samādhi). Ví dụ một thiền sinh chọn hành thiền theo đề mục Kasiṇa, thiết lập nỗ lực cần thiết vào việc thực hành bằng cách tập trung trên đối tượng Kasiṇa và nỗ lực liên tục thực hành tiến bộ gọi là Chánh Tinh Tấn. Giữ tâm và tác ý vững chắc trên đối tượng Kasiṇa là Chánh Niệm. Khi giữ tâm hoàn toàn định sâu vào đối tượng Nimitta của Kasiṇa, nó có thể được gọi là Chánh Định. Theo cách này ba chi về Định đã hoàn thành.

Trạng thái tâm của thiền sinh lúc đó hoàn toàn thấy rõ và thể nhập vào đối tượng Nimitta Kasiṇa được hiểu là Chánh Kiến trong chi Thiền (Jhāna Sammā Diṭṭhi). Việc hướng tâm đến đối tượng Kasiṇa là Chánh Tư Duy (Sammā Saṅkappa). Cả hai Chánh Kiến và Chánh Tư Duy là hai chi đạo về Tuệ. Vì vậy ba chi đạo về Giới (Sīla Maggaṅga), ba chi đạo về Định (Samādhi Maggaṅga) và hai chi đạo về Tuệ (Pañña Maggaṅga) kết hợp với nhau thành Bát Chánh Đạo của thiền Định (Samādhi).

Nếu một thiền sinh chọn đề mục thiền Tứ Đại (Dhātu Kammaṭṭhāna) ở đó Bát Chánh Đạo được thực hành như sau.

Đầu tiên thực hành ba chi đạo về Giới (Sīla Maggaṅga) chính là giai đoạn khởi đầu của việc thực hành. Đặt chân vững chắc trên đất Giới, vị ấy phải an thân trên nền “đá (định)” vững chắc của ba chi đạo về Định nơi mà hành giả sau đó sẽ mài bén con dao tuệ tức chi Đạo về Tuệ (Pañña Maggaṅga).

Một lần nữa, tôi sẽ giải thích rõ làm thế nào một số Thánh Đạo được tự động kết hợp trong thực hành thiền Định.

  1. Thể nhập và hiểu thấu đáo đối tượng Tứ đại bao gồm sự thấu hiểu các đặc tính của mỗi đại được gọi là Chánh Kiến chi Đạo (Sammā Diṭṭhi Maggaṅga).
  2. Duy trì sự hướng tâm nhận thức đặc tính của đối tượng Tứ Đại được gọi là Chánh Tư Duy chi Đạo (Sammā Saṅkappa Maggaṅga).
  3. Nỗ lực thực hành liên tục để phát triển nội lực quán xét về bản chất tối hậu của Tứ Đại chính là Chánh Tinh Tấn chi Đạo (Sammā Vāyāma Maggaṅga).
  4. An trú trên đối tượng Tứ Đại gọi là Chánh Niệm chi Đạo (Sammā Sati Maggaṅga).
  5. Có thể giữ định tâm vững chắc trên Tứ Đại và phát triển định tâm một cách vững vàng là Chánh Định chi Đạo (Sammā Samādhi Maggaṅga).

Tất cả năm chi Đạo đề cập trên cùng với ba chi Đạo ban đầu về Giới tạo thành Bát Chánh Đạo của thiền Định.

Bát Thánh Đạo của Thiền Vipassanā

Bây giờ, ta hãy nói về Bát Thánh Đạo thiền Vipassanā khởi lên trong tâm của hành giả khi thực hành thiền Vipassanā.

Trong một bài thuyết giảng nổi tiếng là kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta), Đức Phật đã xếp nhóm Chánh Kiến vào Tứ Thánh Đế như sau:

  1. Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Khổ đế (Dukkha Sacca) (Thánh đế về Khổ).
  2. Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Tập Đế (Samudaya Sacca) (Thánh đế về nguyên nhân của Khổ).
  3. Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Diệt Đế (Nirodha Sacca) (Thánh đế về Diệt Khổ)
  4. Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Đạo Đế (Magga Sacca) (Thánh đế về con đường dẫn tới diệt Khổ).

Vì vậy có bốn loại Chánh Kiến, một cho mỗi thánh Đế. Theo chú giải của kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta), Đạo Đế (Bát Chánh Đạo) được mô tả trong kinh Đại Niệm Xứ là Đạo Hiệp thế, còn gọi là Pubbabāga Satipaṭṭhāna Magga – Thánh Đạo dẫn nhập của thiền Niệm xứ bởi nó phải được viên mãn trước khi chứng đắc các Thánh Đạo Ariya Magga (các đạo Siêu thế) ở đây tôi sẽ giải thích tóm tắt về Tứ Thánh Đế.

KHỔ ĐẾ (Dukkha Sacca)

Trong nhiều bài pháp gồm có Kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta), Đức Phật đã tóm tắt Thánh Đế về Khổ chính là ngũ thủ uẩn (Upādānakkhanda) hình thành là do duyên ái và thủ. Chúng là Sắc thủ uẩn (Rūpupādānakkhandha), Thọ thủ uẩn (Vedanupādānakkhandha), Tưởng thủ uẩn (Saññupādānakkhandha), Hành thủ uẩn (Saṅkhārupādānakkhandha), Thức thủ uẩn (Viññānupādānakkhandha) nơi mà tham ái, chấp thủ chính là nguồn gốc của Khổ, Đức Phật đã giải thích rõ ràng như vậy.

Sắc thủ uẩn (Rūpupādānakkhandha) được hình thành bởi tham ái và ngã chấp, nó có mười một yếu tố như quá khứ, tương lai, hiện tại, trong hoặc ngoài, thô hoặc tế, xấu hoặc đẹp, xa hoặc gần. Bất cứ sắc nào chứa đựng bất kỳ khía cạnh nào trong mười một yếu tố nói trên đều được gọi là Sắc thủ uẩn (Rūpupādānakkhandhā) theo Uẩn Kinh (Tương Ưng Kinh, bộ 2, tr 39). Tương tự như vậy đối với bốn uẩn còn lại. Do đó, Ngũ thủ uẩn với mười một phẩm chất gọi là Khổ Thánh đế (Dukkha Sacca).

Ghi chú: từ “Dukkha” của tiếng Pāli được dịch là Khổ đau chưa chuyển tải hết ý nghĩa muốn nói đến. Vì thế tốt nhất chúng ta hãy sử dụng từ gốc Pāli “Dukkha” trong khi thuyết giảng.

TẬP ĐẾ (Samudaya Sacca)

Đức Phật đã giải thích Tập đế (nguyên nhân của Khổ (Dukkha)) theo năm cách của Bộ Phân tích về Đế (Sacca Vibhaṅga Text) (Abhidhamma Pitaka – Tạng Vi diệu pháp, q.2, tr 112-115) như sau:

  1. Tham được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca) (Tạng Vi diệu pháp q2, tr112)
  2. Tham cùng với các tâm ô nhiễm cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca).
  3. Tham, tất cả tâm ô nhiễm cùng các tâm sở bất thiện cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca)
  4. Tham, tất cả tâm ô nhiễm, tâm sở bất thiện cùng với ba nhân thiện là vô tham (alobha), vô sân (adosa), vô si (amoha) hay minh mà là các đối tượng của lậu hoặc (Āsava) cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca). (Tạng Vi diệu pháp, II, tr114)
  5. Ba nhân thiện như vô tham (Alobha), vô sân (Adosa), vô si hay minh hoặc trí tuệ (Amoha) và các tâm sở thiện (kusala) mà là đối tượng của lậu hoặc (Āsava) bao gồm tham ái và các tâm ô nhiễm khác cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca) (Tạng Vi diệu pháp, II, tr 114).

Liên hệ với phần giải thích mở rộng, chú giải có khái quát tóm tắt các Nghiệp thiện hiệp thế và Nghiệp bất thiện cũng được bao gồm trong Tập đế (Samudaya Sacca).

Trong Tăng Chi Bộ Kinh, bài thuyết giảng tựa đề Nguồn gốc của Tà kiến (Titthāyatana Sutta). Đức Phật đã mô tả tất cả các hành (tâm hành) (saṅkhāra) dù thiện hay bất thiện cũng được xếp vào Tập đế.

Theo quan điểm xếp loại mở rộng của Tập đế, tất cả Nghiệp thiện và Nghiệp bất thiện được thực hiện trên nền tảng vô minh (avijjā), tham ái (taṇhā), thủ (upādāna) (chấp thủ) được gọi là Tập Đế. Trí Tuệ và sự thấu hiểu về Tập đế được gọi là Chánh kiến.

Ghi chú: ngay cả các nhân thiện, tâm sở thiện, và nghiệp thiện (Kammas) đều được xếp vào loại Tập đế, bởi vì chúng cũng có thể dẫn tới ngũ uẩn mới trong vô số các kiếp sống tương lai qua đó tạo thành các vòng khổ đau (Dukkha) triền miên.

DIỆT ĐẾ (Nirodha Sacca)

Về Diệt đế (Nirodha Sacca), tôi sẽ giảng giải về đối tượng của Tuệ Vipassanā (Vipassanā ñāṇa). Trong bài kinh Nguồn gốc của Tà kiến (Titthāyatana Sutta) đã đề cập ở trên, Đức Phật đã nói “avijjāya tweva asesavirāganirodha saṅkhāranirodho” nghĩa là “Do vô minh (avijjā) diệt, hành diệt”(Tăng Chi Kinh, I, tr 178)

Vì vậy một hành giả phải cố gắng phát triển Tuệ Minh Sát để có thể hiểu rõ các pháp hữu vi (danh – sắc) diệt như thế nào.

Sự Diệt Tận Hoàn Toàn (Sự Vô Sanh) (Anuppāda Nirodha)

Liên quan tới tiến trình này, chú giải Thanh Tịnh Đạo giải thích như sau:

Paccayato vayadassanena Nirodhasaccaṃ pākaṭaṃ hoti, paccayanuppadena paccayavataṃ anuppādavabhodhato

(Chú giải Thanh Tịnh Đạo, q 2, tr 267)

Lời dịch: Một khi hành giả đã thực hành thiền Vipassanā đến giai đoạn Tuệ Sanh Diệt (Udayavaya ñāṇa) sẽ thấy rõ ràng sự sanh diệt của danh sắc. Vào lúc này, Diệt đế (Sự thật của sự diệt) trở nên rõ ràng đối với vị ấy. Tại sao?

Bởi vì, khi các nhân như Vô minh (avijjā), Tham ái (taṇhā), Chấp thủ (upādāna), Hành (Saṅkhāra), Nghiệp (kamma) diệt khiến cho ngũ uẩn, là quả của các nhân này, cũng bị diệt. Khi tới giai đoạn này hành giả sẽ thấy rõ tiến trình diệt như vậy.

Khi nào thì các nhân như vô minh (avijjā)… bị diệt tận hoàn toàn? Phụ chú giải của Bộ Thanh tịnh đạo đã nói như sau:

Một khi hành giả chứng đắc Tuệ Đạo A-la-hán (Tuệ Đạo của giai đoạn giác ngộ thứ tư), tất cả các nhân phiền não của Khổ đều bị diệt tận bởi trạng thái tịch tịnh tối thượng, là trạng thái vô vi Niết-bàn. Do vậy, các nhân của Khổ sẽ bị tận diệt hoàn toàn, không bao giờ trở lại trong tâm của một vị chứng đắc giai đoạn giác ngộ thứ tư, giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ. Sự diệt tận này gọi là Sự diệt tận hoàn toàn (sự vô sanh) (Anuppāda Nirodha).

Ở đây, thực vậy, Thánh Đạo A-la-hán, giai đoạn giác ngộ thứ tư và là giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ trực tiếp tận diệt hoàn toàn ba nhân Vô minh (Avijjā), Tham ái (Taṇhā) và Chấp thủ (Upādāna).

Còn lại hai nhân là Hành (Saṅkhāra) và Nghiệp (Kamma), chỉ khi nào có ba nhân trên hỗ trợ thì mới có khả năng đưa đến tái sanh, tạo ra ngũ uẩn cho đời sống mới là Khổ Thánh đế.

Nếu không có ba nhân Vô minh (Avijjā), Tham ái (Taṇhā) và Chấp thủ (Upādāna) thì sẽ không có cơ hội để sanh ra Khổ đế (tức sanh ra ngũ thủ uẩn của đời sống mới). Vì vậy, A-la-hán Thánh Đạo (Arahatta Magga), giai đoạn giác ngộ thứ tư và là giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ không những diệt tận hoàn toàn ba nhân chính kia mà còn diệt tận hoàn toàn ngũ uẩn cho đời sống kế tiếp ngay sau Tử tâm Vô dư Niết-bàn (Parinibbāna Cuti), thời khắc tử tâm của một bậc thánh giác ngộ hoàn toàn. Sau thời khắc tử tâm này, không còn sự tái sanh nữa, nên cũng không còn ngũ uẩn nữa. Đó chính là tiến trình Anuppāda Nirodha, sự diệt tận hoàn toàn (sự vô sanh) được thấy biết rõ bằng Tuệ minh sát Vipassanā.

Sự Sanh và Diệt Theo Từng Sát-na (Uppāda Nirodha)

Bây giờ chúng ta hãy giải thích về Uppāda Nirodha. Khi nói về tất cả các pháp hữu vi thì chúng ta đều liên hệ đến Thánh đế về Khổ và Thánh đế về nguyên nhân của Khổ với bản chất sanh và diệt. Tiến trình ngắn ngủi của sự sanh và diệt liên tục gọi bằng tiếng Pāli là “Khaya Virāga” hoặc “Khaṇa Nirodha” (Thanh Tịnh Đạo, II, tr 282).

Chừng nào còn chuỗi các nhân hỗ trợ, chuỗi vô tận các pháp hữu vi (Saṅkhāra Dhamma) mới được sanh ra như là kết quả của các nhân sanh. Quá trình tái diễn sự sanh và diệt ấy gọi là “Uppāda Nirodha”, nghĩa là sự sanh và diệt lặp đi lặp lại nhiều lần. Hành giả cần cố gắng dùng Tuệ minh sát để thấy rõ quá trình sanh và diệt theo từng sát-na của các pháp hữu vi sau khi quán sát tam tướng Vô thường, Khổ, Vô Ngã. Thấy rõ Sự sanh và diệt từng sát-na (Uppāda Nirodha) và Sự diệt tận hoàn toàn (sự vô sanh) (Anuppāda Nirodha) của pháp hữu vi được gọi là Chánh kiến Thiền Tuệ (Vipassanā Sammā Diṭṭhi).

Thánh Đạo (Magga Sacca) Hiệp Thế

Hơn nữa, một hành giả, khi hành thiền Vipassanā, được mô tả trong Quán bảy pháp vô sắc (Arūpasattaka Vipassanā) (Thanh Tịnh Đạo, q II, tr 261-264), Quán sự sanh và diệt (Udayavayānupassanā) (Thanh Tịnh Đạo, q II, tr 268), Quán sự tan hoại (Bhaṅganupassanā) (Thanh Tịnh Đạo, q II, tr 288) cần phải quán các lộ trình tâm (như tốc hành tâm của lộ ý môn, Vipassanā Manodvarika Javana Vithi) đồng sanh với tuệ minh sát.

Khi quán điều này, vị ấy sẽ thấy rõ các yếu tố của các chi Bát Chánh Đạo như là Chánh Tư duy (Sammā Saṅkappa), Chánh Tinh tấn (Sammā Vāyāma), Chánh Niệm (Sammā Sati) và Chánh Định (Sammā Samādhi) đã cùng sanh khởi lên trong suốt thời gian hành thiền Minh Sát. Hành giả sẽ thấy rõ các chi phần của Thánh Đạo cùng khởi lên với Minh Sát trí. Thánh Đạo có khả năng diệt trừ tạm thời các phiền não. Đó là lý do tại sao các yếu tố của Bát Chánh Đạo được gọi là Đạo đế. Vì vậy, khả năng liễu tri mỗi chi phần trong Bát Chánh Đạo bằng Tuệ Minh Sát được gọi là Chánh kiến Vipassanā (Vipassanā Sammā Diṭṭhi).

Liễu tri Tứ Thánh Đế trong tiến trình hành thiền Vipassanā

Tôi đã đề cập một vài cấp độ của Tuệ Minh Sát qua Chánh Kiến về Thiền tuệ (Vipassanā Sammā Diṭṭhi), chứng ngộ Tứ Thánh Đế trong tiến trình thực hành thiền Vipassanā. Bây giờ tôi sẽ giải thích cho quý vị hiểu rõ hơn như sau.

Trong quá trình hành thiền Vipassanā, có Chánh kiến về Khổ đế khi hành giả tiến hành quán sát một cách khách quan về ngũ thủ uẩn (Upādānakkhandha) với mười một khía cạnh như: hiện tại, quá khứ, tương lai, trong, ngoài… Có một quá trình tự nhiên hướng tâm nhận thức về Khổ đế (Dukkha Sacca) (hay là ngũ thủ uẩn) được gọi là Chánh Tư Duy (Sammā Saṅkappa). Mỗi nỗ lực của hành giả trong việc hành thiền là Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyāma). Sự không quên lãng trong tâm về Khổ đế được gọi là Chánh Niệm (Sammā Sāti). Khi hành giả định tâm trên Khổ đế được gọi là Chánh Định (Sammā Samādhi). Năm chi phần của Bát Chánh Đạo này kết hợp với ba chi Giới, tổng cộng có tám chi đạo cần phải được tiến hành tu tập.

Ghi chú: chữ Khổ đế (Dukkha Sacca) ở đây được dùng cho toàn bộ “ngũ uẩn mà tâm người hành giả cần phải liên tục chú tâm trong suốt quá trình hành thiền.

Một khi hành giả tuệ tri được làm thế nào mà tất cả các đạo của Bát Chánh Đạo kết hợp với nhau trong tuệ minh sát về Khổ đế (Dukkha Sacca), thì hành giả cũng sẽ dễ dàng tuệ tri được làm thế nào mà tất cả các đạo của Bát Chánh Đạo kết hợp với nhau trong tuệ minh sát về Tập đế (Samudaya Sacca).

Chỉ khi nào hành giả bắt đầu quán sát đặc tính tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của Danh Sắc của Khổ đế (Dukkha Sacca) và Tập đế (Samudaya Sacca) trong khi thực hành thiền Vipassanā thì khi đó Tuệ Minh Sát của cả Diệt đế (Nirodha Sacca) và Đạo đế (Magga Sacca) sẽ hiển lộ.

Các pháp hữu vi trong đó có Khổ đế và Tập đế có bản chất sanh diệt liên tục. Hành giả phải tập trung quán chiếu bản chất tiến trình sanh diệt không ngừng của danh và sắc. Khi hành thiền Vipassanā hành giả phải xen kẽ sự chú tâm trên ba đặc tính Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha), Vô ngã (Anatta). Điều này có nghĩa là phải chú tâm xen kẽ trên tam tướng là

  1. Anicca, vô thường là một tiến trình rõ ràng của danh sắc rằng ngay sau khi sanh lên thì diệt ngay lập tức.
  2. Dukkha, khổ là một tiến trình của sự đau khổ liên tục vì sự sanh và diệt triền miên.
  3. Anatta, vô ngã là tiến trình các pháp diễn ra theo đường lối riêng của nó mà không theo ý muốn của bất kỳ một thực thể nào. Nó được gọi là Khaṇato Udayavaya Dassana, nghĩa là thấy tiến trình sanh và diệt theo từng sát-na.

Đồng thời, hành giả cần phải quán chiếu Khổ đế là quả bởi nhân là Tập đế. Đó là Paccayato Udayadassana Ñāna – là Tuệ biết rõ về Khổ (dukkha) được sanh khởi bởi các nhân sanh khổ (samudaya). Một khi các nhân bị diệt tận hoàn toàn, bằng Tuệ Minh Sát vị ấy cũng thấy rõ sự diệt tận hoàn toàn của ngũ uẩn. Đây chính là Paccayato Vayadassana Ñāna, tuệ biết rõ tiến trình diệt của các pháp do không còn nhân sanh khởi. Cả hai dạng Tuệ minh sát gọi là Paccayato Udaya-vaya-dassana Ñāna, nghĩa là Tuệ thấy rõ sự sanh và diệt do nhân. Một hành giả phải quán chiếu bằng Tuệ Minh Sát để liễu tri tam tướng với nhân là Tập Đế (Samudaya Sacca), và quả là Khổ Đế (Dukkha Sacca) cùng với ngũ thủ uẩn.

Sáu Loại Tuệ Minh Sát

Các loại Tuệ Minh Sát, khi được tập hợp, có cả thảy sáu loại sau:

  1. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sát-na sanh (Khaṇato Udaya-dassana ñāna)
  2. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sát-na diệt (Khaṇato Vaya-dassana ñāna)
  3. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sát-na sanh và diệt (Khaṇato Udaya-Vaya-dassana ñāna)
  4. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sanh bởi các nhân (Paccayato Udaya-dassana ñāna) là tuệ minh sát có khả năng thấy được các quả khi có mặt các nhân
  5. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình diệt bởi các nhân (Paccayato Vaya-dassana ñāna). Nói cách khác, khả năng thấy một khi các nhân bị diệt tận hoàn toàn thì các quả cũng sẽ không còn sanh nữa.
  6. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sanh và diệt bởi các nhân (Paccayato Udaya-Vaya-dassana ñāna), tuệ minh sát thấy rõ rằng nếu các nhân có mặt thì các quả sẽ sanh, nếu không còn nhân thì cũng sẽ không còn quả.

Tuy nhiên sáu loại Tuệ Minh Sát trên có thể tóm tắt bằng hai loại cơ bản từ số ba và sáu. Tóm lại, có hai loại Tuệ Minh Sát trong tâm hành giả. Chú giải của Thanh Tịnh Đạo q2, tr268 mô tả làm thế nào mà Tứ Thánh Đế trở nên rõ ràng với Tuệ Minh Sát của hành giả là người thấy tiến trình sanh và diệt trong cả hai dạng sát-na (Khaṇa) và nhân (Paccaya) sanh ra nó trong các cách như sau:

  1. Khi hành giả thấy được quả sanh do sự có mặt của nhân, bằng Minh Sát Trí vị ấy thấy rõ nhân (Tập đế, Samudaya Sacca) là nguồn gốc trực tiếp của quả (Khổ đế, Dukkha Sacca).
  2. Bằng việc thấy rõ tiến trình sanh diễn biến vô tận từ sát-na này đến sát-na khác, bản chất của Khổ Đế (Dukkha Sacca) trở nên rõ ràng trong Minh Sát Trí, vì nó có thể liễu nhập tiến trình sanh liên tục của các pháp hữu vi – sự khổ sanh (Jāti Dukkha)
  3. Khi hành giả thấy rõ tiến trình diệt tận hoàn toàn ở thời điểm các nhân bị tận diệt hoàn toàn, Diệt Đế (Nirodha Sacca) trở nên rõ ràng trong Minh Sát Trí vì sự diệt của quả phụ thuộc vào sự diệt tận hoàn toàn của các nhân.
  4. Khi hành giả thấy rõ tiến trình diệt diễn biến vô tận từ sát-na này đến sát-na khác, bản chất của Khổ đế (Dukkha Sacca) lại rõ ràng trong Minh Sát Trí vì nó có thể liễu nhập tiến trình diệt liên tục của các pháp hữu vi – sự khổ chết (Maraṇa Dukkha).
  5. Vì có thể thấy được cả hai tiến trình sanh và diệt – từ sát-na này đến sát-na khác cũng như do nhân và quả của danh-sắc, hành giả thấy được diễn tiến sanh và diệt của các nhân và quả tương ứng. Minh Sát Trí này gọi là Udaya-vaya-dassana ñāna, là Đạo đế (Magga Sacca) hiệp thế. Tại sao? Bởi vì nó có thể diệt trừ Vô minh (Sammoha) vốn ngăn cản không cho thấy sự thực về bản chất sanh và diệt của tất cả các pháp hữu vi.
Bát Chánh Đạo Trong Thực Hành Vipassanā

Bây giờ tôi sẽ nói về thế nào là Bát Chánh Đạo, đặt trong ngữ cảnh Tứ Thánh Đế, khởi sanh trong suốt tiến trình thực hành Vipassanā.

  1. Thấy được sự phơi bày về bản chất của Tứ Thánh Đế trong tiến trình thể nhập Tuệ quán chính là Chánh kiến (Sammā diṭṭhi)
  2. Hướng tâm vững chắc vào đối tượng danh sắc của Tứ Thánh Đế trong từng sát-na sanh được gọi là Chánh Tư Duy (Sammā Saṅkappa)
  3. Mỗi sự nỗ lực của thân và tâm đặt vào sự thực hành Vipassanā được gọi là Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyāma)
  4. Luôn an trú trên bản chất của Tứ Thánh Đế gọi là Chánh Niệm (Sammā Sati)
  5. An tịnh và hoàn toàn định tâm trên đề mục thiền Tứ Thánh Đế được gọi là Chánh Định (Sammā Samādhi).

Tất cả năm thánh đạo này cùng với ba đạo của Giới chi đạo (Sīla Maggaṅga) được thiết lập từ trước, thành tám chi Đạo trong mỗi thời khắc thực hành Vipassanā. Đây còn gọi là Pubbabaga Satipathanamagga, nghĩa là Thánh Đạo dẫn nhập của thiền Niệm xứ xảy ra đồng thời và được thực hành trước khi chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga) (bốn giai đoạn giác ngộ) (Chú giải Trung Bộ kinh, q1, tr 235).

Khi thực hành qua các giai đoạn khác nhau của minh sát trí, các Thánh Đạo dẫn nhập sẽ phát triển cho đến khi chín mùi. Sau đó, Thánh Đạo (Ariya Magga) và Thánh Quả (Ariya Phala) (các Tuệ Đạo và Tuệ Quả trong bốn giai đoạn giác ngộ) cuối cùng sẽ sinh khởi bằng cách tập trung trên tính an lạc, an tịnh vô vi của Niết-bàn (được gọi là Mahā Asankhata Dhātu). Sự an lạc, tĩnh lặng này chính là Siêu thế Diệt đế (Nirodha Sacca). Tại thời điểm này, tất cả Bát Thánh Đạo Siêu thế được viên mãn

Bát Thánh Đạo Siêu Thế

Ở đây phải lưu ý rằng vào lúc chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga), thì Bát Thánh Đạo cũng được viên mãn ngay trước thời điểm chứng ngộ Thánh Quả (Ariya Phala). Và bây giờ, tôi sẽ giải thích Bát Thánh Đạo khởi sanh như thế nào tại thời điểm một người chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga). Thánh Đạo Tuệ (Ariya Magga Ñāna) thấu suốt an tịnh vô vi Niết-bàn gọi là Chánh Kiến Đạo (Magga Sammā Diṭṭhi). Tập trung chú ý trên đối tượng an tịnh vô vi gọi là Chánh Tư Duy (Sammā Saṅkappa). Tất cả những phiền não mà được ngăn chặn không cho sanh khởi nhờ ba Thánh Đạo Giới (Sīla Magga) là Chánh Ngữ (Sammā Vāca), Chánh Nghiệp (Sammā Kammanta), Chánh Mạng (Sammā Ājīva) đều bị diệt trừ bởi Thánh Đạo Tuệ (Ariya Magga Ñāna) ngay tại thời điểm vị ấy chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga). Do đó, ta nên lưu ý rằng cả ba Thánh Đạo Giới (Sīla Magga) được viên mãn cùng lúc. Mọi sự tinh tấn nỗ lực của thân và tâm đang thực hành để tiến tới an tịnh vô vi Niết-bàn thì gọi là Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyāma). An trú trên đối tượng vô vi Niết-bàn gọi là Chánh Niệm (Sammā Sati). Định tâm trên vô vi Niết-bàn gọi là Chánh Định (Sammā Samādhi). Đến đây Bát Thánh Đạo siêu thế đã hoàn toàn viên mãn.

Tuệ Phản Khán (Paccavekkhaṇa Nāna) và Chánh Giải thoát (Sammā Vimutti), ví dụ Thánh Quả (Ariya Phala) (Tuệ Quả) cũng sẽ tự động khởi sanh nơi hành giả đã hoàn mãn Thánh Đạo siêu thế (Lokuttarā Magga).

Mô Tả Tóm Tắt Cách Hành Thiền

Ở đây, để có thể chứng đắc Bát Thánh Đạo Siêu thế hành giả cần phải hoàn thành Bát Chánh Đạo Hiệp thế mà được gọi là Thánh Đạo dẫn nhập của Niệm Xứ (Pubba-bhāga Satipaṭṭhāna Magga). Trong các Thánh Đạo hiệp thế này, hành giả phải bắt đầu thực hành ba Thánh Đạo thuộc về Giới trước bằng cách giữ gìn Giới thật trong sạch. Ghi chú: có nghĩa là hành giả phải giữ cho thân, khẩu và sự nuôi mạng luôn luôn được trong sạch theo đúng Giới luật bằng cách ngăn ngừa tà ngữ, tà hành và tà mạng.

Sau khi giữ các Thánh đạo về Giới trong sạch, vị ấy phải hoàn thành ba Thánh Đạo về Định (tiến trình phát triển định tâm), ví dụ Chánh Tinh tấn (Sammā Vāyāma), Chánh niệm (Sammā Sati) và Chánh Định (Sammā Samādhi). Tại sao vậy? Bởi vì đây là những yêu cầu phải được hoàn thành nếu vị đó muốn chứng đắc Tuệ Minh Sát Hiệp thế và Tứ Thánh Đế. Đức Phật nói rằng:

Samādhiṃ bhikkhave bhāvetha, Samāhito bhikkhave bhikkhu yathābhutan pajānāti

Lời dịch: Đức Phật giảng: “Này chư Tỷ-khưu, hãy phát triển định. Chỉ khi có định, Tỷ-kheo như thị giác tri các Pháp”. Một người với đầy đủ định tâm có thể thấu hiểu được điều gì? Đó là Tứ Thánh Đế.

Để hướng dẫn phát triển định tâm, Đức Phật dạy bốn mươi đề mục thiền. Định tâm (Samādhi) có thể được phát triển bằng cách chọn bất kỳ đề mục nào:

Phát Triển Định Bằng Thiền Tứ Đại (Dhātu Kammaṭṭhāna)

Ở đây, tôi sẽ tóm tắt phương pháp phát triển định tâm (Samādhi) bằng đề mục thiền Tứ Đại (Dhātu Kammaṭṭhāna). Đây cũng là một trong bốn mươi đề mục thiền Định. Nó có thể giúp cho hành giả dễ dàng đạt được cận định (Upacāra Samādhi). Nếu hành giả muốn phân biệt sắc tứ đại trong thiền Vipassanā, vị ấy phải chọn đề mục Tứ đại.

Tattha Bhagavā Rūpakammaṭṭhānan kathento saṅkhepamanasikāravasena vā, vitthāramanasikāravasena vā, catudhātuvavatthānaṃ kathesi

(Chú giải Trường bộ Kinh, II, tr 314) (xem thêm Chú giải Trung Bộ Kinh, I, tr 280 và Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), qII, tr252)

Đoạn văn trên có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là khi Đức Phật dạy phân biệt sắc, Ngài thường dạy đề mục thiền Tứ đại (Dhātukammaṭṭhāna) theo hai cách bằng phương pháp tóm tắt hoặc bằng phương pháp chi tiết.

Một hành giả, khi tiến hành thiền Vipassanā sẽ phải bắt đầu phân biệt tất cả danh và sắc bằng tuệ minh sát của mình. Giai đoạn này được gọi là Kiến Thanh Tịnh (Diṭṭhi Visuddhi) liên quan đến tiến trình phân biệt danh sắc bằng Tuệ Minh Sát. Như vậy, trong giai đoạn này có hai cách quán xét:

  1. Quán phân biệt Sắc (Rūpa pariggaha)
  2. Quán phân biệt Danh (Arūpa pariggaha)

Với cách đầu tiên trong hai cách quán phân biệt, Đức Phật dạy phân biệt sắc tứ đại theo hai phương pháp

  1. Phương pháp tổng quát, nghĩa là quán toàn bộ liên quan Tứ đại, quán toàn bộ các đặc tính.
  2. Phương pháp chi tiết, đi sâu vào từng chi tiết chia chẻ nhỏ hơn của mỗi yếu tố đại. Đây là quá trình được Đức Phật mô tả liên quan đến thực hành thiền Tứ đại gọi là Catu Dhātu vavatthāna (Thiền Phân Tích Tứ Đại)

Giữa những nguồn khác nhau trong Kinh điển liên quan đến thực hành Tứ đại, Phương pháp tóm tắt được Đức Phật mô tả trong kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta). Phương pháp chi tiết được Đức Phật mô tả trong kinh Mahā Rahulovāda (Trung Bộ kinh, q2, tr 84-86), Kinh Giới Phân biệt (Dhātu Vibhaṅga Sutta) (Trung Bộ kinh, Q. III, tr 283-285) và Bộ Giới Phân tích (Dhātu Vibhaṅga) (Tạng Vi diệu pháp, q II, tr 84-86). Tôn giả Xá-lợi-phất, đại đệ tử của Đức Phật cũng dạy phương pháp chi tiết trong Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Mahā Hatthipadopama Sutta) (Trung Bộ kinh, q 1, tr 242-247).

Ở đây, phụ chú giải của Bộ Thanh Tịnh Đạo Đại Sớ Giải đề cập rằng: như là một quy trình chung, hành giả nào phân biệt Sắc ở giai đoạn đầu tiên của thiền Vipassanā sẽ được gọi là Suddha-Vipassanāyanika (hành giả theo cỗ xe thuần quán). Tương tự vậy, hành giả nào phân biệt Danh ở giai đoạn đầu tiên của thiền Vipassanā sẽ được gọi là Suddha-Samathayanika (hành giả theo cỗ xe tịnh chỉ). Ở đây, việc phân biệt danh sắc ban đầu cần thiết của thiền Vipassanā (Vipassanabhinivesa) bằng tuệ minh sát có tên là Tuệ Phân định Danh Sắc (Nāmarūpa Pariccheda Ñāna).

Quan sát tiến trình này, khi tiến hành giai đoạn Kiến Thanh Tịnh, hành giả có năng lực Thiền Định (Samathayānika) hay hành giả thuần quán (Vipassanāyānika) muốn bắt đầu phân biệt sắc (rūpa kammaṭṭhāna), thì cả hai đều phải bước vào thực hành Thiền Tứ đại.

Mười Hai Đặc Tính Của Tứ Đại

Trong bốn đại, mỗi đại có các đặc tính riêng:

  1. Địa đại (pathavī-dhātu) có sáu đặc tính: cứng, nhám, nặng, mềm, láng, nhẹ.
  2. Thủy đại (āpo-dhātu) có hai đặc tính: chảy và dính.
  3. Hỏa đại (tejo-dhātu) có hai đặc tính: lạnh và nóng.
  4. Phong đại (vāyo-dhātu) có hai đặc tính hỗ trợ và đẩy.

Hành giả phải quán chiếu mười hai đặc tính trên toàn thân từ đầu đến chân từng cái một. Ví dụ, nếu vị ấy thực hành tính nhám thì phải bắt đầu chú ý trên một điểm nơi tính nhám thể hiện rõ ràng rồi chuyển đến toàn bộ trong thân. Hành giả phải thực hành tương tự như vậy đối với mười một đặc tính còn lại. Hành giả cần cố gắng để thấy tất cả mười hai đặc tính của tứ đại trên toàn thân, từ đầu đến chân. Tốt hơn là hành giả có thể thấy đồng thời hai hoặc ba đại mặc dù hành giả chỉ chú ý trên một đại. Khi hành giả có thể chú tâm thực hành một cách hiệu quả điều này thì hành giả đó sẽ chắc chắn thấy được cả mười hai đặc tính của tứ đại. Khi thực hành trên toàn thân, không đơn thuần là chú ý tới hình dáng của thân mà thay vào đó là tập trung chú ý đến đặc tính của tứ đại. Không nên thường xuyên di chuyển sự chú ý từ chỗ này qua chỗ kia. Giữ sự tập trung trên tứ đại và cố gắng thấy từng đặc tính riêng của tứ đại. Sau đó, tất cả tứ đại sẽ hiển hiện rõ ràng nếu hành giả tiếp tục thực hành theo cách này.

Bây giờ, hãy quán theo bốn cách như sau;

  1. tập trung trên toàn bộ địa đại (pathavī-dhātu) bằng cách chú ý tất cả tính cứng, nhám, nặng, mềm, láng, và nhẹ cùng với nhau,
  2. tập trung trên toàn bộ thủy đại (āpo-dhātu) bằng cách chú ý tính chảy và dính,
  3. tập trung trên toàn bộ hỏa đại (tejo-dhātu) bằng cách chú ý tính lạnh và nóng,
  4. tập trung trên toàn bộ phong đại (vāyo-dhātu) bằng cách chú ý tính hỗ trợ và đẩy với nhau.

Hành giả phát triển định tâm bằng cách thực hành bốn phần về thiền Tứ Đại trên toàn thân như thế. Tiếp tục định tâm theo cách này trong vài ngày và vài giờ cho mỗi thời ngồi thiền, hành giả sẽ bắt đầu chỉ thấy một khối khí trắng, và không phải hình dáng của thân nữa. Tiếp tục phân biệt tứ đại trong khối trắng đó, định tâm của hành giả sẽ càng trở nên mạnh hơn và sâu hơn. Kết quả là, khối trắng đó sẽ xuất hiện trong tâm hành giả ở dạng một khối tinh thể trong suốt như khối nước đá hay thủy tinh. Hành giả tiếp tục phát triển định tâm bằng cách phân biệt các yếu tố tứ đại chứa trong khối thủy tinh trong suốt đó.

Khối Thủy Tinh Trong Suốt

Ở đây, cái giống như khối thủy tinh trong suốt xuất hiện trong tâm hành giả là gì? Một hành giả có thể hỏi.

Trả lời: Đó là năm loại tịnh sắc (Pasāda Rūpa) của thân thật tinh khiết và phản chiếu ánh sáng chói chang như chiếc gương khởi lên khi hành giả đạt đến mức định tâm sâu. (Thanh Tịnh Đạo, q 2, tr 81).

Đó là điều tự nhiên của hành giả, trước khi có thể phân biệt và chia chẻ nhỏ về sau, là thấy được năm loại tịnh sắc dưới dạng khối (Ghana) giống như vậy. Một trong năm loại tịnh sắc này là thân tịnh sắc (kāya pasāda) có mặt khắp cơ thể nơi mà cảm giác xúc chạm được cảm nhận ngoại trừ một vài phần trong thân chẳng hạn như móng tay. Tuy nhiên, hành giả cần phải cố gắng phá vỡ ý niệm về khối đặc (ghana) bằng cách tập trung định tâm vào khoảng hư không chứa trong các tịnh sắc này. Điều này đã được Đức Phật dạy trong kinh Mahā Rahulovāda.

Bởi Đức Phật muốn hành giả quán chiếu 24 Sắc y đại sinh (upādārūpa) bằng cách căn cứ vào hư không, Ngài dạy tập trung chú ý vào khoảng hư không của năm tịnh sắc, mà nó được giải thích trong chú giải (chú giải Kinh Trung bộ, III, tr 97). Khi hành giả thấy được hư không trên bề mặt của khối thủy tinh, hành giả sẽ bắt đầu thấy đơn vị nhỏ nhất của sắc vật chất (kalāpas) một cách rõ ràng. Hành giả sẽ quán xét tất cả các yếu tố sắc đi cùng như là:

  1. địa đại (Pathavī dhātu), đặc tính của đất cứng, nhám
  2. thủy đại (Āpo dhātu), đặc tính của nước: dính, chảy
  3. hỏa đại (Tejo dhātu), bản chất của lửa: nóng và lạnh
  4. phong đại (Vāyo dhātu), đặc tính của gió: nâng và hỗ trợ
  5. màu
  6. mùi
  7. vị
  8. dưỡng chất

chứa trong mỗi phần tử nhỏ của kalapa.

Hành giả phải quán xét tất cả kalapa trong sáu căn và 42 khía cạnh của thân tứ đại. Ở đây hành giả nên đến gặp một vị thầy để được hướng dẫn cụ thể.

Một hành giả sau khi quán sát tất cả các Sắc, phải tiến hành quán các Danh sanh khởi nương nhờ ở sắc căn. Khi thực hiện phần này, hành giả phải hoặc bắt đầu từ Xúc (Phassa) hoặc Thọ (Vedanā) hoặc Thức (Viññāna), bao gồm tất cả các tâm sở dẫn đầu bởi tâm sở Xúc khởi sinh ở năm căn là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân tương ứng (chú giải Kinh Trung bộ, I, tr 280 – 281)

Sau khi phân biệt thành công theo cách này, hành giả tiếp tục phân biệt các nhân nào sanh ra Danh Sắc chẳng hạn như vô minh (Avijjā), tham ái (Taṇhā), chấp thủ (Upādāna), Nghiệp (Kamma) và các hành (Saṅkhāra). Cố gắng thấy bằng Tuệ minh sát để biết rằng ngũ thủ uẩn sanh khởi trong đời này chính là do các nhân như vô minh (Avijjā) … ở đời quá khứ. Cố gắng để thấy rõ bằng cách này đối với phần còn lại của danh sắc quá khứ và tương lai.

Như đề cập trước, một hành giả bằng Tuệ minh sát phải thấy được sự tận diệt hoàn toàn của ngũ thủ uẩn ngay khi vô minh (Avijjā), tham ái (Taṇhā), thủ (Upādāna), nghiệp (Kamma) và các hành (Saṅkhāra) bị diệt. Tam tướng của danh sắc cùng với nguyên nhân sanh ra nó phải được quán xét bằng thiền Vipassanā cho đến khi nào chứng đạt giai đoạn giác ngộ cao hơn là Tuệ Đạo (Magga) và Tuệ Quả (Phala).

Khi hành giả có thể tiến đến giai đoạn giác ngộ thông qua thực hành Vipassanā, điều đó có thể nói rằng hành giả đó đã hoàn thành Bát Thánh Đạo cả Hiệp thế lẫn Siêu thế. Hành giả đó cũng chứng ngộ được Tứ Diệu Đế bằng tuệ minh sát và chứng được Tuệ Đạo và Tuệ Quả

Sự Chuyển Hóa Lớn Nội Tâm Qua Thiền Vipassanā

Tuệ Vipassanā (Vipassanā Ñāṇa) có thể tạm thời diệt trừ được phiền não trong khi các Thánh Đạo Tuệ (Ariya Magga Ñāṇa) có thể nhổ tận gốc vĩnh viễn mọi phiền não ngủ ngầm. Trên hành trình thực hành tâm linh, khi một người tiến hóa đến sự thành tựu về Thánh Đạo, sự chuyển hóa lớn nhất sẽ diễn ra trong tâm theo nghĩa của sự trong sạch, trí tuệ, an tịnh, xả ly và an nhiên tự tại.

Nhấn mạnh vào điểm quan trọng về phát triển chuyển đổi nội tâm kỳ diệu, Đức Phật đã dạy chúng ta huấn luyện tâm trong bài kinh Đoạn Giảm (Salleka sutta)

Vậy, bây giờ chúng ta hãy cùng lắng nghe bài kinh Đoạn Giảm (Salleka sutta) mà nó làm lợi lạc một cách đáng ngạc nhiên cho sự tiến hóa và cải hóa cho tâm như sau

Kinh Đoạn Giảm Hay Là Con Đường Hoàn Thiện Tính Cách Và Thái Độ Tâm
  1. “Những kẻ khác có thể bị hôn trầm thụy miên chi phối, chúng ta ở đây sẽ không có hôn trầm thụy miên chi phối”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. “Những kẻ khác có thể bị tâm trạo hối, chúng ta ở đây sẽ duy trì nội tâm an tịnh”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  3. “Những kẻ khác có thể nghi hoặc, chúng ta ở đây sẽ trừ diệt nghi hoặc về luật Nhân Quả và Tam Bảo như Phật, Pháp và Tăng”.

Khi một hành giả đạt được Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (Paccayapariggaha Ñāṇa), Tuệ minh sát có thể quán sát được các nhân sanh ra Danh Sắc, sự hoài nghi (Vicikicchā) nhờ đó sẽ được tạm thời diệt trừ. Nhưng khi một hành giả chứng đắc giai đoạn giác ngộ đầu tiên là Tu-đà-hoàn Đạo (Sotāpatti Magga) và Tu-đà-hoàn Quả (Sotāpatti Phala), tất cả hoài nghi (Vicikicchā) đều bị nhổ tận gốc. Do đó, anh ta phát triển niềm tin vững chắc đối với lời dạy Đức Thế Tôn. Đức Phật khuyên chúng ta phải tự thực hành để thành tựu lòng tin thật sự vững chắc này.

  1. “Những kẻ khác có thể phẫn nộ, chúng ta ở đây sẽ không có phẫn nộ”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
Vượt Qua Sân Hận bằng Thiền Định

Đức Phật dạy “Để vượt qua sân hận, người đó cần phải thực hành Thiền Tâm Từ” trong Phẩm Meghiya phần Cảm Hứng Ngữ trong kinh điển Pāli, tr 120. Do đó vị đó cần phải thấm đẫm tâm từ trong tâm của mình bằng cách hành thiền Tâm Từ (mettā). Khi một người thường hay sân hận, cho dù là một vị Tỷ-kheo, cái tên gọi là “Pabbajita”, nghĩa là người phấn đấu diệt trừ phiền não, sẽ không còn thích hợp với vị ấy nữa. Vì vậy ta phải biết cách làm thế nào để chế ngự được sân hận bằng thiền Định như đã nói trên.

Sân Hận và Thiền Vipassanā

Nếu một người hành thiền Vipassanā có thể sẽ có nhiều lần gặp phải những trường hợp không vui vẻ mà trong đó nguyên nhân làm cho mình bực mình là ai đó hay cái gì đó. Nếu gặp tình huống đó, đầu tiên hành giả nên quán chiếu Sắc Tứ đại ở người hoặc vật là nguyên nhân gây ra sân. Rồi bằng thiền Vipassanā, quán đặc tính tam tướng vốn có của Tứ đại trong cả người và vật nói trên. Điều này sẽ giúp phát triển Tuệ minh sát, không còn thấy theo khái niệm người hay vật gây ra sân hận. Thay vào đó, với cái nhìn rõ ràng của Vipassanā, hành giả sẽ chỉ thấy đó là một tập hợp của Danh và Sắc có đặc tính sanh diệt liên tục bất tận. Kết quả là, hành giả sẽ chỉ thấy các đặc tính của Tứ đại là Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha) (tiến trình sanh diệt liên tục), Vô ngã (Anatta) (không có thực thể vững bền nào kiểm soát tất cả các tiến trình này).

Nhận thức được rằng Tuệ Minh Sát có thể tạm thời làm nhẹ và diệt trừ các phiền não bao gồm sân hận. Vì Vipassanā có khả năng đoạn giảm hoặc diệt trừ phiền não, nên ta hãy dùng nước mát và trong được gọi là Vipassanā để rửa sạch tâm, nhờ thế tất cả chúng ta có thể vượt qua sân hận, chăm sóc cái tâm thực hành Vipassanā của chúng ta. Đây là những gì Đức Phật có gắng chỉ dạy chúng ta trong bài Pháp.

Thêm nữa, cơn giận có thể hoàn toàn bị diệt trừ thông qua thực hành thiền Vipassanā, khi một hành giả có được ba-la-mật quá khứ do nghiệp thiện, chứng đắc giai đoạn giác ngộ thứ ba gọi là Thánh Đạo A-na-hàm (Anāgāmi Magga) và Thánh Quả A-na-hàm (Anāgāmi Phala). Đây là thành tựu của một đại thiện tâm hoàn hảo thực sự.

Bây giờ, chúng ta hãy đi sâu vào bài giảng sau đây.

  1. “Những kẻ khác có thể oán hận, chúng ta ở đây sẽ không có oán hận”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. “Những kẻ khác có thể vô ơn, chúng ta ở đây sẽ cố gắng biết ơn và trân trọng”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  3. “Những kẻ khác có thể não hại, chúng ta ở đây sẽ không não hại”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  4. “Những kẻ khác có thể tật đố, chúng ta ở đây sẽ không tật đố”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  5. “Những kẻ khác có thể bỏn xẻn, ích kỷ, chúng ta ở đây sẽ không bỏn xẻn, không ích kỷ”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Những bất thiện tâm được đề cập ở trên như hận thù, trả thù, vô ơn, hống hách, não hại, thiếu khiêm tốn, ganh tỵ và bỏn xẻn đều là suối nguồn của sân hận. Ta có thể loại trừ những phiền não này bằng cách thực hành bốn đề mục thiền cao quý (bốn Phạm trú, Brahma Vihara) hay thiền Vipassanā trong khi cố gắng chứng ngộ Thánh Đạo và Thánh Quả (Tuệ Đạo và Tuệ Quả). Thực ra, tinh thần kỷ luật và rèn luyện bằng hành thiền như thế có năng lực kỳ diệu để chuyển hóa tính cách và làm trong sạch tâm người.

  1. “Những kẻ khác có thể xảo trá (Māyāvi), chúng ta ở đây sẽ không xảo trá”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. “Những kẻ khác có thể khoe khoang, khoác lác, khoa trương (Sāṭheyya), chúng ta ở đây sẽ cố gắng chân thật và thẳng thắn”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
Sự Phân Biệt Giữa Xảo Trá (Māyā) Và Khoa Trương (Sāṭheyya)

Ở đây, chúng ta sẽ nghiên cứu bản chất khác nhau giữa xảo trá (Māyā) và khoa trương (Sāṭheyya). Xảo trá (Māyā) là đặc tính của bản chất che giấu khuyết điểm và lừa dối bằng đạo đức giả. Nó giống như là một ảo thuật gia thiện xảo trong sự lừa dối. Bằng nghệ thuật khéo léo, anh ta có thể làm giả đá giống như vàng thật. Tương tự, một người xảo trá (Māyā) có thể giả vờ một cách thiện xảo là một người tốt bằng cách giấu khuyết điểm và sử dụng sự lừa dối thiện xảo. Một loại người mà xã hội thường hay gọi là người có một cái tâm như con mèo tốt bụng. Ghi chú: “Con mèo tốt bụng” có nghĩa là một con mèo luôn có bộ dạng hiền lành, nhưng thực sự nó luôn rình rập để giết chuột.

Đức Phật không muốn các đệ tử của Ngài có các loại tâm như thế. Về bản chất và quan niệm của các vị Thánh như Đức Phật và những vị giác ngộ, lỗi lầm và khuyết điểm của người đó phải được giải quyết và sửa đổi một cách ngay thẳng. Sự xảo trá (Māyā) theo nghĩa sự thực tối hậu (chơn đế) được mô tả trong Vi diệu pháp là chỉ là một loại tâm sở bất thiện do tham và vô minh chi phối.

Sự khoa trương (Sāṭheyya), mặt khác, là đặc tính tham theo khuynh hướng lừa dối người khác bằng cách cố gắng tạo ấn tượng với họ, giả vờ như là sở hữu nhiều phẩm chất ấn tượng nhưng trong thực tế một phẩm chất còn không có. Đây là bản chất của sự khoa trương (Sāṭheyya). Sự xảo trá (Māyā) thì ngược lại, cố gắng che đậy lỗi lầm, giả vờ ngây thơ vô tội trong khi sự khoa trương (Sāṭheyya) là giả đò có những phẩm chất tốt mà người này thực sự không có. Như vậy cả hai xảo trá (Māyā) và khoa trương (Sāṭheyya) là những bất thiện trí và thiện xảo trong lừa lọc, gian trá, bịp bợm. Ghi chú: mỗi một hành động giả vờ như là có các phẩm chất Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā), kiến thức kinh điển, chứng ngộ Đạo (Magga) và Quả (Phala) mà người đó không hề có, đó là những hành động khoa trương (Sāṭheyya).

Sự Khoa Trương (Sāṭheyya) Trong Xã Hội Loài Người

Nhìn vào vài khía cạnh của xã hội loài người, chúng ta có thể thấy sự rất phổ biến của sự khoa trương trong đời sống hằng ngày. Có nhiều người thích giả vờ làm người đạo đức mặc dù thực chất là người vô đạo đức. Ví dụ như là giả vờ làm người có bằng cấp tốt nghiệp cao mặc dù họ chẳng có bằng cấp nào cả. Có người cư xử và ăn mặc như người giàu để gây ấn tượng với người khác. Có người thì giả như ta là người dũng cảm, gan dạ mặc dù họ vô cùng dễ sợ hãi và nhát gan. Với tính đa dạng của sự không thành thật với ý định lừa bịp và làm cho mê muội đều là hành vi khoa trương (Sāṭheyya). Đức Phật không muốn có những ý nghĩ và hành động cong quẹo trong tâm các đệ tử của mình. Đó là lý do Ngài đã dạy cho các vị đệ tử cố gắng thoát khỏi sự xảo trá (Māyā) và sự khoa trương (Sāṭheyya) ngay cả khi người khác tràn đầy sự xảo trá (Māyā) và khoa trương (Sāṭheyya) trong tâm. Các tâm sở và các hành vi thiếu chân thật này đối với Đức Thế Tôn đều rất đáng ghê tởm và không thể chấp nhận được.

  1. “Những kẻ khác có thể thô lỗ cộc cằn trong thân và khẩu, chúng ta ở đây sẽ cố gắng lịch sự và chu đáo”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. “Những kẻ khác có thể kiêu căng, ngã mạn, chúng ta ở đây sẽ cố gắng không kiêu căng và khiêm tốn”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
Thật Là Lời Dạy Tuyệt Vời

Thật rất cần thiết cho bất kỳ ai đã bước vào con đường phát triển tâm linh dù là một vị Tỷ-kheo hoặc là một sadi là phải sống một cuộc đời khiêm cung. Chúng ta cần phải học tập gương Đại Đức Rāhula, là người có thái độ khiêm cung và ước nguyện chân thành là học và thực hành tam học là Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Ở đây, tôi sẽ nói về bài giảng tuyệt vời của Đức Phật cho ngài Rāhula. Bài giảng được gọi là Kinh Mahā Rahulovāda và nó được ghi trong kinh Trung bộ II, tr 86-87

Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la (Mahā Rahulovāda sutta) (Đức Phật giáo giới Đại Đức La-hầu-la)
Tu Dưỡng Tâm Như Đất

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như đất. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như trên đất người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ không tịnh, quăng phân uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không dao động, hay không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập như đất. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Tu Dưỡng Tâm Như Nước

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như nước. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như nước, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ không tịnh, rửa sạch phân uế, rửa sạch nước tiểu, rửa sạch nước miếng, rửa sạch mủ, rửa sạch máu; tuy vậy nước không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tụ tập như nước, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Tu Dưỡng Tâm Như Lửa

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như lửa. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như lửa, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như lửa đốt các đồ tịnh, đốt các đồ không tịnh, đốt phân uế, đốt nước tiểu, đốt nước miếng, đốt mủ, đốt máu; tuy vậy lửa không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như lửa, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Tu Dưỡng Tâm Như Gió

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như gió. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như gió, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, như gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ không tịnh, thổi phân uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu, tuy vậy gió không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như gió, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Tu Dưỡng Tâm Như Hư Không

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như hư không. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như hư không không bị trú tại một chỗ nào; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như hư không. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái không, khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Cảm Hứng Ngữ

Thật cảm hứng xiết bao với Lời dạy của Đức Phật !

Những lời này của Đức Phật đã tạo cảm hứng cho chúng ta có được những hành động thánh thiện để phát triển tâm linh trong cuộc sống hàng ngày. Nó tạo thêm sức mạnh và nâng cao tinh thần của chúng ta trên con đường đến tự do và an lạc nếu chúng ta biết thực hành những lời dạy này trong các hành động thực tế.

Đức Phật giáo huấn rằng hãy tu dưỡng tâm ta như bản chất của đất, nước, lửa, gió, hư không, Ngài mong muốn một mức độ mạnh mẽ của đức kham nhẫn và sức chịu đựng được phát triển trong tâm ta mà trong tiếng Pāli gọi là phẩm chất Tādi.

Tādi, Một Phẩm Chất Đặc Biệt Của Tâm Giác Ngộ

Tādi là gì?

Iṭṭhāniṭṭhesu Hi Arajjanto Adussanto Tādī Nāma Hoti.

(Chú giải Trung bộ kinh, q III, tr 98)

Lời dịch: Không để cho tham ái hoặc ghét bỏ khởi lên khi tiếp xúc với những điều ưa thích hoặc không ưa thích, đó gọi là Tādi

Đó là phẩm chất của tâm có thể vẫn không bị ảnh hưởng bởi đối tượng yêu thích, hoặc không yêu thích. Nó còn làm cho tâm thăng bằng, không phản ứng lại tham ái hoặc ghét bỏ ngay cả trên tám bản chất đời sống của thế gian (bát phong) là: được, mất, nổi tiếng, ô nhục, khen, chê, hạnh phúc và bất hạnh. Bản chất nội tâm mạnh mẽ này được gọi là phẩm chất Tādi. Đức Phật đã thúc giục ta phát triển phẩm chất tâm đại thiện này.

Hoàn Thành Trọn Vẹn Tādi

Thực ra, phẩm chất Tādi được thực hiện một cách hoàn hảo chỉ ở trong tâm của các bậc A-la-hán hoàn toàn giác ngộ. Đại Đức Rāhula, người được Đức Phật chỉ dạy, lúc đó mới được mười tám tuổi, còn là một phàm nhân (Puthujjana), là người chưa giác ngộ khi được dạy bài Pháp này. Đức Phật đã dạy Đại Đức Rāhula, mặc dù Ngài Rāhula vẫn còn là một phàm nhân (Puthujjana), đang cố gắng phát triển kỹ năng hành thiền và thái độ mạnh mẽ như bản chất vững vàng của đất, nước, lửa, gió, hư không, vì thế Ngài có thể đạt được một vài mức độ của Tādi.

Phương Thức Và Cách Thức Phát Triển Tādi

Lời dạy của Đức Thế Tôn phù hợp cho mọi người học và làm theo.

Câu hỏi: Làm thế nào để phát triển phẩm chất Tādi?

Trả lời: Thực hành theo Bát Chánh Đạo như đề cập ở trên.

Một khi quý vị thực hành Bát Chánh Đạo đạt được đà tiến triển vững chắc chút ít, cuối cùng là các tiến bộ, sẽ khởi lên một khả năng kỳ diệu là không bị hề hấn trước những cơn bão của cuộc đời, ví dụ như thăng trầm của cuộc đời. Khi một người thành tựu giai đoạn như vậy, tất cả những ngủ ngầm tiêu cực như nóng nảy, tự phụ sẽ giảm đi…. Những loại phiền não này sẽ hoàn toàn bị diệt trừ khi người đó chứng đắc giai đoạn giác ngộ thứ tư, cũng là giai đoạn giác ngộ cuối cùng. Phẩm chất Tādi cũng từ đó được viên mãn.

Người Cung Kính Vâng Lời

Cho đến nay, trong bài Pháp Kinh Đoạn Giảm, Đức Phật đã đưa ra một thông điệp kỳ diệu về cải hóa tâm thức liên quan đến một chủ đề hết sức quan trọng là dẹp bỏ sân hận và ngã mạn. Bây giờ, Ngài tiếp tục giảng xa hơn.

  1. “Những kẻ khác có thể khó nói (nan thuyết), chúng ta ở đây sẽ dễ tiếp thu”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  2. “Những kẻ khác có thể là ác hữu, chúng ta ở đây sẽ là thiện bạn hữu”, ví dụ như cha mẹ tốt, thầy tốt và bạn tốt có thể dẫn dắt trên con đường phát triển tâm linh, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  3. “Những kẻ khác có thể dễ duôi trong việc tạo nghiệp thiện, chúng ta ở đây sẽ tích cực tạo thiện nghiệp”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta. Ghi chú: thiện nghiệp là các hành động như Bố thí (Dāna) , Trì Giới (sīla), Tham thiền (Bhāvanā).
  4. “Những kẻ khác có thể là bất tín, chúng ta ở đây sẽ có uy tín”, một thái độ thiện như thế chúng ta cần phải trưởng dưỡng
  5. “Những kẻ khác có thể không xấu hổ (vô tàm) đối với nghiệp bất thiện, chúng ta ở đây sẽ có xấu hổ (tàm) đối với nghiệp bất thiện”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  6. “Những kẻ khác có thể không sợ hãi (vô quý) đối với bất thiện nghiệp, chúng ta ở đây sẽ có sợ hãi đối với bất thiện nghiệp”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  7. “Những kẻ khác có thể ít học, chúng ta ở đây sẽ học tốt cả Pháp học và Pháp hành”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

Ở đây, chúng ta phải hiểu rằng có hai loại Trí Tuệ gọi là Trí Pháp học (Āgama sutta) và Trí Pháp hành (Adhigama Sutta). Trí Pháp học (Āgama Sutta) là Trí Tuệ và sự hiểu biết có được từ sự học hỏi và ghi nhớ kinh điển. Trí Pháp hành (Adhigama Sutta) là sự chứng ngộ thâm sâu bởi Chánh kiến (Sammā Diṭṭhi), đạt được sau khi thực hành thiền miên mật và rốt ráo trong một thời gian dài trên con đường tiến hóa tâm linh. Ở đây, nó liên hệ tới hai loại Tuệ Minh Sát, Tuệ Phân định Danh Sắc (Nāmarūpa Pariccheda Ñāna), và Tuệ Phân biệt nhân duyên (Paccaya Pariggaha Ñāna), là Tuệ phân biệt được nhân duyên sanh ra Danh Sắc.

  1. “Những kẻ khác có thể biếng nhác đối với việc thiện, chúng ta ở đây sẽ siêng năng với việc thiện”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  2. “Những kẻ khác có thể thất niệm, chúng ta ở đây sẽ chánh niệm trên tất cả các pháp hữu vi”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  3. “Những kẻ khác có thể liệt tuệ (minh sát), chúng ta ở đây thành tựu tuệ (minh sát)”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  4. “Những kẻ khác có thể nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, chúng ta ở đây sẽ không nhiễm thế tục, không cố chấp tà kiến, tánh dễ hành xả”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

Tất cả bốn mươi bốn nguyên tắc hay quy tắc trên được xây dựng nhằm phát triển và hoàn thiện tâm linh dành cho những ai chọn đời sống xuất gia, được đề cập rất rõ trong Kinh Đoạn Giảm (Salleka sutta) do Đức Phật thuyết giảng (Trung Bộ Kinh, I, tr 52-53).

Bây giờ càng rõ rệt hơn rằng vị Tỷ-kheo bước vào đời sống tu viện phải dẹp bỏ cách cư xử và dáng dấp của người cư sĩ trước đây. Vị ấy phải cải hóa mình và thích nghi với các nguyên tắc và quy tắc cần thiết để phát triển tâm linh của mình.

Để thực sự cải hóa những gì cần thiết cho đời sống xuất gia, Đức Phật dạy trong Kinh bậc xuất gia thường quán xét (Pabbajita Abhiṇha Sutta).

Añño me ākappo karanīyo”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekhittabbaṃ.”

Lời dịch: “Này Tỷ-kheo, ta phải có tất cả thân hành, khẩu hành và ý hành thích hợp với đời sống xuất gia, đó là sự khác biệt và phân biệt với đời thường của một cư sĩ”, vì thế, vị Tỷ-kheo phải luôn quán tưởng điều đó. Đức Thế Tôn đã thúc giục mạnh mẽ.

Chương 4.
Quán Tưởng Đạo Đức Cá Nhân

Bây giờ, chúng ta hãy tiếp tục với bài Kinh bậc xuất gia thường quán xét (Pabbajita Abhiṇha Sutta). Đức Phật giảng thêm như sau:

Kacci nu kho me attā sīlato na upavadatī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ.”

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Giới hạnh ta có hoàn toàn trong sạch với mọi giới luật xuất gia không?”.

Một Tỷ-kheo bước vào đời sống xuất gia phải thường xuyên tự kiểm giới hạnh mình có trong sáng, không một chút tội lỗi có thể khiến cho bị kết tội liên quan đến Phạm Hạnh theo tạng Luật, tạng kinh nói về giới luật xuất gia. Tại sao vậy?

Kiểm tra Giới hạnh (Sīla) bản thân thường xuyên giúp cho giới hạnh không bị hoen ố và trong sạch, bằng cách này cho phép một người có thể thấy hiện trạng Giới của mình là không bị hoen ố hay hoen ố, trong sạch hay không sạch.

Hiri, Một Thái độ Thiện của Hổ Thẹn Tội Lỗi (Tàm)

Evaṃ paccavekkhato hi ajjattaṃ hiri samuthāti. Sā tīsu dvāresu saṃvaraṃ sadheti. (Chú giải Tăng chi bộ kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Quán tưởng này sẽ gây cho vị Tỷ-kheo một cảm giác biết hổ thẹn tội lỗi. Điều này có tác dụng như một người bảo vệ quan trọng trong việc giữ gìn thân hành, khẩu hành và ý hành trong sạch.

Một khi ý nghĩ hổ thẹn tội lỗi (tàm) khởi lên trong tâm sẽ giúp cho thân hành, khẩu hành, ý hành luôn được kiểm tra, bảo đảm mọi hành động xảy ra ở ba môn đều trong sạch. Hiri, là một trạng thái thiện của hổ thẹn tội lỗi (tàm), có năng lực giữ gìn thân hành, khẩu hành, ý hành thanh tịnh.

Ở đây, nói về góc độ Giới, điều này không chỉ là Giới phòng hộ Pātimokkha (Pātimokkha saṃvara sīla) như các giới luật được ghi trong Tạng Luật (Vinaya). Tất cả có bốn Giới (Sīla) thanh tịnh (Tứ Thanh Tịnh Giới) có tên:

  1. Giới phòng hộ theo giới bổn Pātimokkha
  2. Giới phòng hộ các căn (Indriya Saṃvara Sīla)
  3. Giới nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva Pārisuddhi Sīla)
  4. Giới quán tưởng tứ vật dụng (Paccayasannissita Sīla)

Như vậy, điều này rõ ràng là cần phải giữ gìn cả bốn Giới (Sīla) thật thanh tịnh.

Phương Thức Thực Hành Giới Phòng Hộ Các Căn
Indriya Saṃvara Sīla

Giới phòng hộ các căn (Indriya Saṃvara Sīla), như Giới phải thu thúc lục căn, sẽ không được đầy đủ và hoàn thành nếu không tập trung thực hành thiền Định (samādhi) hay thiền Vipassanā. Do đó, điều này phải được hiểu rằng thực hành Giới phòng hộ các căn liên quan đến tập trung thực hành thiền Định (samādhi) hoặc thiền Vipassanā (Tương Ưng bộ kinh, q2, tr385, Kinh Kummopama)

Liên tục tập trung hành thiền sẽ làm thanh tịnh thân, khẩu, ý. Bên cạnh đó, sẽ có một năng lực trong tâm khởi lên giữ gìn thân, khẩu, ý.

Quả của Tứ Thanh Tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla)

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không kiểm soát thân, khẩu, ý theo cách này?

Tīsu dvāresu saṃvaro catupārisuddhisīlaṃ hoti. Catupārisuddhisīle ṭhito vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ gaṇhāti. (Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh, III, tr314)

Lời dịch: Áp dụng việc giữ gìn thân, khẩu, ý sẽ là sự thực hành Tứ Thanh Tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla)

Thực hành vững chắc Tứ thanh tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla) và liên tục phát triển thiền Vipassanā, người đó sẽ đắc quả A-la-hán, giai đoạn giác ngộ cuối cùng.

Điều này chỉ rõ rằng đầu tiên chúng ta phải đứng trên nền tảng của Tứ thanh tịnh Giới, giữ gìn Giới (Sīla) trong sạch, và hành thiền Vipassanā. Quả vị A-la-hán, mục tiêu giác ngộ cao nhất sẽ đạt được như là một tất yếu. Đây là lý do tại sao Đức Phật chỉ dạy phải kiểm tra, đánh giá lại hiện trạng Giới Hạnh một cách thường xuyên.

Chương 5.
Phòng Vệ Giới Đức Khỏi Sự Nghi Ngờ
Hoặc Bị Chất Vấn Về Giới Hạnh

Bây giờ, đây là điều quan trọng thứ năm phải thường xuyên quán xét:

Kacci nu kho maṃ anuvicca viññū sabrahmacārī sīlato na upavadatī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ

Lời dịch: Bậc xuất gia phải luôn quán xét điều này: “Phải chăng các bạn đồng phạm hạnh trí thức không chê trách ta về giới hạnh?”.

Một Tỷ-kheo, sau khi bước vào đời sống Phạm Hạnh, phải luôn kiểm tra hiện trạng Giới hạnh của mình có thoát khỏi mọi sự nghi ngờ bởi các bạn đồng tu và các đồng Phạm Hạnh hay không.

Lợi ích

Quán tưởng điều này sẽ mang lại lợi ích gì?

Evaṃ piccavekkhato hi bahiddhā ottappaṃ saṇṭhāti.

(Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh, III, tr314).

Lời dịch: Quán tưởng như vậy, sẽ khởi sinh cảm giác sợ hãi việc vi phạm đạo đức.

Điều này có nghĩa rằng bằng sự quán tưởng như vậy, nó sẽ xây dựng được một ý thức tôn trọng các bạn đồng tu và ý thức ghê sợ tội lỗi. Đối với một người biết nghĩ rằng liệu người khác sẽ đánh giá giới hạnh của mình ra sao, thì vị ấy sẽ dễ dàng phát triển một thái độ tôn trọng bạn đồng tu và cảm giác ghê sợ tội lỗi sâu sắc. Vậy điều gì sẽ đến nếu ý thức ghê sợ tội lỗi như thế khởi sanh?

Taṃ tīsu dvāresu saṃvaraṃ sādheti (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Tâm ghê sợ tội lỗi sẽ bổ sung ý thức giữ gìn đạo đức ở cả thân, khẩu và ý.

Tâm ghê sợ tội lỗi tiếng Pāli gọi là Ottappa (Quý), là ý thức đạo đức ghê sợ điều bất thiện, một cảm giác tôn trọng và lo sợ với bạn bè, thầy giáo, gia đình trước và sau khi làm điều xấu hay bất thiện. Khi cảm giác này xuất hiện trong tâm, vị đó ít khi dám làm những điều sai trái. Vì vậy, nó sẽ giúp tăng thêm sức mạnh giữ gìn đạo đức ở cả thân, khẩu và ý.

Tīsu dvāresu saṃvaro catupārisuddhisīlaṃ hoti (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Thực hành giữ gìn Thân hành, Khẩu hành, Ý hành cuối cùng sẽ dẫn đến việc hoàn thiện Tứ thanh tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla). Rõ ràng là khả năng chế ngự thân, khẩu, ý có thể hoàn thiện việc thực hành Tứ Thanh Tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla).

Sau khi hoàn thiện Tứ thanh tịnh Giới, vị ấy có thể dễ dàng tiến sang giai đoạn thực hành thiền Vipassanā. Khi Tuệ Minh Sát phát triển và chín muồi, nó sẽ dẫn tới chứng đắc quả vị A-la-hán. Đó là lý do tại sao Đức Thế Tôn dạy phải luôn quán tưởng hiện trạng giới hạnh của mình có thoát khỏi mọi khả năng bị nghi ngờ và kết tội bởi các bạn đồng đồng tu và các bạn Phạm Hạnh.

Chương 6.
Xa Lìa Tất Cả Những Người Thân Yêu và Mọi Thứ Trong Cuộc Sống

Bây giờ, đây là điều quán tưởng thứ sáu phải thường xuyên quán xét:

Sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ

Lời dịch: Bậc xuất gia phải luôn quán xét điều này: “Một ngày nào đó, ta sẽ lìa bỏ những người thân yêu của mình bởi cái chết hoặc sự biệt ly”.

Lợi Ích của Sự Quán Tưởng

Quán tưởng điều này sẽ mang lại lợi ích gì?

Evaṃ paccavekkhato hi tīsu dvāresu asaṃvutākāro nāma na hoti. (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314).

Với một vị thường xuyên quán tưởng như vậy, sẽ không có cách gì khiến vị ấy thất niệm.

Nếu một vị Tỷ-kheo thường xuyên quán tưởng về điều này thì vị đó sẽ có thể phát triển sức mạnh tinh thần, chuẩn bị đối mặt với mọi tình huống trong đời một cách chánh niệm và trầm tĩnh. Khả năng kiểm soát lục căn của vị đó càng mạnh mẽ và bền bĩ. Kết quả là, không còn bất kỳ hành động thiếu kiểm soát nào ở thân, khẩu, ý nữa.

Loài người cũng như các loài sinh vật khác, bằng bản năng, rất dễ bị tác động khi họ phải xa lìa người thân yêu hoặc mất mát những gì họ vô cùng yêu quý trong cuộc sống. Nhiều người cảm thấy rất khó đối diện với sự mất mát về người thân cũng như vật yêu thích của mình. Họ cảm thấy toàn bộ sự tàn phá và vô vọng này tạo ra sự hoảng loạn của tinh thần. Họ bị tràn ngập bởi sầu bi, và phản ứng lại bằng những hành vi thiếu kiểm soát như khóc lóc thảm thiết hoặc tự dùng tay đấm ngực v.v. Sẽ không có những phản ứng như thế đối với một người biết thường xuyên quán tưởng bản chất tự nhiên của sự chia lìa là một tiến trình không thể tránh khỏi, đương nhiên phải xảy ra trong đời sống.

Ghi chú: sự đau buồn và những dạng xúc cảm khác là một bản chất chung của mọi loài chúng sanh. Tuy nhiên có một điểm khác biệt đáng lưu ý giữa một người bình thường thiếu kỷ luật thực hành tâm linh và một người có kỷ luật tâm linh và đã giác ngộ. Một người bình thường thì dễ bị tác động và khó mà vượt qua, trong khi người thức tỉnh về tâm linh có thể vượt qua nó bằng trạng thái an tịnh và thản nhiên. Ngoài ra còn một lợi ích khác trong sự quán tưởng này:

Maraṇasati sūpaṭṭhitā hoti (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Sự chánh niệm về sự chết luôn ở trong tâm vị Tỷ-khưu.

Hơn nữa, được nhắc nhở bởi sự quán tưởng này, vị ấy nhận thức rằng chết là một tiến trình cuối cùng luôn theo sát mọi người, sẵn sàng cướp đi mạng sống bất cứ lúc nào. Vị ấy hiểu rõ rằng mình rồi đây cũng sẽ chết như mọi người ai cũng chết. Nếu có thể, bằng sự quán tưởng này, vị này sẽ thực hành Niệm sự chết, ví dụ như thực hành quán tưởng sự chết (Maraṇānussati) của chính mình như là một đề mục Thiền. Bằng sự chánh niệm sâu sắc về sự chết, vị ấy sẽ có thể đối diện với cái chết của người thân mình bằng sự an tịnh và thản nhiên.

Là một phần huấn luyện tâm linh, Đức Phật đã dạy cho tất cả những ai nương tựa nơi Giáo Pháp, như một Tỷ-khưu hay cư sĩ, hãy thường xuyên quán tưởng về sự lìa xa người thân yêu của mình và những vật mình yêu thích hoặc bằng cái chết hoặc bằng sự biệt ly.

Chương 7
Nghiệp Là Thừa Kế Của Ta

Bây giờ, chúng ta tiếp tục thực hiện điều quán tưởng thứ bảy.

Đức Phật nói: “Kammassakomhi kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṃ kammaṃ karissāmi kalyāṇaṃ vā pāpakaṃ vā tassa dāyādo bhavissāmī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ.“

Lời dịch: Bậc xuất gia phải luôn quán tưởng điều này: Ta có Nghiệp (Kamma) là tài sản của chính ta, ta thừa kế Nghiệp (Kamma) của ta, Nghiệp (Kamma) là hậu duệ của ta, Nghiệp (Kamma) là quyến thuộc của ta, Nghiệp (Kamma) là nơi nương tựa của ta. Bất kể ta làm việc tốt hay xấu, ta sẽ thừa kế các quả của hành động đó.

Những lời của Đức Phật vô cùng mạnh mẽ không chỉ cho các vị Tỷ-khưu mà còn đối với tất cả mọi người. Mọi người phải nhận thức rằng Nghiệp (Kamma) là tài sản của ta. Ta phải thừa kế Nghiệp của ta. Hậu duệ thực sự của ta là Nghiệp (Kamma) của ta. Người bạn đường thủy chung nhất là Nghiệp sẽ luôn theo sát bất kỳ nơi nào ta tái sanh. Bất kể hành động và nhân của Nghiệp (Kamma) ta đã gieo trồng là tốt hay xấu, ta sẽ phải gặt hái quả của hành động đó. Đó là điều mà Đức Thế Tôn muốn nhắn nhủ chúng ta.

Lợi ích của sự quán tưởng

Khi ta quán tưởng điều này sẽ có lợi lạc gì?

Evaṃ kammasakataṃ pana paccavekkhato pakaranaṃ nāma na hoti.

Lời dịch: Quán tưởng Nghiệp (Kamma) là tài sản thực sự của chính mình, sẽ không ai còn gây ra những hành động bất thiện.

Ta sẽ gặt hái quả lành nếu ta gieo nhân thiện, cũng vậy, ta sẽ gặt quả xấu nếu ta gieo nhân ác”, quán tưởng như thế sẽ giúp ta khởi sanh ý thức ghê sợ tội lỗi và trách nhiệm đạo đức trong ta. Thái độ này sẽ là cơ hội làm giảm những cơ hội gây ra nghiệp bất thiện. Ta sẽ không còn muốn hoặc thậm chí không có cả một ý tưởng dù chỉ là bất chợt đối với hành vi tạo ra Nghiệp xấu.

Đây là một tình huống đặc biệt như là một kịch bản, nó có thể xảy đến cho một người có khả năng quán sát sâu sắc về các khía cạnh của Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) như đã dẫn giải bởi Đức Phật. Khi mà vị này thực hành quán chiếu tiến trình Lý Duyên Khởi, vị ấy có thể nhìn thấy được từng giai đoạn của các kiếp quá khứ của mình trong thời thiền. Mọi thứ ở kiếp quá khứ tái hiện sâu sắc trong tâm thức của vị ấy. Vị ấy có thể nhìn thấy rõ ràng tất cả nghiệp tốt hay xấu của mình. Trong những điều vị ấy có thể hồi tưởng được, vị ấy lưu tâm thấy nghiệp bất thiện đã làm trong một đời quá khứ và các quả xấu mà vị ấy đã gặt hái. Một khi vị ấy đã thấy được rõ ràng luật Nhân Quả và bản chất của Nghiệp trong mỗi đời quá khứ, vị ấy sẽ không có dù chỉ là ước muốn nhỏ nhất tạo ra nghiệp bất thiện. Điều này mang một ý nghĩa rất lớn trên con đường phát triển tâm linh. Cho dù vị đó chưa đạt được sự chứng ngộ thâm sâu, vị đó sẽ có thể đứng vững trước mọi thăng trầm của cuộc đời một cách an nhiên, tự tại và vững vàng. Do đó, một người phải luôn quán tưởng về bản chất của Nghiệp và Quả trong đời sống.

Chương 8.
Ta Đã Sử Dụng Thời Gian Ngày Và Đêm
Như Thế Nào?

Bây giờ, đây là điều quan trọng thứ tám phải thường xuyên quán tưởng:

Kathaṃ bhūtassa me rattindivā vītivattantī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Ta sử dụng ngày và đêm như thế nào?”.

Bằng những lời dạy này, Đức Thế Tôn ngụ ý rằng mọi người cần phải suy xét việc sử dụng thời gian ngày và đêm quý báu của mình như thế nào. Nói cách khác, vị Tỷ-khưu phải biết thời gian trôi qua nhanh như thế nào hoặc vị đó biết rằng mình đã để thời gian ngày và đêm trôi qua như thế nào. Đơn giản hơn, vị Tỷ-khưu phải luôn suy xét mình đã sử dụng thời gian ngày và đêm được lợi ích tốt nhất hay chưa.

Đầu tiên, vị ấy phải suy xét việc thực hành Phạm Hạnh dù lớn hay nhỏ của đời sống xuất gia trong ngày và đêm như thế nào theo lời giáo huấn của Đức Phật. Vị ấy phải chắc chắn rằng mình không lãng phí một giây phút nào để thực hành Phạm Hạnh.

Thứ hai, vị ấy sẽ sử dụng tốt nhất mọi khoảng thời gian để học tập hoặc tụng Kinh và, không bao giờ lãng phí thời gian làm chuyện vô ích.

Thứ ba, vị ấy sẽ sử dụng thời gian để thực hành Như Lý Tác Ý (Yoniso Manasikāra), nghĩa là luôn giữ cho tâm suy tư đúng đắn. Ở đây, việc tập trung vào bất kỳ sự thực hành thiền nào cũng được gọi là Yoniso Manasikāra (Như Lý Tác Ý) theo tiếng Pāli. Do đó vị Tỷ-khưu phải luôn đảm bảo việc hành thiền của mình trong ngày và đêm. Vị ấy còn phải đảm bảo không bỏ phí một chút thời gian nào quên lãng việc hành thiền.

Lợi ích của sự quán tưởng
Quán tưởng điều này sẽ mang lại lợi ích gì?

Evaṃ paccavekkhato hi appamādo paripūrati.”

(Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr314)

Lời dịch: bằng sự quán tưởng này, một ý thức sâu xa về tính cấp bách tạo Nghiệp Thiện và những việc hữu ích như là Bố thí (Dāna), Trì giới (Sīla), Tham thiền (Bhāvanā) và phát triển mười thiện nghiệp (puñña-kiriya-vatthus).

Nếu một người quán tưởng thường xuyên điều này, một thái độ Chánh niệm (Appamāda) mạnh mẽ đối với việc thực hành Giới (Sīla), Định (Samādhi), Tuệ (Paññā) trong đời sống hàng ngày sẽ được trưởng dưỡng. Nó cũng có thể góp phần đặc biệt cho sự phát triển chánh niệm tỉnh giác về tam tướng là Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha), Vô ngã (Anattā). Do đó, bất cứ người nào bước vào đời sống xuất gia phải thường xuyên quán xét thời gian quý báu ngày và đêm của mình trôi qua như thế nào.

Chương 9.
Liệu Ta Có Thật Sự Thích Sống Độc Cư Không?

Bây giờ, Đức Thế Tôn tiếp tục giảng về điều thứ chín phải thường xuyên quán xét:

Kacci nu kho ahaṃ suññāgāre abhiramāmī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Ta có hoan hỷ sống độc cư, thực hành đời sống Phạm Hạnh hay không?

Sứ mạng của một vị Phạm Hạnh là phát triển tâm linh của chính mình, sau đó sẽ phục vụ người khác. Để hoàn thành sứ mạng này, vị Tỷ-khưu đó phải ẩn cư vào nơi cô liêu tịch tịnh và rừng sâu, tránh xa mọi thế tục phiền nhiễu bên ngoài, nơi mà vị ấy có thể tập trung hành thiền rốt ráo để phát triển thân tâm. Vị ấy cần phải thường xuyên quán tưởng rằng ta đang an hưởng độc cư để thực hành sự “Viễn ly” (Viveka). Chữ Viveka nghĩa là “Viễn ly”. Nó còn có nghĩa là việc cách ly khỏi mọi sự xao động và phiền não của thế gian. Đức Phật dạy:

Parivittassāyaṃ dhammo. Nāyaṃ dhammo saṅgaṇikārāmassa.

(Tăng Chi Kinh, III, tr 63)

Lời dịch: Chín Pháp siêu thế này chỉ dành cho những ai biết tận tâm tu tập ba Pháp Viễn ly (Viveka), Pháp này sẽ không dành cho những ai đang còn mãi mê việc sống lẫn lộn giữa thế gian.

(Ghi chú: Chín Pháp siêu thế này (Lokuttara Dhamma) tức là Bốn Đạo tuệ, Bốn Quả tuệ và Niết-bàn).

Ba Pháp Viễn Ly (Viveka)
  1. Thân Viễn Ly (Kāya Viveka) nghĩa là trạng thái thân an tịnh. Trường hợp này chỉ xảy ra khi một người lánh vào sống đời độc cư để hành thiền hoặc để hưởng sự an tịnh.
  2. Tâm Viễn Ly (Citta Viveka) nghĩa là trạng thái tâm an tịnh. Điều này chỉ xảy ra khi một người đang trong tiến trình tu tập thiền hoặc vị ấy đang nhập vào trạng thái tâm cao thượng chẳng hạn như đang nhập vào bậc thiền nào đó v.v.
  3. Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka) nghĩa là trạng thái chấm dứt bốn loại sanh y. Chữ Upadhi ở đây có nghĩa là sanh y – nơi nương sanh các cảm thọ. Viễn Ly Sanh Y xảy ra khi một người nhập diệt Niết-bàn.

Chín Pháp siêu thế (Lokuttara Dhamma) này chỉ có thể thành tựu đối với ai ưa thích tu tập ba loại Viễn Ly (Viveka) trên con đường tâm linh. Chín Pháp Siêu thế (Lokuttata Dhamma) không thể và sẽ không xảy ra trong tâm những người ưa thích các quan hệ xã hội bất tận và không chịu thực hành ba loại Viễn Ly (Vivekas) này. Đây là phần được nói trong bài Kinh Đại Tầm A-nậu-lâu-đà, Anuruddha Mahāvitakka sutta, Tăng Chi Bộ Kinh.

Vì thế, nếu chúng ta thật sự muốn chứng ngộ Chín Pháp Siêu thế, chúng ta phải có thái độ trân trọng ba Pháp Viễn Ly (Vivekas). Chúng ta phải đưa các Pháp này vào việc thực hành tâm linh.

Ba Pháp Viễn Ly (Vivekas)

Đó là gì? Đó là

  1. Thân Viễn Ly
  2. Tâm Viễn Ly
  3. Viễn Ly Sanh Y

Kāya nghĩa là Thân trong khi Viveka nghĩa là “viễn ly”. Vì vậy Kāya Viveka nghĩa là Thân Viễn Ly. Khi một người sống độc cư trong cả bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm vị ấy được cho là ở trạng thái Thân Viễn Ly. Tuy nhiên, sống với trạng thái Thân Viễn Ly (Kāya Viveka) chưa đủ để chứng ngộ Chín Pháp Siêu thế, mà nó chỉ là bước khởi đầu cần thiết để thành tựu Chín Pháp Siêu Thế.

Hỏi: Vậy tiếp theo vị đó cần phải làm gì để thành tựu Chín Pháp Siêu thế?

Đáp: Phải vận dụng mọi nỗ lực cần thiết để thành tựu tám Thiền chứng (Jhāna và Sampatti) gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka). Trong khi hành thiền, tâm hành giả được thoát khỏi các phiền não đến một mức độ nào đó thì được gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka). Để giảm bớt sự sanh khởi của các phiền não, vị ấy cần phải nỗ lực thực hành thiền Kasiṇa cùng với các chuẩn bị tướng (Kasiṇa Parikamma). Sau đó vị ấy có thể thành tựu các Thiền chứng (Jhānas Samāpattis) còn được gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka).

Hỏi: Liệu việc đắc tám bậc Thiền (Jhānas Samāpattis) còn được gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka) dẫn đến một người chứng ngộ Chín Pháp siêu thế hay không?

Đáp: Không hẳn thế.

Đến được mức đó đã là một sự thành tựu rất có ý nghĩa trên đạo lộ tâm linh, tuy nhiên vị ấy cần phải tiến xa hơn nữa trên con đường thực hành giải thoát. Dựa vào sự thành tựu Pháp Tâm Viễn Ly (Citta Viveka), vị ấy phải tiếp tục thực hành thiền Vipassanā bằng cách quán Danh Pháp và Sắc Pháp cùng với luật Nhân Quả vốn có trong mọi Pháp hữu vi.

Khi hành giả hành Thiền Vipassanā, quán Tam tướng của các Pháp hữu vi. Khi Tuệ Minh Sát sanh khởi qua thiền Vipassanā trở nên chín mùi, cuối cùng vị đó sẽ có thể chứng đắc Tuệ Đạo (Magga ñāna), Tuệ Quả (Phala Ñāna) và Niết-bàn (Nibbāna). Nếu một hành giả thành tựu A-la-hán Thánh Đạo và A-la-hán Thánh Quả, giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ, lúc đó vị ấy sẽ chứng đắc Niết-bàn. A-la-hán Thánh Đạo (Arahatta Magga), A-la-hán Thánh Quả (Arahatta Phala) và Niết-bàn (Nibbāna) được gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka), vì sẽ không còn bất cứ một Sanh y (Upadhi) nào trong tương lai nữa sau khi đã thành tựu các giai đoạn giác ngộ này. Ở đây chữ Upadhi nghĩa là sanh y – nơi nương sanh các cảm thọ, Viveka nghĩa là chấm dứt hoặc tận diệt, do đó nghĩa là là sự tận diệt của các sanh y.

Bốn Pháp Sanh Y (Upadhi) trong Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka)
  1. Dục Sanh Y (Kāmupadhi)
  2. Uẩn Sanh Y (Khandhupadhi)
  3. Phiền Não Sanh Y (Kilesupadhi)
  4. Thắng Hành Sanh Y (Abhisaṅkharūpadhi).

Từ Kāmupadhi (Dục Sanh Y) là sự kết hợp của hai từ, đó là Kāma và upadhi. Kama nghĩa là năm loại dục lạc. Upadhi nghĩa là Sanh Y. Năm loại dục lạc gọi là Sanh Y (Upadhi) bởi vì thọ lạc sanh khởi từ ngũ dục này. Trong trạng thái tịch tịnh của Niết-bàn, không còn khởi sanh dục lạc. Vì thế nó được gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka). Đối với A-la-hán Thánh Đạo (Arahatta Magga) và A-la-hán Thánh Quả (Arahatta Phala) cũng tương tự vậy.

Chữ Khandhupadhi (Uẩn sanh y) bao gồm hai từ: KhandhaUpadhi. Khandha có nghĩa là năm uẩn trong khi Upadhi nghĩa là Sanh Y. Năm Uẩn được gọi là Upadhi vì các cảm thọ và sự khổ đau sanh khởi nhờ ngũ uẩn là nguồn gốc. Do sự có mặt của ngũ uẩn, các chúng sanh tái sanh nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, hay nhân loại và phải chịu đựng các loại khổ khác nhau. Cái khổ mà một chúng sanh phải trải qua suốt tiến trình thụ thai và sanh, lão, bệnh, tử là do sự có mặt của năm uẩn. Đây là lý do tại sao ngũ uẩn được gọi là Sanh Y (Upadhi). Vào lúc chứng đắc Niết-bàn, năm uẩn gọi là Khandhupadhi (Uẩn Sanh Y) này đã vắng mặt và chấm dứt mọi vận hành. Vì thế Niết-bàn còn gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka).

Bây giờ chúng ta hãy nói về Sanh Y (Upadhi) thứ ba. Nó được gọi là Phiền não Sanh Y (Kilesupadhi) gồm hai chữ kết hợp: KilesaUpadhi. Chữ Kilesa nghĩa là phiền não làm tâm ô nhiễm trong khi từ Upadhi nghĩa là Sanh Y. Tại sao Phiền não (Kilesa) được gọi là Sanh Y (Upadhi)?

Nó được gọi như vậy là vì, dựa vào phiền não, tất cả mọi nỗi khổ đau bất tận mà chúng sanh phải đương đầu trong suốt vòng luân hồi (saṃsāra) sanh khởi chỉ nơi người chưa đoạn trừ các phiền não. Những khổ đau trong vòng luân hồi (saṃsāra) không còn khởi lên trong tâm của những người đã đoạn trừ phiền não. Giờ đây chúng ta đã hiểu rõ phiền não là sanh y ra khổ đau trong vòng sanh tử luân hồi (saṃsāra). Vì thế nó được gọi là Sanh Y (Upadhi). Trong Vô vi Niết-bàn không còn Phiền não Sanh Y (Kilesa Upadhi) nữa, không còn phiền não nữa, vì vậy gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka).

Bây giờ, Sanh y thứ tư là Thắng Hành Sanh Y (Abhisaṅkharūpadhi) bao gồm hai từ: Thắng hành (Abhisaṅkhāra) và Sanh Y (Upadhi). Từ Abhisankhāra nghĩa là tái tạo và tái phục hồi trong khi Upadhi nghĩa là Sanh Y. Ở đây, từ Thắng Hành (Abhisaṅkhāra) được nói đến các Nghiệp thiện và Nghiệp bất thiện có tiềm lực khổng lồ trong việc tạo ra sự tái sanh. Đó gọi là Sanh Y (Upadhi) bởi vì Nghiệp tạo ra khổ và tất cả vòng luân hồi (saṃsāra) bất tận của khổ khởi sanh từ nghiệp thiện và bất thiện được gọi chung là Nghiệp (Kamma). Trong Vô vi Niết-bàn không còn Thắng Hành (Abhisaṅkhāra), do đó cũng không còn quả của Nghiệp Thiện và Nghiệp bất thiện, vì thế nó gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka).

Tóm lại, bây giờ chúng ta đã hiểu được ba Pháp Viễn ly (Vivekas), tên là Thân Viễn Ly (Kāya Viveka), Tâm Viễn Ly (Citta Viveka), Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka). Chín Pháp siêu thế chỉ có thể tu tập với những người có tâm ưa thích ba Pháp Viễn Ly (Vivekas). Chín Pháp siêu thế không thể phát triển đối với người không tận tâm hay không ưa thích thực hành ba Pháp Viễn ly (Vivekas) mà chỉ ưa thích giao tiếp và sống lẫn lộn trong xã hội.

Đó là lý do tại sao Đức Phật đã nhấn mạnh phải thường xuyên quán tưởng và tự hỏi rằng liệu ta có thực sự thích sống độc cư ở nơi tịch tĩnh để phát triển tâm linh hay không.

Lợi ích của sự quán tưởng

Khi quán tưởng điều này ta sẽ có lợi ích gì?

Evam paccavekhato kāyaviveko paripūrati.

Lời dịch: Sự quán tưởng này sẽ giúp hoàn thành bước đầu của Thân Viễn Ly (Kāya Viveka).

Sự quán tưởng này sẽ luôn nhắc nhở một người đi vào sống độc cư theo đuổi hành trình phát triển tâm linh một cách rốt ráo. Một khi vị ấy bắt đầu thực hiện được bước thứ nhất – Thân Viễn Ly (Kāya Viveka), là bước đầu tiên dễ thực hiện nhất, hai bước Viễn Ly còn lại sẽ dần được phát triển vì chúng là các bước tiến có mối tương quan tuần tự. Vì thế, Đức Phật giáo huấn rằng phải thường xuyên quán tưởng điều này.

Chương 10.
Khi hấp hối trên giường bệnh

Bây giờ, đây là điều quán tưởng thứ mười phải thường xuyên thực hành:

Atthi nu kho me uttari manussadhammo alamariyañāṇadassanaviseso adhigato, yenāhaṃ pacchime kāle sabrahmacārīhi puṭṭho na maṅku bhavissāmī”ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Liệu ta đã thực sự thành tựu tri kiến siêu thế của bậc thánh hay chưa (Alamariya ñāṇadassana visesa), đã vượt qua mười loại thường giới của phàm nhân (Manussa Dhamma) hay chưa, nhờ đó ta sẽ không cảm thấy bối rối trong giây phút cuối cùng của cuộc đời khi các đồng Phạm Hạnh hỏi ta là đã đắc được một Pháp siêu thế nào chưa?”.

Vị Tỷ-khưu hay bất cứ ai đi trên con đường Phạm Hạnh, đều phải thường xuyên quán tưởng điều thứ mười này, ta đã làm được gì để phát triển tâm linh, đã thành tựu được Pháp nào chưa như bậc thiền chứng (Jhāna), Đạo (Magga), Quả (Phala) và Niết-bàn (Nibbāna). Những thành tựu này được gọi là tri kiến của bậc thánh (Alamariya ñānadassana Visesa), nó có nghĩa là một bậc Thánh đã giác ngộ. Những Trí Tuệ này là sức mạnh kỳ diệu làm thanh tịnh tâm vì nó có thể diệt trừ các phiền não.

Ta đã thành tựu được bất kỳ Pháp siêu thế nào chưa?”, vị Tỷ-khưu, với sự suy xét này, sẽ luôn thường xuyên đánh giá sự nỗ lực của bản thân.

Với sự quán tưởng này tôi sẽ có lợi lạc gì?

Giả dụ có một vị đang hấp hối trên giường bệnh, rồi những người bạn đồng tu đến hỏi vị ấy về sự thực hành đã tiến bộ thế nào? Họ có thể hỏi “Hiền giả đã thành tựu Pháp siêu thế nào để nương tựa chưa?”. Trả lời câu hỏi này với một tiếng KHÔNG thì thật là bối rối. Để tránh gặp phải tình huống này và để tạo lực đẩy cần thiết đối với việc thực hành tâm linh, vị Tỷ-khưu cần phải thường xuyên kiểm tra mình đã thành tựu được một trong Chín Pháp siêu thế (Lokuttara Dhamma) nào chưa.

Lợi ích của sự quán tưởng

Có bất kỳ lợi ích quan trọng nào từ việc quán xét này không?

Evaṃ paccavekkhantassa hi moghakālakiriyā nāma na hoti.

Chú giải Tăng Chi Kinh, q III, tr 314

Lời dịch: Khi quán tưởng điều này, sẽ không có cái chết vô nghĩa và sự lãng phí thời gian vô ích trong cuộc đời tu tập.

Vị đó có thể hiểu rõ hiện trạng tu tập của mình đã tiến bộ ở bậc siêu thế nào chưa. Vị ấy sẽ biết rằng vị ấy không có thời gian nào để lãng phí, mà sẽ dồn nỗ lực gấp đôi để thực hành rốt ráo hơn nữa nếu chưa đạt được sự tiến bộ nào hết. Vị ấy hoàn toàn nhận thức rõ giây phút cuối đời là giai đoạn không tránh khỏi trong cuộc sống giống như mặt trời mọc bị buộc sẽ phải lặn lúc hoàng hôn.

Tất cả chúng ta đều biết rằng hoàng hôn cuộc đời ta cuối cùng sẽ đến. Cùng với quá nhiều lần mặt trời lặn xuống trong cuộc đời, ta đang tiến dần tới cái chết và không bao giờ thoát khỏi nó. Với sự chánh niệm về tiến trình bất biến này, nhờ đó sẽ phát triển một ý chí và mức độ quyết tâm mạnh mẽ dành toàn bộ phần đời quý giá còn lại để tu tập nhiều hơn. Không còn thời gian để lãng phí nữa. Với thái độ và sức mạnh này, vị ấy sẽ tập trung nhiều hơn nữa cho việc phát triển Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Mỗi tiến bộ và sự phát triển trên con đường tâm linh chắc chắn sẽ dẫn đến chứng đắc các Pháp Siêu Thế mà vị ấy mong mỏi.

Đức Phật đã thấy trước những lợi lạc như thế, nên Ngài đã giáo huấn thực hành thường xuyên mười loại quán tưởng này hằng ngày. Vì thế, đây là phận sự của bất cứ ai bước vào con đường Phạm Hạnh do Đức Phật giảng dạy với mục đích diệt trừ phiền não, cố gắng nỗ lực thực hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn. Điều này sẽ dẫn đến sự tiến bộ đầy ý nghĩa trên hành trình tiến hóa tâm linh.

Kết luận

Hitvā kāme pabajjiṃsu,
Santo gambhīrasintakā
Te tumhe pya-nusikkhāvho,
Pabbajitā supesalā.

Những bậc hiền nhân và bậc thánh thâm sâu xưa kia
Với tư duy và trí tuệ, trở thành các Tỷ-kheo
Và những Đạo sĩ từ bỏ ngũ trần
Ôi cho dù cuộc sống hiện đại!
Hãy yêu quý Giới đức và
Trưởng dưỡng chúng.
Theo con đường tự do và giải thoát.

Cầu chúc cho quý vị sớm đạt được mục đích cứu cánh giải thoát giác ngộ, chứng ngộ Niết-bàn

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw

Trung Tâm Thiền Pa-Auk Tawya

Mawlamyine, tiểu bang Mon, Myanmar

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s